Khoá luận tốt nghiệp ngôn ngữ nghệ thuật trong nhật ký chiến tranh của chu cẩm phong - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỬVĂN - BT>03ca
---------

ĐỎ THỊ THU HƯƠNG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
NHẬT KÝ CHIÉN TRANH CỦA CHU
CẨM PHONG

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC


• • •

Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI - 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỬVĂN
------soEQcs-----------

ĐỎ THỊ THU HƯƠNG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
NHẬT KÝ CHIÉN TRANH CỦA CHU
CẨM PHONG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


Khóa luận Ngôn ngữ nghệ thuật trong Nhật ký chiến tranh của Chu
Cấm Phong được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Giảng viên- Thạc sĩ
Hoàng Thị Duyên. Tôi xin cam đoan: Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi
của riêng tôi. Những gì được triển khai trong khóa luận không trùng khớp với bất
cứ một công trình nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó. Neu sai
tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày ...thảng 5 năm 2015 Sinh viên


Đỗ Thị Thu Hương

LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC

3.1.
KÉT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỎ ĐÀU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Mỗi một loại hình nghệ thuật đều tồn tại những chất liệu riêng để
cấu thành nên nó. Neu như giai điệu và ca từ là chất liệu của âm nhạc,
đường nét và màu sắc làm nên hội họa thì đối với văn học, ngôn từ
chính là chất liệu chủ đạo, là phương tiện chủ yếu mang tính đặc trưng
của văn học. Văn học chính là nghệ thuật ngôn từ. Ta có thế thấy,
không có ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học bởi ngôn từ đã vật
chất hóa, cụ thể hóa sự biểu hiện của chủ đề, tư tưởng, cốt truyện,...
Với nhật ký, một thể loại mang tính chất riêng tư, đời thường, ghi chép lại

nhiều đến nội dung của các sáng tác thời kỳ này mà nó còn tác động
mạnh mẽ đến khía cạnh khai thác ngôn từ, đặc điểm từ ngữ, câu văn,
các thủ pháp sáng tạo về ngôn từ...
Năm 2000, tập nhật ký Chu cẩm Phong được NXB Văn Học xuất bản
mang tên Nhật ký chiến tranh và cuốn sách đã được Hội Nhà Văn Việt Nam trao
tặng thưởng. Ngay khi được xuất bản, cuốn nhật ký đã làm rung động hàng triệu
con tim của bạn đọc bởi vẻ đẹp tâm hồn thuần khiết, tình yêu quê hương đất nước
nồng nàn thể hiện qua những cảm nhận bình dị của một nhà văn, một người chiến
sĩ luôn gương mẫu, đi đầu trong công tác. Rất nhiều cuộc hội thảo đã được tố
chức, nhiều bài phê bình, đánh giá về Nhật ký chiến tranh xuất hiện. Tuy vậy, các
cuộc hội thảo, các bài viết, nghiên cứu mới dừng lại ở việc giới thiệu về cuốn
sách, khai thác thông tin bên lề tác phẩm, tìm hiểu cuộc đời, thân thế của Chu
cẩm Phong cũng như nghiên cứu về chiến tranh dưới góc nhìn chân thực của một
nhà văn mang áo lính...chứ chưa có một công trình nghiên cứu cụ thế nào đi sâu
tìm hiếu về nghệ thuật của thể loại văn học đặc biệt này. Những đặc trưng về
ngôn ngữ trong thể loại nhật ký nói chung và ngôn ngữ mang đặc trưng của Chu

7


cẩm Phong nói riêng vẫn chưa được nghiên cứu, đề cập và tìm hiểu một cách tỉ
mỉ.
Vì vậy, đề tài khóa luận này góp phần tìm ra một hướng đi mới trong việc
nghiên cứu về đặc trưng nghệ thuật cơ bản nhất của thế loại nhật ký chiến tranh
đó là ngôn ngữ nghệ thuật. Từ đó có một cái nhìn đầy đủ và xác đáng hon về
những đóng góp của nhà văn liệt sĩ Chu cẩm Phong đối với nền văn học nước
nhà.
2. Lịch sử nghiên cún vấn đề
2.1. Với đặc trưng thể loại “Nhật ký” là những ghi chép mang tĩnh chất
riêng tư vì thế có thể nói trước những năm 1986, sự xuất hiện của

theo dõi cuộc hành trình cùng số phận để cuốn nhật ký đến được với bạn
đọc ngày hôm nay.

-

Những bài nghiên cứu về nhật ký chiến tranh có tính chất chuyên sâu xuất
hiện rất ít: Nguồn tư liệu đáng quý qua nhật ký chiến tranh của tác giả Tôn
Phương Lan cũng là một trong những đóng góp điến hình.
Có thể nói nghiên cứu về Nhật ký chiến tranh bước đầu chỉ dừng lại ở việc

giới thiệu sách và khai thác thông tin bên lề tác phẩm, chứ chưa có một công
trình nghiên cứu cụ thể nào đi sâu vào khai thác về nghiên cứu về khía cạnh nghệ
thuật, đặc biệt về ngôn ngữ của cuốn nhật ký này. Chính vì vậy, đề tài khóa luận
của chúng tôi đã tìm một hướng đi mới trong việc nghiên cứu về Nhật ký chiến
tranh của Chu cẩm Phong, đó là khai thác khía cạnh ngôn ngữ nghệ thuật. Có thể
khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô và toàn
thể hội đồng nhận xét và cho ý kiến đóng góp để khóa luận có thể hoàn thiện
hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cún
3.1.

Mục đích nghiên cứu

9


Mục đích của khóa luận là tìm tòi, phát hiện những nét độc đáo của ngôn
ngữ trong Nhật ký chiến tranh của Chu cẩm Phong; chỉ ra những thủ pháp tiêu
biếu trong sáng tạo ngôn từ của nhà văn, tất nhiên không tách rời nó với việc thể
hiện, làm sáng tỏ giá trị nội dung của cuốn nhật ký.

cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu đối tượng theo quan điểm hệ thống
- Phương pháp so sánh hệ thống
- Phương pháp lịch sử phát sinh
- Phương pháp phân tích, tống hợp
6. Đóng góp của khóa ỉuận

10


6.1. Trên cơ sở những kiến thức lí luận cơ sở, khóa luận chỉ ra những nét
độc đáo về tổ chức ngôn ngữ trong Nhật ký chiến tranh của Chu cẩm
Phong.
6.2. Phát hiện và phân tích những thủ pháp sáng tạo ngôn ngữ trong Nhật
ký chiến tranh của Chu cấm Phong. Với những phát hiện này, khóa
luận sẽ chỉ ra được sự khác biệt và cá tính sáng tạo của nhà văn trong
việc sử dụng ngôn ngữ so với những tác phẩm của những tác giả cùng
thể loại.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, nội dung chính của
khóa luận sẽ được triển khai theo bố cục sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về ngôn ngữ nghệ thuật và loại hình
ký văn học
Chưong 2: Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong Nhật ký chiến tranh
của Chu cẩm Phong
Chương 3: Một số thủ pháp và hiệu quả biểu đạt của việc
xây dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong Nhật ký chiến tranh của
Chu cấm Phong

11

Do vậy, khi nói văn học là nghệ thuật, ta chỉ nói tới một
loại hình của nghệ thuật đó - tức là loại hình sử dụng
ngôn từ đế sáng tạo ra thế giới nghệ thuật, vì mục đích
nghệ thuật. Xét ở lĩnh vực văn chương, ngôn ngữ nghệ
thuật chính là ngôn ngữ trong tác phẩm văn học. Từ điển
thuật ngữ văn

1


học viết: “ Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học, vì vậy
văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ... Trong tácphấm, ngôn ngữ văn
học là một trong những yếu to quan trọng thế hiện cá tính sáng tạo, phong cách,
tài năng của nhà V ữ 7 2 . . . ” [ 6;215]. Ớ đây, ta cần phân biệt rõ ngôn ngữ tự nhiên và
ngôn ngữ nghệ thuật. Neu như ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống tín hiệu đầu tiên con
người dùng để diễn đạt ý nghĩ, diễn đạt tình cảm nảy sinh trong hoàn cảnh nhất
định một cách cảm tính thì ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ hai, được
phát triển từ hệ thống tín hiệu thứ nhất, có nhiệm vụ thể hiện tư tưởng của tác
phẩm. Ngôn ngữ tự nhiên có chức năng giao tiếp là chủ yếu, còn chức năng thứ
yếu là chức năng thẩm mĩ. Nhưng đối với ngôn ngữ nghệ thuật, chức năng thấm
mĩ là chức năng cơ bản nhất, quan trọng nhất. Đó là ngôn ngữ giàu tính hình
tượng nhất, được tổ chức một cách đặc biệt để phản ánh đời sống, thể hiện tư
tưởng tình cảm và tác động thẳm mĩ tới người đọc.
Ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ nhất và nổi bật nhất của ngôn
ngữ văn hóa toàn dân. Nó được hoàn thiện nhờ tài năng và khả năng sáng tạo của
nhà văn. Qua ngôn ngừ nghệ thuật, người đọc không chỉ khám phá được tu*
tưởng, quan niệm của người viết gửi gắm trong tác phẩm mà còn thấy được
phong cách cá nhân của nhà văn đó.
1.1.2.


bản của ngôn ngữ nghệ thuật, đó là: Tính chính xác, tính hình tượng, tính cấu
trúc, tính hệ thống, tính cá thể hóa.
Tính chính xác của ngôn ngữ nghệ thuật xuất phát từ một yêu cầu rất quan
trọng của văn học là nói phải phản ánh hiện thực một cách chân thực, đầy đủ như
nó vốn có. Giống như nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng nói: “Văn muốn hay
trước hết phải đúng”. Nói rõ hơn, đây chính là khả năng của ngôn ngữ văn học có
thế biểu hiện đúng điều mà nhà văn muốn nói, miêu tả đúng cái mà nhà văn muốn
biểu hiện. Tính chính xác là một đặc trưng cơ bản đầu tiên của ngôn ngữ nghệ
thuật.
Tính hình tượng là khả năng gợi lên những hình tượng nghệ thuật đưa ta
thâm nhập vào thế giới của những cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng. Tính hình tượng

14


của ngôn ngữ thể hiện ở nhiều mặt như các loại từ, các phương thức chuyển nghĩa
để soi sáng một vật này qua vật khác. Ngôn ngữ nghệ thuật không chấp nhận
những mô hình có sẵn mà tính hình tượng của nó thể hiện ở sự thống nhất giữa
mặt tạo hình và mặt biếu đạt của văn bản ngôn từ. Hai bình diện này có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau trong việc tạo thành một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo.
Ngôn ngữ nghệ thuật cũng là một cấu trúc có tính hệ thống. Trong một tác
phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh phải có mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc bề mặt và
cấu trúc bề sâu. Là sự kết hợp hữu cơ giữa văn bản ngôn từ (về mặt hình thức
biểu đạt, chất liệu), hệ thống hình tượng (thành tố trung gian gắn bó thành tố và
nội dung) và các lớp nội dung ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật (cấu trúc chiều
sâu: chủ đề tư tưởng, cảm xúc), cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề sâu có sự thống
nhất căn bản: nội dung nào thì hình thức ấy. Tính cấu trúc và tính hệ thống của
ngôn ngữ tự nhiên biếu hiện ở mối quan hệ bên trong ngôn ngữ (chủ thể lời nói
luôn luôn thống nhất) thì với ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện chủ yếu trong quan
hệ với các nhân tố ngoài ngôn ngữ (hình tượng nghệ thuật, phong cách tác giả, tác

sử dụng và phát huy các kiểu lời ấy trong quá trình sáng tạo nghệ thuật.
1.2.

Vài nét về loại hình ký văn học nói chung và thể loại nhật ký

nói riêng
1.2.1.

Khái quát về loại hình ký vẫn học

1.2.1.1.

Khái niệm chung về loại hình ký văn học

Ký là loại hình văn học có nhiều biến thể. Nghĩa gốc của chữ “ký” là ghi
chép một sự việc gì đó để không quên. Phải có chữ viết rồi mới có ghi chép, cho
nên so với các thể loại văn thơ cách luật, ký văn học xuất hiện muộn; lịch sử của
nó gắn liền với lịch sử của văn học bác học. Ớ Việt Nam, sau năm 1945, chúng ta
có cả một nền văn học ký. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và hiện thực hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để lại dấu ấn đậm nét trong ký của
Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Anh Đức, Hoàng Phủ
Ngọc Tường...
Tuy xuất hiện muộn nhưng trên thế giới cũng như ở Việt Nam, lịch sử của
ký đã trải qua nhiều giai đoạn, vận động, phát triển với rất nhiều sự đổi thay và
hàng loạt những biến thể. Từ văn học trung đại đã thấy có lục, thực lục, ngũ’ lục,

16


tạp văn, tạp lục, mạn lục, tiểu lục, tiệp bút, toái sự, mị ngữ, khảo, văn chú, truyện

17


Do “ký” là ghi chép sự việc, nên tính xác thực của việc ghi chép được xem
là đặc trưng quan trọng nhất của thể loại. Có tư liệu để chứng minh, ở các nước
xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, quan điểm thể loại về ký
được xác lập chủ yếu vào thời kì mà tư tưởng lĩ luận rất đề cao việc sáng tác văn
nghệ theo cách ghi chép sự thực đời sống. Cho nên, yêu cầu về tính xác thực của
ký càng được nhấn mạnh, gần như tuyệt đối hóa. Nó được xem là tri thức, là quan
điểm nền tảng mà khi biên soạn từ điển tra cứu phố thông hay viết sách giáo
khoa, giáo trình dùng trong nhà trường, tư duy lí thuyết phải dựa vào đó để xác
định nội hàm khái niệm.
c. Ký có cách xử riêng về khoảng cách giữa thời gian sự kiện và thời gian
trần thuật
Ký là sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào hiện thực xã hội. Đẻ tạo ra
những tác phẩm có khả năng tác động mạnh mẽ tới con người và đời sống, ký
điều chỉnh tối đa khoảng cách giữa thời gian sự kiện và thời gian trần thuật. Và để
xóa bỏ tối đa khoảng cách giữa thời gian trần thuật và thời gian sự kiện, ký văn
học sử dụng rất nhiều thủ pháp kết cấu. Có thế thường xuyên bắt gặp bốn thủ
pháp cơ bản: một: dựa vào cái đơn nhất, xác thực để xây dựng hình tượng; hai:
tôn trọng trật tự biên niên của thời gian sự kiện; ba: lược bỏ ngôn ngữ trần thuật,
sử dụng kĩ thuật “lắp ráp” điện ảnh; bon: làm nổi bật hình tượng tác giả, người
chứng kiến, tham gia.
d. Ký kết hợp linh hoạt các phương thức tự sự, trữ tình, nghị luận với những
thao tác tư duy khoa học
Tự sự là nền tảng cấu trúc của tác phẩm ký. Ký ghi chép sự việc, thuật lại
các sự kiện, biến cố. Trong ký có tả người, tả cảnh. Cho nên nhiều nhà nghiên
cứu xếp ký vào loại văn xuôi tự sự.
Tuy nhiên, là một loại hình văn học trung gian, ký thường có sự kết hợp rất
linh hoạt các phương thức chiếm lĩnh đời sống. Như đã nói, ký là sự thông tin về

riêng đều mang những nét đặc điểm chung của thể loại đồng thời lại có nét riêng
độc đáo góp phần làm nên sự phong phú của văn chương nghệ thuật.
1.2.2.1.

Các quan niệm về nhật ký

19


Theo quan niệm của Từ điến thuật ngữ văn học thì nhật ký “là một thế loại
thuộc loại hình ký”, là một dạng biến thể của ký hiện đại. So với các thể loại khác
như tiểu thuyết, thơ... thì ký xuất hiện muộn hơn, tận thế kỉ XVIII khi có sự gia
tăng chú ý đến thế giới nội tâm của con người, khi xuất hiện nhu cầu tự bộc bạch,
tự quan sát thì thế loại này mới xuất hiện ở châu Âu và phát triển cực thịnh vào
thế kỉ XIX. Ở Việt Nam, thể ký ra đời muộn, có thể lấy điểm mốc cho sự xuất
hiện thể loại này ở thời Lý - Trần với Vũ Trung tùy bút và Thượng kinh ký sự.
Cũng như ở phương Tây, thể ký ở Việt Nam cũng được coi là thế loại mở đường
dẫn tới sự phát triển rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực trong văn học nghệ thuật. Qua
nhiều giai đoạn lịch sử, ký cũng có những biến thể cho phù hợp với xu thế phát
triển của văn học. Nhật ký chính là một dạng biến thể của ký hiện đại bên cạnh
hồi ký, tùy bút, tản văn, phóng sự...
Từ điển văn học (bộ mới) định nghĩa nhật ký là “Loại văn ghi chép sinh
hoạt thường ngày. Trong văn học, nhật ký là hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất
số ít, dưới dạng những ghi chép hàng ngày có đánh số ngày tháng (...) bao giờ
cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, thể nghiệm;
nó ít hồi cố; được viết ra chỉ cho bản thân người ghi chứ không tính đến việc
được công chúng tiếp nhận”[9;1257]. Từ đỉến thuật ngữ văn học cũng coi nhật ký
là “một thể loại thuộc loại hình ký” hay “là hình thức tự sự ở ngôi thứ nhất được
thực hiện dưới dạng những ghi chép hàng ngày theo thứ tự ngày tháng về những
sự kiện của đời sống mà tác giả hay nhân vật chính là người trực tiếp tham gia


Là một biến thể của ký, nhật ký mang những nét đặc điểm chung nhất của
ký, đồng thời lại có điếm riêng biệt, làm nên sức thu hút riêng của thế loại. Với
thể ký - thể loại được coi là “sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào đời sống xã
hội” với đặc điểm nổi bật là ghi chép sự việc, thì tính xác thực của việc ghi chép
được xem là đặc trưng quan trọng nhất của thể loại. Nhật ký cũng vậy, cho dù là
nhật ký văn học hay các loại nhật ký ngoài văn học đều coi trọng tính chân thực,
đáng tin cậy của sự kiện được ghi chép lại, vì một cuốn nhật ký trước hết chính là
sự giao lưu của người viết với chính bản thân họ, bao giờ cũng chỉ ghi lại những
gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, thể nghiệm. Với thể loại nhật ký ngoài văn học

21


thì tính xác thực là yếu tố quan trọng hàng đầu, ví dụ một cuốn nhật ký công tác
hay nhật ký khoa học đòi hỏi một sự chính xác cao, hay với nhật ký riêng tư, yếu
tố bí mật là yếu tố quan trọng vì đó là những lời bộc bạch tâm sự của chủ thể
không hướng tới mục đích quảng bá nên những gì viết ra luôn chân thực. Còn với
nhật ký văn học, để mang tính hiện đại cho những vấn đề mang ý nghĩa thì bản
thân việc ghi chép phải có sự chân thực mới thu hút được sự quan tâm của độc giả
cũng như xã hội: Ví dụ như nhật ký Ớ rùng của Nam Cao là những ghi chép chân
thực những ngày tháng gian khổ mà đầy ý nghĩa trong ngày đầu hoạt động cách
mạng của nhà văn, đó cũng là những gian khổ, khó khăn, thách thức các văn nghệ
sĩ trong việc “nhận đường”... Tác phẩm thành công bởi trong nó chứa đựng
những cảm xúc chân thành của người viết thế hiện tư tưởng, tình cảm và cái nhìn
bao quát mọi sự vật, sự việc. Hay tập Nhật ký trong tù của Nguyễn Ái Quốc đã
cho chúng ta thấy được bộ mặt tàn ác của nhà tù với những gian khố, thiếu thốn
đủ điều nhưng lại toát lên vẻ đẹp của tinh thần lạc quan yêu đời của người chiến
sĩ, thi sĩ cách mạng. Tính xác thực của nhật ký cũng có nét tương đồng với hồi ký,
tuy nhiên nếu như hồi ký có thể có yếu tố hư cấu những khi thế hiện thái độ,

nhỏ nhất và chính sự có mặt của cái tôi ấy đã góp phần quan trọng trong việc tạo
ra niềm tin của công chúng vì họ tin rằng đang được nghe kể về những sự thật mà
tác giả là người trực tiếp chứng kiến”[7]. Tuy nhiên, có những khi lời độc thoại
của tác giả hay nhân vật lại chính là một cuộc đối thoại ngầm với người khác về
con người và cuộc đời nó chung, về bản thân mình nói riêng. Hình tượng tác giả
trong nhật ký văn học là hình tượng mang tầm khái quát tư tưởng thấm mĩ lớn
lao.
Nhật ký ghi chép sự việc, suy nghĩ, cảm xúc theo ngày tháng ở thì hiện tại,
có thể liên tục nhưng cũng có thể ngắt quãng tùy vào người ghi. Neu như ở hồi ký
là sự ghi chép thời gian đã qua, thời gian quá khứ bằng cách hồi cố, hồi tưởng lại
thì nhật ký ghi chép bằng thời gian hiện tại. Có thể ngắt quãng nhưng chắc chắn

23


thời gian phải là thời gian của hiện tại, không thể ở thời điểm ghi nhật ký mà ghi
hộ cho thời điểm trước hay sau đó được.
Đặc điểm lời văn của nhật ký là sự ngắn gọn, tự nhiên bởi nó là lời nói bên
trong, là tiếng nói nội tâm về những sự việc riêng tư, những tâm sự thầm kín, ý
nghĩa thành thực, vì thế lời văn thường kết hợp linh hoạt giữa tự sự và trữ tình,
giữa ngôn ngữ đời thường và giọng văn trữ tình mượt mà.
1.2.2.3.

Đôi nét về nhật ký chiến tranh

Xuất hiện trong dòng văn học viết về đề tài chiến tranh, thể loại nhật ký
được biết đến như một điển hình về sự mới mẻ và chân thực của nó kể từ khi có
sự phát hiện và công bố hai cuốn nhật ký gây ấn tượng mạnh mẽ với đông đảo
nhân dân như Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuốỉ hai mươi và tiếp đó là Nhật
kỷ chiến tranh; Tài hoa ra trận...Đến lúc này nhật ký chiến tranh mới thực sự thu

của Tố quốc.
13. Nhật kỹ chiến tranh của Chu cấm Phong
Nhà văn, liệt sĩ Chu cẩm Phong (1941- 1971) tên thật là Trần Tiến, sinh
năm 1941 tại Hội An (Quảng Nam), cha là cán bộ chỉ huy quân sự của Hội An
thời kháng chiến chống Pháp, mẹ là cơ sở hoạt động cách mạng hoạt động bí mật
cũng tại thị xã này thời kì kháng chiến chống Mĩ. Năm 1954 Chu Cẩm Phong
theo cha tập kết ra miền Bắc học phổ thông tại các trường học sinh miền Nam và
học đại học tại khoa Ngữ văn (khóa 5) trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, được
kết nạp vào Đảng Lao Động Việt Nam năm 1963 khi đang học năm thứ ba. Tốt
nghiệp đại học vào hàng xuất sắc, được chọn đi làm nghiên cứu sinh ở nước
ngoài, nhưng Chu cẩm Phong đã không chọn con đường ấy mà xin về Nam chiến
đấu cuối năm 1964, thời gian đầu làm phóng viên TTXVN sau đó chuyển sang
làm phóng viên, biên tập viên tạp chí VĂN NGHỆ GIẢI PHÓNG TRƯNG
TRUNG BỘ (Khu Năm), bí thư chi bộ tiểu ban văn nghệ Ban tuyên huấn Khu
Năm. Trong công tác cũng như trong đời sống hàng ngày, ở đâu làm gì Chu cấm
Phong cũng luôn là một Đảng viên gương mẫu. Ngày 1 tháng 5 năm 1971, Chu
cẩm Phong đã anh dũng hi sinh, để lại tấm gương ngời sáng của một nhà báo, nhà

25


Trích đoạn Sử dụng linh hoạt và độc đáo nhiều lớp từ vụng Cấu trúc câu đa dạng gọi cảm Nhũng câu văn trần thuật chứa đụng nhiều thông tín Sử dụng linh hoạt các loại câu kế, câu tả và câu cảm thán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status