Ngôn ngữ nghệ thuật trong nhật ký chiến tranh của chu cẩm phong (KL07159) - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------------

ĐỖ THỊ THU HƢƠNG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG NHẬT KÝ CHIẾN TRANH
CỦA CHU CẨM PHONG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI - 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------------

ĐỖ THỊ THU HƢƠNG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG NHẬT KÝ CHIẾN TRANH
CỦA CHU CẨM PHONG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. Hoàng Thị Duyên


bố trước đó. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày…tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Đỗ Thị Thu Hương

ii


M C

C

MỞ ĐẦU................................................................................................. 1
1.

do chọn đề tài......................................................................... 1

2. ịch sử vấn đề ............................................................................. 3
3. Nhiệm v nghiên cứu ................................................................... 4
4. ối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................. 5
5. hương ph p nghiên cứu .............................................................. 5
6.

óng góp của khóa luận .............................................................. 5

7. ố c c khóa luận ......................................................................... 5
NỘI DUNG
CHƢƠNG

2.4. Ngôn ngữ mang tính quy ước ẩn d ...........................................35
CHƢƠNG 3 MỘT SỐ THỦ PHÁP XÂY DỰNG NGÔN NGỮ
NGHỆ THUẬT TRONG NHẬT KÝ CHIẾN TRANH CỦA
CHU CẨM PHONG ............................................................................. 39
3.1. Sử d ng linh hoạt và độc đ o nhiều lớp từ vựng .......................39
3.2. Cấu trúc câu đa dạng gợi cảm ...................................................32
3.3. Những câu văn trần thuật chứa đựng nhiều thông tin .................44
3.4. Sử d ng linh hoạt c c loại câu kể, câu tả và câu cảm th n ..........46
KẾT UẬN
TÀI IỆU THAM KHẢO

iv


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1.

Mỗi một loại hình nghệ thuật đều tồn tại những chất liệu riêng để

cấu thành nên nó. Nếu như giai điệu và ca từ là chất liệu của âm nhạc, đường
nét và màu sắc làm nên hội họa thì đối với văn học, ngôn từ chính là chất liệu
chủ đạo, là phương tiện chủ yếu mang tính đặc trưng của văn học. Văn học
chính là nghệ thuật ngôn từ. Ta có thể thấy, không có ngôn ngữ thì không có
tác phẩm văn học bởi ngôn từ đã vật chất hóa, c thể hóa sự biểu hiện của chủ
đề, tư tưởng, cốt truyện,…
Với nhật ký, một thể loại mang tính chất riêng tư, đời thường, ghi chép
lại những sự việc, suy nghĩ, cảm xúc cá nhân bằng những câu chữ thì ngôn từ
lại càng đóng một vai trò quan trọng, góp phần phân biệt nhật ký với các thể
loại văn học khác và tạo nên diện mạo của thể loại. Chính vì vậy, khi khám

cầm súng (1965) của Nguyễn Thi…Khuynh hướng sử thi không chỉ ảnh
hưởng nhiều đến nội dung của các sáng tác thời kỳ này mà nó còn t c động
mạnh mẽ đến khía cạnh khai thác ngôn từ, đặc điểm từ ngữ, câu văn, c c thủ
pháp sáng tạo về ngôn từ…
Năm 2000, tập nhật ký Chu Cẩm hong được NX Văn Học xuất bản
mang tên Nhật ký chiến tranh và cuốn s ch đã được Hội Nhà Văn Việt Nam
trao tặng thưởng. Ngay khi được xuất bản, cuốn nhật k đã làm rung động
hàng triệu con tim của bạn đọc bởi vẻ đẹp tâm hồn thuần khiết, tình yêu quê
hương đất nước nồng nàn thể hiện qua những cảm nhận bình dị của một nhà
văn, một người chiến sĩ luôn gương mẫu, đi đầu trong công t c. Rất nhiều
cuộc hội thảo đã được tổ chức, nhiều bài phê bình, đ nh gi về Nhật ký chiến
tranh xuất hiện. Tuy vậy, c c cuộc hội thảo, c c bài viết, nghiên cứu mới
dừng lại ở việc giới thiệu về cuốn sách, khai thác thông tin bên lề tác phẩm,
tìm hiểu cuộc đời, thân thế của Chu Cẩm hong cũng như nghiên cứu về
chiến tranh dưới góc nhìn chân thực của một nhà văn mang o lính…chứ
chưa có một công trình nghiên cứu c thể nào đi sâu tìm hiểu về nghệ thuật
của thể loại văn học đặc biệt này. Những đặc trưng về ngôn ngữ trong thể loại
nhật ký nói chung và ngôn ngữ mang đặc trưng của Chu Cẩm Phong nói riêng
vẫn chưa được nghiên cứu, đề cập và tìm hiểu một cách tỉ mỉ.
Vì vậy, đề tài khóa luận này góp phần tìm ra một hướng đi mới trong
việc nghiên cứu về đặc trưng nghệ thuật cơ bản nhất của thể loại nhật ký

2


chiến tranh đó là ngôn ngữ nghệ thuật. Từ đó có một c i nhìn đầy đủ và xác
đ ng hơn về những đóng góp của nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm hong đối với nền
văn học nước nhà.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Với đặc trưng thể loại “Nhật ký” là những ghi chép mang tính chất

xuất hiện rất ít: Nguồn tư liệu đ ng qu qua nhật ký chiến tranh của tác giả
Tôn hương an cũng là một trong những đóng góp điển hình.
Có thể nói nghiên cứu về Nhật ký chiến tranh bước đầu chỉ dừng lại ở
việc giới thiệu sách và khai thác thông tin bên lề tác phẩm, chứ chưa có một
công trình nghiên cứu c thể nào đi sâu vào khai th c về nghiên cứu về khía
cạnh nghệ thuật, đặc biệt về ngôn ngữ của cuốn nhật ký này. Chính vì vậy, đề
tài khóa luận của chúng tôi đã tìm một hướng đi mới trong việc nghiên cứu về
Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm hong, đó là khai th c khía cạnh ngôn ngữ
nghệ thuật. Có thể khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong
quý thầy cô và toàn thể hội đồng nhận xét và cho ý kiến đóng góp để khóa
luận có thể hoàn thiện hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
M c đích của khóa luận là tìm tòi, phát hiện những nét độc đ o của
ngôn ngữ trong Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong; chỉ ra những thủ
pháp tiêu biểu trong sáng tạo ngôn từ của nhà văn, tất nhiên không tách rời nó
với việc thể hiện, làm sáng tỏ giá trị nội dung của cuốn nhật ký.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Xuất phát từ việc nắm vững những kiến thức về ngôn ngữ trong
văn học nói chung và ngôn ngữ trong thể ký, nhật ký nói riêng, khóa luận có
nhiệm v chỉ ra những đặc điểm cơ bản về ngôn ngữ trong cuốn Nhật ký chiến
tranh của Chu Cẩm Phong.

4


3.2.2. Khóa luận đi sâu ph t hiện những sáng tạo độc đ o về ngôn ngữ
của nhà văn và hiệu quả nghệ thuật của những sáng tạo đó trong khi thể hiện
nội dung tác phẩm.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

ngôn ngữ so với những tác phẩm của những tác giả cùng thể loại.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư m c tham khảo, nội dung chính
của khóa luận sẽ được triển khai theo bố c c sau:

5


Chƣơng : Những vấn đề chung về ngôn ngữ nghệ thuật và loại
hình ký văn học
Chƣơng 2: Đặc trƣng ngôn ngữ nghệ thuật trong Nhật ký chiến
tranh của Chu Cẩm Phong
Chƣơng 3: Một số thủ pháp và hiệu quả biểu đạt của việc xây dựng
ngôn ngữ nghệ thuật trong Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong

6


NỘI DUNG
CHƢƠNG
NHỮNG VẤN Đ CHUNG V NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
VÀ LOẠI HÌNH KÝ VĂN HỌC

1.1. Vài nét về ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1. Quan niệm về ngôn ngữ nghệ thuật
Từ trước đến nay, ngôn ngữ được coi là một phương tiện giao tiếp
trọng yếu và quan trọng nhất của loài người. Nhờ có ngôn ngữ mà con người
truyền đạt được những suy nghĩ, tư tưởng, m c đích,

định với nhau để có

sinh trong hoàn cảnh nhất định một cách cảm tính thì ngôn ngữ nghệ thuật là
hệ thống tín hiệu thứ hai, được phát triển từ hệ thống tín hiệu thứ nhất, có
nhiệm v thể hiện tư tưởng của tác phẩm. Ngôn ngữ tự nhiên có chức năng
giao tiếp là chủ yếu, còn chức năng thứ yếu là chức năng thẩm mĩ. Nhưng đối
với ngôn ngữ nghệ thuật, chức năng thẩm mĩ là chức năng cơ bản nhất, quan
trọng nhất.

ó là ngôn ngữ giàu tính hình tượng nhất, được tổ chức một cách

đặc biệt để phản nh đời sống, thể hiện tư tưởng tình cảm và t c động thẩm
mĩ tới người đọc.
Ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ nhất và nổi bật nhất của ngôn
ngữ văn hóa toàn dân. Nó được hoàn thiện nhờ tài năng và khả năng s ng tạo
của nhà văn. Qua ngôn ngừ nghệ thuật, người đọc không chỉ kh m ph được
tư tưởng, quan niệm của người viết gửi gắm trong tác phẩm mà còn thấy được
phong cách cá nhân của nhà văn đó.
1.1.2. Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật
Bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi thông tin mà ngôn ngữ ra đời, bắt nguồn
từ nhu cầu thưởng thức c i hay, c i đẹp mà văn học ra đời. Văn học sử d ng
ngôn ngữ nhưng văn học và ngôn ngữ là hai loại hình ký hiệu khác nhau, do
đó không thể suy trực tiếp đặc điểm của ngôn từ nghệ thuật từ đặc điểm của
ngôn ngữ thông thường. Mà đây là điều nhầm lẫn rất phổ biến. Ngôn từ văn
học là một hiện tượng nghệ thuật do nghệ sĩ s ng tạo theo quy luật chung của

8


nghệ thuật. Văn bản nghệ thuật phải truyền đạt một

nghĩa mà không một

quan trọng của văn học là nói phải phản ánh hiện thực một cách chân thực,
đầy đủ như nó vốn có. Giống như nhà b c học ê Qu

ôn đã từng nói: “Văn

muốn hay trước hết phải đúng”. Nói rõ hơn, đây chính là khả năng của ngôn
ngữ văn học có thể biểu hiện đúng điều mà nhà văn muốn nói, miêu tả đúng
c i mà nhà văn muốn biểu hiện. Tính chính xác là một đặc trưng cơ bản đầu
tiên của ngôn ngữ nghệ thuật.

9


Tính hình tượng là khả năng gợi lên những hình tượng nghệ thuật đưa
ta thâm nhập vào thế giới của những cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng. Tính hình
tượng của ngôn ngữ thể hiện ở nhiều mặt như c c loại từ, c c phương thức
chuyển nghĩa để soi sáng một vật này qua vật khác. Ngôn ngữ nghệ thuật
không chấp nhận những mô hình có sẵn mà tính hình tượng của nó thể hiện ở
sự thống nhất giữa mặt tạo hình và mặt biểu đạt của văn bản ngôn từ. Hai
bình diện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong việc tạo thành một tác
phẩm nghệ thuật hoàn hảo.
Ngôn ngữ nghệ thuật cũng là một cấu trúc có tính hệ thống. Trong một
tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh phải có mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc bề
mặt và cấu trúc bề sâu. Là sự kết hợp hữu cơ giữa văn bản ngôn từ (về mặt
hình thức biểu đạt, chất liệu), hệ thống hình tượng (thành tố trung gian gắn bó
thành tố và nội dung) và các lớp nội dung

nghĩa của tác phẩm nghệ thuật

(cấu trúc chiều sâu: chủ đề tư tưởng, cảm xúc), cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề

luận trữ tình, các kiểu lời trung gian như lời nửa trực tiếp, sự đan xen c c kiểu
lời. Tùy thuộc vào các chức năng của mỗi kiểu lời và khả năng vận d ng của
mình mỗi nhà văn lại sử d ng và phát huy các kiểu lời ấy trong quá trình sáng
tạo nghệ thuật.
2 Vài nét về loại hình ký văn học nói chung và thể loại nhật ký nói
riêng
1.2.1. Khái quát về loại hình ký văn học
1.2.1.1. Khái niệm chung về loại hình ký văn học
Ký là loại hình văn học có nhiều biến thể. Nghĩa gốc của chữ “ký” là
ghi chép một sự việc gì đó để không quên. hải có chữ viết rồi mới có ghi
chép, cho nên so với c c thể loại văn thơ c ch luật, ký văn học xuất hiện
muộn; lịch sử của nó gắn liền với lịch sử của văn học b c học. Ở Việt Nam,
sau năm 1945, chúng ta có cả một nền văn học ký. Công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và hiện thực hai cuộc kh ng chiến chống h p và chống Mỹ để

11


lại dấu ấn đậm nét trong ký của Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Tuân,
Nguyễn Khải, Anh

ức, Hoàng hủ Ngọc Tường…

Tuy xuất hiện muộn nhưng trên thế giới cũng như ở Việt Nam, lịch sử
của ký đã trải qua nhiều giai đoạn, vận động, phát triển với rất nhiều sự đổi
thay và hàng loạt những biến thể. Từ văn học trung đại đã thấy có l c, thực
l c, ngữ l c, tạp văn, tạp l c, mạn l c, tiểu l c, tiệp bút, to i sự, mị ngữ, khảo,
văn chú, truyện ký, sử ký, ký sự, tùy bút. ước sang thời hiện đại lại thấy có
du ký, nhật ký, hồi ký, phóng sự, tản văn, ký chính luận, tiểu luận…
1.2.1.2. Đặc trưng chung của loại hình ký văn học



như thế. Những bài ký nảy lửa như Tiếng đất của Hoàng Hữu Cát, Người đàn
bà quỳ của Trần Khắc, Cái đêm hôm ấy đêm gì? của Phùng Gia Lộc… đã góp
phần vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước.
b. Ký là sự thông tin về sự thực của các giá trị nhân sinh
Do “k ” là ghi chép sự việc, nên tính xác thực của việc ghi chép được
xem là đặc trưng quan trọng nhất của thể loại. Có tư liệu để chứng minh, ở
c c nước xã hội chủ nghĩa như iên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, quan điểm
thể loại về ký được xác lập chủ yếu vào thời kì mà tư tưởng lí luận rất đề cao
việc s ng t c văn nghệ theo cách ghi chép sự thực đời sống. Cho nên, yêu cầu
về tính xác thực của ký càng được nhấn mạnh, gần như tuyệt đối hóa. Nó
được xem là tri thức, là quan điểm nền tảng mà khi biên soạn từ điển tra cứu
phổ thông hay viết s ch gi o khoa, gi o trình dùng trong nhà trường, tư duy lí
thuyết phải dựa vào đó để x c định nội hàm khái niệm.
c. Ký có cách xử riêng về khoảng cách giữa thời gian sự kiện và thời
gian trần thuật
Ký là sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào hiện thực xã hội.

ể tạo ra

những tác phẩm có khả năng t c động mạnh mẽ tới con người và đời sống, ký
điều chỉnh tối đa khoảng cách giữa thời gian sự kiện và thời gian trần thuật.
Và để xóa bỏ tối đa khoảng cách giữa thời gian trần thuật và thời gian sự kiện,
ký văn học sử d ng rất nhiều thủ pháp kết cấu. Có thể thường xuyên bắt gặp
bốn thủ ph p cơ bản: một: dựa vào c i đơn nhất, xác thực để xây dựng hình
tượng; hai: tôn trọng trật tự biên niên của thời gian sự kiện; ba: lược bỏ ngôn
ngữ trần thuật, sử d ng kĩ thuật “lắp r p” điện ảnh; bốn: làm nổi bật hình
tượng tác giả, người chứng kiến, tham gia.



14


loại “tự sự dài hơi” với dung lượng lớn về nhân vật, cốt truyện, phạm vi phản
ánh thì truyện ngắn lại là những lát cắt của cuộc sống; với thơ lại nồng nàn
say đắm tâm hồn người với nhiều cung bậc cảm xúc đi kèm hình ảnh, nhạc
điệu…

ặc biệt hơn, nhật ký xuất hiện đã khẳng định vị trí trong lòng độc giả

với những hấp dẫn riêng của nó về giọng điệu tâm tình, tiếng nói bên trong,
tiếng nói của tư tưởng tình cảm, sự bộc lộ chân thành và sâu lắng nhất cảm
xúc suy nghĩ trong tâm hồn người viết.
Nằm trong loại thể ký, nhật ký nói chung và nhật ký viết về chiến tranh
nói riêng đều mang những nét đặc điểm chung của thể loại đồng thời lại có
nét riêng độc đ o góp phần làm nên sự phong phú của văn chương nghệ thuật.
1.2.2.1. Các quan niệm về nhật ký
Theo quan niệm của Từ điển thuật ngữ văn học thì nhật ký “là một thể
loại thuộc loại hình ký”, là một dạng biến thể của ký hiện đại. So với các thể
loại kh c như tiểu thuyết, thơ… thì ký xuất hiện muộn hơn, tận thế kỉ XVIII
khi có sự gia tăng chú

đến thế giới nội tâm của con người, khi xuất hiện nhu

cầu tự bộc bạch, tự quan sát thì thể loại này mới xuất hiện ở châu Âu và phát
triển cực thịnh vào thế kỉ XIX. Ở Việt Nam, thể ký ra đời muộn, có thể lấy
điểm mốc cho sự xuất hiện thể loại này ở thời Lý – Trần với Vũ Trung tùy bút
và Thượng kinh ký sự. Cũng như ở phương Tây, thể ký ở Việt Nam cũng được
coi là thể loại mở đường dẫn tới sự phát triển rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực


nghĩa xã hội rộng lớn,

nghĩa nhân bản… Vì thế, nhật ký ngoài văn học

thường không thu hút được sự quan tâm của đông đảo người tiếp nhận cũng
như giới nghiên cứu văn học, không có tầm ảnh hưởng lớn. Còn nhật ký văn
học thường hướng tới các chủ đề nhất định và có sự ưu tiên chú đến thế giới
nội tâm của tác giả hoặc của các nhân vật trước nhứng sự kiện lớn có

nghĩa

không chỉ với cá nhân mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội; nhật ký văn
học được viết ra nhằm hướng tới đông đảo công chúng. Bên cạnh đó có
những cuốn nhật ký riêng tư viết không nhằm làm văn, không hướng tới đông
đảo công chúng và không chủ định xây dựng hình tượng văn học, song một

16


khi nó “thể hiện được một thế giới tâm hồn, khi qua những sự việc và tâm
tình cá nhân, tác giả giúp người đọc nhìn thấy những vấn đề xã hội trọng đại”
thì nó đã mang trong mình phẩm chất văn học.
1.2.2.2. Đặc điểm của thể loại nhật ký
Là một biến thể của ký, nhật ký mang những nét đặc điểm chung nhất
của ký, đồng thời lại có điểm riêng biệt, làm nên sức thu hút riêng của thể
loại. Với thể ký – thể loại được coi là “sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào
đời sống xã hội” với đặc điểm nổi bật là ghi chép sự việc, thì tính xác thực
của việc ghi chép được xem là đặc trưng quan trọng nhất của thể loại. Nhật ký
cũng vậy, cho dù là nhật ký văn học hay các loại nhật ký ngoài văn học đều

hư cấu những khi thể hiện th i độ, những sự việc mà nhân vật trải nghiệm
nhằm làm nổi bật hơn chủ đề của tác phẩm thì với nhật ký, yêu cầu về tính
xác thực rất khắt khe. Vì hư cấu trong nhật ký là điều tối kị. Người viết nhật
ký không được phép hư cấu thêm tình tiết. Hư cấu ở nhật ký chẳng khác với
sự phản bội chính bản thân mình, lừa dối chính mình.
Nhật ký chính là lời tâm sự, bộc bạch của tác giả hay nhân vật những
lúc cô đơn, muốn tự chiêm nghiệm lại những gì đã xảy ra. Vì thế, có thể nói,
nhật ký chính là thể loại mang tính chất riêng tư, chân thật và rất đời thường.
“Với tư c ch là những ghi chép cá nhân, trong nhật ký, người viết có thể tự do
trình bày suy nghĩ, quan điểm, tình cảm và th i độ trước một sự thật” [7].
Riêng tư chính là lí do tồn tại của nhật ký, là yếu tố hấp dẫn của thể loại văn
học đặc biệt này, vì nó liên quan đến những tâm tư, tình cảm, bí mật của cá
nhân, đặc biệt là những nhân vật được xã hội quan tâm. Trong Mãi mãi tuổi
hai mươi, Nguyễn Văn Thạc đã quan niệm về việc ghi nhật ký: “Nếu như
người viết nhật ký là viết cho mình, cho riêng mình thì đọc cuốn nhật ký đó sẽ
chân thực nhất, sẽ bề bộn và sầm uất nhất. Người ta sẽ mạnh dạn ghi cả vào
đấy những suy nghĩ tồi tệ nhất mà thực sự họ có. Nhưng nếu nhật ký mà có
thể có người xem nữa thì nó sẽ khác và khác nhiều – họ không dám nói sự
thật, nói đúng bản chất sự kiện xảy ra trong ngày, không dám nói hết và đúng
những suy nghĩ đã nảy nở và thai nghén trong lòng họ. Mà đó chính là điều
tối kị khi viết nhật ký. Nó sẽ dạy cho người viết tự lừa dối ngòi bút của mình,
tự lừa dối lương tâm của mình” [24;225].
Nhật ký là thể loại độc thoại, tự mình nói với mình, vì thế chúng ta luôn
thấy tác giả hay nhân vật luôn giữ ngôi thứ nhất. Nếu trong các thể loại như

18


phóng sự, tùy bút, bút ký… trung tâm thông tin không phải là tác giả mà là
các vấn đề xã hội thì ở nhật ký văn học người viết luôn là trung tâm. So với




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status