Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết gia đình của khái hưng - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-------------¤-------------

ĐỖ THỊ HẰNG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT GIA ĐÌNH
CỦA KHÁI HƯNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khóa luận
TS. THÀNH ĐỨC BẢO THẮNG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của TS.
Thành Đức Bảo Thắng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu
sắc tới thầy.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong tổ Văn học
Việt Nam cùng các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn – trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn
thành khóa luận.

Hà Nội, ngày 23 tháng 04 năm 2015
Sinh viên


1.3 . Khái Hưng và vị trí của Khái Hưng trong Tự lực văn đoàn ............ 8
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Khái Hưng ..................... 8
1.3.1.1 Cuộc đời ................................................................................. 9
1.3.1.2 Sự nghiệp sáng tác.................................................................. 11
1.3.2 Vị trí của Khái Hưng trong Tự lực văn đoàn .......................... 13
1.4 . Giới thiệu về tiểu thuyết Gia đình ...................................................... 14
CHƯƠNG 2: NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT, ĐỐI THOẠI VÀ ĐỘC
THOẠI NỘI TÂM
2.1 Ngôn ngữ trần thuật ............................................................................. 16
2.1.1 Ngôn ngữ trần thuật linh hoạt ................................................. 18
2.1.2 Ngôn ngữ trần thuật kết hợp giữa kể, tả và bình luận ............. 20
2.2 Ngôn ngữ đối thoại ............................................................................... 25


2.2.1 Ngôn ngữ đối thoại giàu kịch tính ........................................... 26
2.2.2 Ngôn ngữ đối thoại hướng tới khai thác nội tâm nhân vật...... 30
2.3 Ngôn ngữ độc thoại ............................................................................... 36
KẾT LUẬN ................................................................................................. 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Khái Hưng là một nhà văn lớn, một nhà tiểu thuyết tài ba, một trong
những cây bút chủ đạo của nhóm Tự lực văn đoàn. Với số lượng tác phẩm và
thể loại đa dạng như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, khảo cứu, phê bình…
trong bất kì thể loại nào ông cũng đạt được những thành công nhất định. Ông
đặc biệt thành công ở mảng tiểu thuyết và đã góp phần không nhỏ vào tiến
trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1932-1945. Tìm hiểu tiểu
thuyết của Khái Hưng mang lại rất nhiều ý nghĩa.

thiệu sách của Nhất Linh, Trương Tửu, Trần Thanh Mại, Mai Xuân Nhàn,
Đức Phiên… đăng trên các báo Loa, Nhật tân, Sông Hương, Ngọ báo… Ngoài
ra còn có các công trình nghiên cứu của Trương Chính – Dưới mắt tôi (1939),
Nhà văn hiện đại (1942) – Vũ Ngọc Phan… Ông được tôn vinh là nhà tiểu
thuyết có tài, một văn sĩ mở đầu cho kỉ nguyên văn nghệ mới, nhiều cuốn tiểu
thuyết của nhà văn được đánh giá rất cao, Nguyễn Cung Giữ cũng khen ngợi:
“ Ông Khái Hưng viết văn giản dị…”. Tiểu thuyết của Khái Hưng được đánh
giá vừa có nội dung tư tưởng tiến bộ, vừa có những cách tân về mặt nghệ
thuật. Vũ Ngọc Phan khen ngợi khả năng quan sát miêu tả tâm lí của tác giả:
“Sự quan sát của ông rất chu đáo, người đọc có thể tin những người và việc
dưới ngòi bút của ông đều thật cả” [15, 31]. Hay ngôn ngữ nghệ thuật: “Trống
mái tuy không thiết thực nhưng ai đã đọc cũng phải chú ý đến lời văn trác
tuyệt và bát ngát của Khái Hưng” [15,16].
Trong tác phẩm Dưới mắt tôi (1939), Trương Chính đánh giá cao tác
phẩm Gia đình: “Ông Khái Hưng tác giả của Gia đình khác hẳn với ông Khái
Hưng của Hồn bướm mơ tiên hoặc Trống mái… không còn những câu văn
bóng bẩy, nhẹ nhàng vì quá chau chuốt những cảnh tình tự nên thơ, không có
hững tình tiết cao thượng, ở đây con người với tất cả cái nhỏ nhen tinh quái
của con người….Nghệ thuật của Khái Hưng mỗi ngày được lão luyện trông

2


thấy: “Gia đình có thể xem là tác phẩm không tì vết.” [11, 500-501]. Nhà
nghiên cứu đã khẳng định sự phát trển trong ngôn ngữ nghệ thuật ở tác phẩm
này: ngôn ngữ ngày càng gần với cuộc sống.
Ngoài ra còn có một số cuốn sách viết về Khái Hưng như Khái Hưng
thân thế và tác gia, Khảo luận về Khái Hưng nhưng vẫn còn viết khá sơ lược
và ở mảng tiểu thuyết thì chỉ nhắc tới hai tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên và
Nửa chừng xuân.

mình, ông cho rằng: “Khái Hưng đã tạo cho tác phẩm Gia đình không khí chân
thực, Gia đình là một trong những tác phẩm tiêu biểu và vẫn được xem là một
cuốn sách mang đậm nét phong cách. Bộc lộ rõ khuynh hướng xã hội và nghệ
thuật của tác giả, cây bút tiểu thuyết xuất sắc của Tự lực văn đoàn.” [1,9]
Trong luận án tiến sĩ Tiểu thuyết của Khái Hưng của Ngô Văn Thư có
nhắc tới vấn đề ngôn ngữ trong các tiểu thuyết của Khái Hưng. Tuy nhiên, tác
giả chỉ chú ý tới quá trình tiến bộ về ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Khái
Hưng, chưa đi sâu cụ thể vào tiểu thuyết Gia đình.
Các công trình nghiên cứu như Khái Hưng nhà tiểu thuyết xuất sắc của
Tự lực văn đoàn do Phương Liên tuyển chọn và biên soạn, Khái Hưng nhà
tiểu thuyết của Vũ Gia… có nghiên cứu tới nghệ thuật ngôn ngữ trong tiểu
thuyết của Khái Hưng nhưng chỉ tập trung ở các tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên,
Nửa chừng xuân, Thừa tự, Băn khoăn mà ít nhắc tới tiểu thuyết Gia đình.
Tuy chưa có một tài liệu cụ thể nào nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ
trong tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng song những thành tựu nghiên cứu
của người đi trước là những tài liệu quý giá, gợi mở cho chúng tôi thực hiện
đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
- Chỉ ra ngôn ngữ nghệ thuật mà Khái Hưng đã sử dụng trong tiểu
thuyết Gia đình.

4


- Từ đó thấy đước cái hay của tác phẩm, tài năng của tác giả và những
đóng góp quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chú ý đi sâu vào khai thác nghệ thuật ngôn ngữ trong tiểu thuyết Gia
đình của Khái Hưng.
3.2 Phạm vi nghiên cứu

“Lời văn nghệ thuật là dạng phát ngôn được tổ chức một cách nghệ
thuật tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ
nghệ thuật của các tác phẩm văn học”.
“Ngôn ngữ văn học là thuật ngữ dùng để chỉ một cách bao quát các
hiện tượng ngôn ngữ được dùng một cách chuẩn mực trong các văn bản nhà
nước, trên báo chí, đài phát thanh, trong văn hoá, văn học và khoa học”.
Sự khác nhau giữa các khái niệm chỉ mang tính chất tương đối, chúng
có những điểm giống nhau cơ bản, nên trong nhiều trường hợp thường dùng
thay thế cho nhau để chỉ dạng ngôn ngữ đã được cụ thể hoá trong các tác
phẩm văn học.
1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ trong tiểu thuyết
Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng của nghệ thuật tiểu thuyết, bởi yậy khi
khảo sát tiểu thuyết chúng ta không thể bỏ qua những thành tựu về sử dụng
ngôn ngữ của nó.Về phương diện này, Khái Hưng có những thành công rõ rệt,
ông đã có đóng góp to lớn trong quá trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam.

6


1.2. Vài nét về lịch sử và sự ra đời của Tự lực văn đoàn
Năm 1958, Pháp xâm lược nước ta, chúng thi hành các chính sách khai
thác thuộc địa dã man khiến cho cuộc sống của nhân dân trở nên vô cùng khổ
cực. Bên cạnh đó, các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục khiến cho tình hình đất
nước trở nên hỗn loạn. Sau hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp tình hình xã
hội Việt Nam có nhiều chuyển biến, các thành thị, trung tâm kinh tế, văn hóa
xuất hiện. Kèm theo đó là sự ra đời của các giai cấp tầng lớp mới trong xã hội
như: tư sản, tiểu tư sản, công nhân... Đặc biệt là sự xuất hiện của tầng lớp tiểu
tư sản đã mở ra một thời kì mới cho nền văn hóa dân tộc.
Song song với sự phát triển và thay đổi của xã hội văn hóa, văn học
cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ. Qua tầng lớp tiểu tư sản các trào lưu văn

1.3.1.1. Cuộc đời
Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư sinh năm 1896 tại làng Cổ Am,
huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Thân sinh là cụ Trần Mỹ, Tuần Phủ Phú
Thọ. Cụ Trần Mỹ có tới năm người vợ nên gia đình rất đông con. Khái Hưng
là con của bà vợ cả, ông có người anh trai tên là Trần Xuân, em trai là Trần
Tử và Trần Tiêu (tức nhà văn Trần Tiêu). Ông là con rể Tổng đốc Bắc Ninh
Lê Văn Đính. Vợ ông là một người đàn bà rất đảm đang, dù có một người
chồng theo tôn tâm học vẫn giữ tư cách con nhà Nho phong với bộ răng đen
rất cổ kính.
Khái Hưng rất say mê sáng tác và thường viết vào ban đêm. Trần
Khánh Triệu kể: “Mỗi nhà văn thường có những thói quen khi sáng tác, ba tôi
cũng vậy. Viết bài phải viết vào lúc sáng sớm hay đợi lúc khuya về. Ngồi ung
dung trên chiếc ghế mây, trời lạnh xếp bằng luôn lên ghế ba tôi ngâm nga vài
câu chèo cổ hay trống quân, điếu thuốc ngậm trên môi thỉnh thoảng lại nhả
khói tròn lên trần”.[10,53]
Khi dạy học, Khái Hưng là người thông minh, tính tình khoáng đạt, hay
bông đùa. “Học trò của ông đều công nhận ông là một giáo sư thông minh, có

8


một kiểu nói rất có duyên, pha lẫn một đôi chút hoài nghi gần như của Anatile
France” [10,53].
Trong cuộc sống gia đình, nhà văn có một tình cảm thật đáng trân
trọng: “Với mẹ tôi, ba tôi không bao giờ làm cho người phật ý. Sống với nhau
trong bao nhiêu năm trời không con cái gì, chỉ có tôi là đứa con nuôi, ba tôi
năm nào cũng nhớ về hôn lễ của hia người, tặng mẹ tôi khi thì cái áo, khi thì
chỉ một nhành hoa ngắt ngoài vườn. Những lần như vậy mẹ tôi lại ôm lấy tôi
ứa nước mắt vì sung sướng” [10, 53].
Khi còn nhỏ, Khái Hưng theo học Nho tới năm 12 tuổi rồi chuyển sang

văn cùng quan niệm với tôi về xã hội hiện thời”. Cùng với Nhất Linh, Khái
Hưng đã tham gia biên tập báo Phong Hóa, sáng lập Tự lực văn đoàn và trở
thành cây bút chủ lực của văn đoàn.
Ngày 22-9-1932, Nguyễn Trường Tam đứng ra chủ trương tờ Phong
Hóa của ông Phạm Hữu Ninh với tư cách là Giám đốc kiêm quản lí, Khái
Hưng được giao phó trách nhiệm về mặt tiểu thuyết của tờ Phong Hóa. Khi
mới bắt đầu Khái Hưng viết những loại đoản thiên, tiểu thuyết, truyện ngắn
nhờ lối hành văn duyên dáng và lời lẽ chính xác, với những cốt truyện mới lạ,
Khái Hưng rất được độc giả các nơi hoan nghênh nhiệt liệt. Tác phẩm đầu tay
của Khái Hưng là quyển Hồn bướm mơ tiên được Tự lực văn đoàn xuất bản vào
tháng 5-1933. Khái Hưng cũng đã viết chung với Nhất Linh rất nhiều tác phẩm.
Ngày 30-1-1936, tờ tuần báo Ngày Nay ra đời Khái Hưng đã góp phần
xây dựng đắc lực cho tờ tuần báo này.
Khái Hưng tiếp tục làm báo, viết văn cho đến đến đầu những năm
1940, do những biến chuyển của thời cuộc, một số người trong nhóm Tự lực
văn đoàn chuyển sang hoạt động chính trị. Năm 1939, cũng như hầu hết các
nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn, Khái Hưng ngưng việc hoạt động văn
nghệ để quay sang hoạt động chính trị.

10


Năm 1941, Khái Hưng cùng với Hoàng Đạo bị Pháp bắt tại Hà Nội, sau
đó bị giam tại lao xá Vu Bản thuộc châu Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tới năm
1943, Khái Hưng bị giải về quản thúc tại Hà Nội.
Sau ngày Nhật lật Pháp ở Việt Nam, các đại diện văn hóa Nhật ở Đông
Dương cho ra tờ báo hàng ngày lấy tên Bình Minh nhờ Khái Hưng đứng ra
nhưng Khái Hưng từ chối.
Cuộc chiến tranh Việt - Pháp nổ ra, Khái Hưng bỏ Hà Nội về quê vợ ở
Nam Định và mất năm 1947 tại huyện Xuân Trường, Nam Định. Vợ ông mắc

Nghê thường, trong các tập truyện ngắn rải rác cũng xen vào một vài kịch
ngắn được đăng trên báo Phong hóa và Ngày nay số tác phẩm của ông có thể
lên tới hơn 30 tác phẩm. Kịch của nhà văn phần lớn là tiểu phẩm, ngắn gọn,
nhẹ nhàng, vui vẻ, nêu lên một vài sự kiện, tâm sự đáng cười, đáng quan tâm,
tuy nhiên đôi khi cũng có những tác phẩm ngụ ý sâu sắc, tinh tế, nhìn một cách
tổng thể, kịch của Khái Hưng phong phú dồi dào nhất trong Tự lực văn đoàn.
Truyện nhi đồng của Khái Hưng cũng đầy thi vị, vui vẻ, phù hợp với
tâm lý trẻ em, có thể xem, đây là những giai phẩm nho nhỏ, đáng kể trong các
tác phẩm thành công của ông.
Khái Hưng chọn nghề văn, nghề báo như là nguồn sống cao quý để
dâng hiến cho độc giả với tâm tư, tình cảm, nhận thức của văn nhân để cùng
nhau trang trải nỗi niềm: mang tâm hồn nhân bản để xây dựng cái hay, cái
đẹp, nhân cách con người, giá trị đạo đức trong từng cá nhân, gia đình và xã
hội. Khái Hưng vẫn còn khả năng cống hiến cho đời những đứa con tinh thần
đáng giá, nhưng tiếc thay ông đã từ giã cõi đời. Tuy cuộc hành trình của ông
còn dang dở nhưng tên tuổi Khái Hưng đã có chỗ đứng vững vàng trong lịch
sử Văn học Việt Nam.

12


1.3.2. Vị trí của Khái Hưng trong Tự lực văn đoàn
Khái Hưng là một cây bút sáng tác dồi dào nhất Tự lực văn đoàn. Hoạt
động báo chí và sáng tạo của Khái Hưng khá phong phú. Tác giả tham gia vào
nhiều mục trên báo Phong Hóa và Ngày Nay với vai trò nhà báo ông xuất
hiện đều đặn trên mặt báo với các đề tài: đấu tranh với cái cũ, phê bình, báo
cáo, chính trị…
Khái Hưng gắn kết với Tự lực văn đoàn rất sâu nặng, Trần Khánh Triệu
kể: “Trở về chuyện ba tôi… đối với gia đình như vậy đối với bạn bè ba tôi lại
có cảm tình nồng hậu đặc biệt “mê như mê gái, đó là lời mẹ tôi nhận xét về sự

Gia đình. Viết về loại tiểu thuyết này, Khái Hưng phải là người am hiểu
tường tận phong tục trong nước, phải quan sát kỹ lưỡng, tìm hiểu tường tận,
ông đã biến những phong tục khô khan, tẻ nhạt thành những câu chuyện lôi
cuốn, hấp dẫn bạn đọc. Nhờ có Thừa tự mà người ta có thể hiểu rõ về đại gia
đình Việt Nam và xã hội Việt Nam thời bấy giờ, đọc truyện của ông, ta như
tiến sâu vào xã hội Viêt Nam, hơn thế nữa tác giả còn khéo léo đan xen vào
những hoạt cảnh, những bức tranh cuôc sống khiến cho ta cảm thấy truyện kể
rất linh động.
Đã qua thời kì đại gia đình bành trướng một cách ngạo mạn, áp bức cá
nhân một cách quá đáng, bắt vâng theo những mệnh lệnh uy nghiêm của nó.
Cũng với đề tài thường gặp: mâu thuẫn gia đình và cá nhân, giữa quan niệm
cũ và mới. Gia đình là tế bào của xã hội, đó là điều mà Khái Hưng luôn ý thức
và trăn trở. Tiểu thuyết Gia đình của ông được đăng trên báo Ngày Nay năm
1936 với số lượng nhân vật khá đông: 106 nhân vật, nhưng trong đó chỉ có 17
nhân vật xuất thân nghèo khó còn lại hầu hết các nhân vật thuộc tầng lớp quan
lại, trí thức, tiểu tư sản…

14


Cuốn tiểu thuyết chính là bản cáo trạng đanh thép tố cáo, phanh phui tất
cả các mặt trái, nhơ nhớp của quan trường, sự thối nát trong gia đình, đó cũng
là cái phần hiện thực trong các sáng tác của Khái Hưng.
Trong tác phẩm mọi thái độ của tác giả được thể hiện rõ rệt, giá trị của
cuốn tiểu thuyết ở chỗ nó miêu tả sự thật xấu xa của đại gia đình phong kiến,
nó còn nói lên rằng, trong xã hội thực dân phong kiến, người thanh niên trí
thức như An thường là nạn nhân của sự tha hóa trầm trọng: từ chỗ có một lí
tưởng đến chỗ buông xuôi theo thời, làm tất cả những cái xấu mà mọi người
đều làm, con đường không xa.



16


Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có thể là đối thoại hay độc thoại, đối
thoại gắn liền với việc những người nói hướng vào nhau và tác động vào
nhau, độc thoại không nhằm hướng đến người khác và tác động qua lại giữa
người và người. Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có nhiều chức năng khác
nhau như: chức năng phản ánh hiện thực, chức năng tự bộc lộ của nhân vật,
chức năng là đối tượng miêu tả của tác giả hoặc chức năng thể hiện nội
tâm…. Tổng hợp những chức năng đó, thông qua trần thuật, nhân vật kể lại
cuộc đời của mình, bộc lộ tâm tư, suy nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc đời, lẽ
sống, giúp người đọc lĩnh hội được tư tưởng, quan niệm của nhà văn. Cùng
với trần thuật tác giả, trần thuật của nhân vật góp phần hoàn thiện bức tranh
đời sống trong tác phẩm. Theo Bakhtin, “Lời nói của những nhân vật chính
trong tiểu thuyết – những nhân vật ít nhiều có tính độc lập về mặt tư tưởng,
ngôn từ, có nhãn quan của mình – vốn là tiếng nói của người khác bằng ngôn
ngữ khác, đồng thời có thể khúc xạ cả những ý chỉ của tác giả và do đó, đến
một mức độ nhất định, có thể được coi là ngôn ngữ thứ hai của tác giả.” Mỗi
nhân vật đều có ngôn ngữ trần thuật của mình, làm phân hoá ngôn ngữ tiểu
thuyết, đưa vào tiểu thuyết nhiều tiếng nói khác nhau, đa thanh, đa giọng điệu.
Chúng ta không thể tuyệt đối hoá việc phân chia trần thuật của tác giả
với trần thuật của nhân vật vì với cách chuyển điểm nhìn từ phía người trần
thuật sang điểm nhìn của nhân vật, từ điểm nhìn bên ngoài khách quan đến
điểm nhìn bên trong chủ quan, rất khó phân biệt đâu là chủ thể của trần thuật.
Và cũng nhờ di chuyển điểm nhìn mà văn chương khám phá, chiêm nghiệm
về cuộc sống và con người một cách đa diện và có chiều sâu hơn.
Ngôn ngữ trần thuật mang tính chính xác, cá thể hoá. Mỗi câu, mỗi chữ
trong tác phẩm có thể chứ đựng nhiều tầng ý nghĩa, nhiều cách giải thích.
Nhưng mỗi từ thì lại phải mang tính chính xác và cá thể hoá. Ngôn ngữ trần

người chú làm mọi cách để chàng thi ra làm quan, hay tại những ghanh đua
ghen ghét, nghi kị trong gia đình phong kiến, những thối nát, nhơ nhớp của

18


cuộc sống quan trường, những hiện thực của xã hội dưới thời thực dân Pháp.
Hay chính là tại bản tính nhu nhược, hèn kém, không chịu đấu tranh, buông
xuôi thuận theo ý mọi người đã làm cho gia đình trong chàng trở nên như vậy.
Điểm nhìn trần thuật chuyển sang nhân vật An đã gợi cho người đọc
cảm nhận ban đầu về bi kịch trong cuộc sống hiện tại và tương lai của nhân
vật này trong tác phẩm. Và cũng thật khách quan, Nga hiện lên trong tác
phẩm rất tự nhiên qua cái nhìn của An- một người vợ xinh đẹp, thông minh và
đặc biệt là tâm lí khao khát danh vọng địa vị. Từ ngày An quyết định đi học
trở lại, mấy tháng trước khi chàng đi học là những tháng ngày sống êm đềm
nhất của chàng. Nga bỗng trở nên nhẹ nhàng, yêu mến chiều chàng hết mực,
và An hiểu ra rằng: “chỉ có trở thành bà Huyện mới làm cho vợ ta được sung
sướng” ….
Trong Gia đình lúc An cảm nhận về gia đình ông Án Báo cũng là lúc
người kể chuyện xuất hiện dưới cái vỏ bọc của nhân vật. Khi miêu tả những
lục đục trong gia đình ông bà Án Báo, Khái Hưng không trực tiếp miêu tả, mà
lại được nói lên qua con mắt của An (con rể). Chính điều này làm cho câu
chuyện trở nên khách quan hơn, “ An buồn sầu, đau đớn nhận ra rằng ngày kỵ
chẳng phải là dịp để quan viên trong làng mượn cớ châm chọc, lấn át nhau mà
còn là ngày để cha mẹ, anh chị em họp mặt đông đủ giữa làn không khí bất
hòa…”. Soi chiếu từ cái nhìn của An- người con rể, nhười kể chuyện muốn
một cách khách quan khi đi vào nhận xét và cũng muốn đi sâu vào tâm lí của
của từng nhân vật trong gi đình và nhận xét về đại gia đình phong kiến.
Việc An quyết định ra làm quan được dứt khoát là nhờ người trở
thuyền đã dạy cho chàng một bàii học về đời. Hay khi An còn đang lưỡng lự

múi, chân vòng cánh cung ghế sáu cái bốn cái vuông và hai cái dài,lưng dựa
chia ra hai phần, một bên chạm bài thơ chữ Nho và một bên trổ tứ quý. Bộ
bàn ghế nhà ông Án Nguyễn cũng giống những bộ thấy bày trong nhiều khách
đường các nhà quan, nhưng lại có thêm một đặc sắc, là bốn câu thơ ở bốn cái

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status