Cái nhìn không gian và thời gian nghệ thuật trong hồi ký của Tô Hoài (Qua hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều) - Pdf 82


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
---------- NGUYỄN HOÀNG HÀ
CÁI NHÌN, KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG HỒI KÝ CỦA TÔ HOÀI
(Qua hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

THÁI NGUYÊN – 2009

Thái Nguyên – 2009

MỤC LỤC
Trang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………........... 1
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………... 1
2. Lịch sử vấn đề …………………………………………………….. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………………………………… 6
4. Mục đích nghiên cứu ……………………………………………… 6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………………….. 7
6. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………….. 7
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ………………………….. 7
8. Cấu trúc luận văn ………………………………………………...... 8
PHẦN NỘI DUNG …………………………………………………... 9
Chƣơng 1: Cái nhìn nghệ thuật trong hồi ký của Tô Hoài ……… 9
1.1. Đặc điểm hồi ký của Tô Hoài …………………………………… 9
1.1.1. Khái niệm hồi ký ……………………………………………… 9
1.1.2. Nhà văn Tô Hoài và hành trình viết hồi ký của tác giả ……….. 11
1.1.3. Đặc điểm hồi ký của Tô Hoài …………………………………. 14
1.2. Cái nhìn nghệ thuật trong hồi ký của Tô Hoài ………………….. 16
1.2.1. Khái niệm cái nhìn nghệ thuật ………………………………… 16
1.2.2. Cái nhìn nghệ thuật trong hồi ký của Tô Hoài ………………... 19
1.2.2.1. Cái nhìn chân thực mang đậm dấu ấn lịch sử ……………….. 19

những đóng góp quan trọng cho nền văn học hiện đại Việt Nam. Đóng góp ấy
thể hiện trên nhiều thể loại và đề tài: từ đề tài miền xuôi đến đề tài miền núi,
từ truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện thiếu nhi đến kịch, ký,… . Hầu như ở thể
loại và đề tài nào Tô Hoài cũng để lại dấu ấn rõ nét, đúng như G.S Hà Minh
Đức đã nhận xét: “Tô Hoài là một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng”.
1.2. Tô Hoài được độc giả biết đến từ những sáng tác trước Cách mạng tháng
Tám năm 1945 với những truyện viết về đề tài thiếu nhi, về những con người
ở một vùng quê ven đô. Những năm kháng chiến rồi hòa bình, ngòi bút của
Tô Hoài chưa bao giờ ngưng nghỉ. Ông viết truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký…
trong đó hồi ký là thể loại có vị trí đặc biệt thể hiện đậm nét phong cách nghệ
thuật của nhà văn. Hồi ký của Tô Hoài thực sự được người đọc quan tâm và
có những đánh giá sâu sắc khi các thể loại khác của ông đi vào giai đoạn gần
như đã viên mãn.
Hai tập hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều đã ghi lại hiện thực
cuộc sống một cách chân thực, sinh động và sáng tạo. Nhắc đến hồi ký của Tô
Hoài, chúng ta không thể không nhắc đến hai tập hồi ký này.
1.3. Tiếp cận và nghiên cứu văn học từ góc độ thi pháp là cách có sức hấp
dẫn, hiệu quả khoa học cao. Bởi đối tượng của thi pháp học là tính quy luật
nội tại của quá trình sáng tạo nghệ thuật văn chương. Trong đó hình thức là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
phương thức tồn tại và biểu hiện của nội dung. Để hiểu được nội dung chỉ có
con đường là khám phá về hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Chính mối
quan hệ giữa nội dung và hình thức trong nghệ thuật đã qui định cách tiếp cận
của thi pháp học. Vì thế, việc nghiên cứu hồi ký của Tô Hoài từ góc độ thi
pháp (cái nhìn, không gian và thời gian) sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn những
giá trị các tập hồi ký của nhà văn Tô Hoài.
1.4. Lâu nay, các nhà nghiên cứu phê bình văn học đã dành nhiều công sức

trình nghiên cứu văn chương Tô Hoài cũng không ngừng gia tăng. Những nhà
phê bình có tên tuổi yêu thích văn chương Tô Hoài như: Phong Lê, Nguyễn
Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Vân Thanh, Nguyễn Văn Long,
Vương Trí Nhàn, Trần Hữu Tá, Nguyễn Đăng Điệp… đã có những đánh giá
thật tinh tế khách quan về các tác phẩm và văn chương của ông.
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh khi nhận xét khái quát về tự truyện, hồi ký
của Tô Hoài đã khẳng định: “Hồi ký, tự truyện của Tô Hoài là thể văn sở
trường nhất của Tô Hoài … ở thể văn này, nhân vật trung tâm chính là cái tôi
của người viết. Cho nên sự hấp dẫn của văn phong Tô Hoài xét đến cùng là
sự hấp dẫn của cái tôi ấy ” [22. 43].
Trong bài viết Tô Hoài, sáu mƣơi năm viết, GS Phong Lê đã có
những nhận xét rất tổng quát về các cuốn hồi ký của Tô Hoài từ Cỏ dại đến
Chiều chiều. GS cho rằng: “Tô Hoài không chỉ là người có sức nhớ kỹ, nhớ
dai mà hơn thế, những cái sống, cái nhớ của ông luôn dư đầy, là luôn luôn có
mặt trong hiện tại. Một quá khứ luôn luôn được dồn về hiện tại, được hiện tại
hóa – nhưng vẫn trong trang phục của quá khứ” [32. 43].
Qua bài viết Tô Hoài qua Tự truyện, PGS Vân Thanh lại nhận ra
rằng: “Nhưng dẫu gần hoặc xa, dẫu là chuyện bản thân hoặc gia đình, làng
xóm đâu đâu, qua những trang hồi ức của Tô Hoài, cũng vẫn một màu xám,
một điệu buồn như vậy. Một cái buồn thấm vào tất cả từng tế bào, từng chân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
lông của cơ thể xã hội… Tôi cho là Tô Hoài đã thực sự có đóng góp vào văn
học ta mảng sống buồn bã, vật lộn của một thế hệ tuổi thơ – hoặc được nhìn
qua cách nhìn trẻ thơ để nói một cái gì bản chất của cuộc đời cũ. Mảng sống
đó rất có nét dáng, góc cạnh, trước hết vì khả năng nhớ dai và rất động ở ký
ức của Tô Hoài”. [32. 382 - 383].
Tác giả Phạm Việt Chương trong Những gƣơng mặt- Chân dung văn

hồi tưởng như ngẫu hứng, cũng chạy long bong theo dòng hoài niệm, móc
vào đâu đấy, dừng lại một lát rồi lại đi, vấp phải một câu nói, có khi chỉ là
một từ, tên con tàu Chantilly chẳng hạn, chứ không hẳn phải là một bóng
chiều trên sóng hồ lăn tăn nhà Thủy Tạ, là đã có thể đổi chiều, đi ngược về
trước hoặc lùi về sau, có khi hàng chục năm. Tưởng đó cũng là bình thường
khi “trò chơi lớn”của văn viết hồi ký là đặt chồng lên nhau các lớp thời gian,
cách viết này đã được nhiều nhà văn các nước, trước tiên là Chateaubriand
“khánh thành”từ thế kỷ trước. Đối với giới nghiên cứu phương Tây điều này
đánh dấu sự chuyển đổi vị trí (nghĩa là tầm quan trọng) của cái tôi nhân
chứng trong các sự kiện lịch sử thời hiện đại: Việc không còn tuân thủ trình
tự biên niên như hồi ký cổ điển khiến cho không gian và thời gian truyện kể
được đặt cao hơn không gian và thời gian các sự cố được kể” [32. 398].
Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn cũng có những nhận xét về thể
hồi ký của Tô Hoài. Trong Lời bạt: Tô Hoài và thể hồi ký, tác giả viết:
“Trong cái động có cái tĩnh, dường như trong kho văn chương của tác giả
luôn có một góc riêng dành cho cái mà người xưa hay gọi là dĩ vãng và nó
được ông quan niệm như một bộ phận không thể thiếu của hiện tại”[25. 927-
928].
PGS. TS Đoàn Trọng Huy khi nghiên cứu về ký của Tô Hoài đã nhận
ra rằng: “Sau Tự truyện là Cát bụi chân ai (1992). Đây là tập hồi ký đan xen
vào nhau từng mảng hồi ức và kỷ niệm gắn với đời văn, bạn văn … trong một
không gian và thời gian rộng mở”. “Cách viết nhiều biến hóa với những liên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
tưởng mạnh mẽ tung hoành theo không gian và thời gian nhiều chiều” [16.
495].
Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều khẳng định vai trò và những đặc
điểm riêng trong các tập hồi ký của Tô Hoài. Các tập hồi ký này có giá trị

4.2. Từ đó có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về đóng góp của Tô Hoài cho
nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, đặc biệt là trong thể hồi ký.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu một số phương diện: cái nhìn, không gian, thời gian nghệ
thuật trong hai tập hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều của Tô Hoài
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, luận văn sẽ vận
dụng các quan điểm và thao tác nghiên cứu thi pháp học, sử dụng và phối hợp
các phương pháp nghiên cứu văn học sau:
- Phương pháp thống kê, khảo sát
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp hệ thống
7. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
7.1. Tô Hoài là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Từ trước
tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như bài viết về sáng tác
của Tô Hoài. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu
chuyên biệt về vấn đề thi pháp: cái nhìn, không gian và thời gian trong hồi ký
của Tô Hoài. Luận văn là công trình đầu tiên có tính chất chuyên biệt về vấn
đề trên. Luận văn vừa kế thừa những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên
cứu đi trước, vừa tìm tòi, lựa chọn một số phương diện tiêu biểu trong thế giới
nghệ thuật của nhà văn và đặt chúng trong mối quan hệ thống nhất hữu cơ, để

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
từ đó nêu bật những đặc điểm thi pháp: cái nhìn, không gian và thời gian nghệ
thuật trong hồi ký của Tô Hoài.
7.2. Kết quả của luận văn ít nhiều góp phần gợi mở hướng tiếp cận tác phẩm

CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT TRONG HỒI KÝ CỦA TÔ HOÀI
1.1. Đặc điểm hồi ký của Tô Hoài
1.1.1. Khái niệm hồi ký
Thể loại hồi kí ra đời rất sớm, từ thời cổ Hi Lạp. Hồi ức của Kxê - nô –
phôn và Xô- cơ- rát và những ghi chép của ông về các cuộc hành quân của
người Hi Lạp (thế kỉ V tr. CN) thường được coi là những tác phẩm hồi kí cổ
xưa nhất.
Ở nước ta vào những năm cuối thập niên 90 thế kỷ XX và những năm
đầu thế kỷ XXI trên văn đàn xuất hiện nhiều tác phẩm hồi ký của văn nghệ sĩ,
chủ yếu là các nhà văn đã tạo dựng một mảng sinh động của đời sống văn học
mà có thể nói rằng trước đó chưa thể có. Nhiều sự kiện văn học quá khứ,
nhiều số phận văn chương cùng nhiều vấn đề phức tạp của quá khứ gần, xa…
đã được tái dựng theo một cách nhìn mới. Những chuyển động ban đầu báo
hiệu tầm ảnh hưởng sâu rộng của hồi ký đối với tư tưởng cũng như cuộc sống
có thể kể đến Đặng Thai Mai hồi ký, Từ bến sông Thƣơng của Anh Thơ và
tiếp đó là những tác phẩm thu hút sự quan tâm, tạo được ấn tượng mạnh đối
với độc giả như Cát bụi chân ai, Chiều chiều của Tô Hoài, Bút ký song đôi
của Huy Cận, Nhớ lại một thời của Tố Hữu v.v.
Vậy thế nào là hồi ký?
Các tác giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã đưa ra khái niệm:
“Hồi ký là một thể loại thuộc loại hình ký, kể lại những biến cố đã xảy ra
trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến”. Nhóm tác giả
cho rằng: “Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại
về tính chính xác của sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi ký có
nhiều chỗ gần với nhật ký. Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
không có hư cấu thì hồi ký lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học” [12.

ký chính là sự tường minh của hồi ức và sự sắp xếp các mạch của hồi ức. Các
tác giả không chỉ xây dựng được diện mạo của người cùng thời mà qua
chuyện của mình phác họa được gương mặt của thời đại. Nói như nhà thơ
Huy Cận: “Viết hồi ký là sống lại một lần nữa cuộc đời mình, cũng là san sẻ
cho người trong thiên hạ vui buồn của mình, thân phận của mình và phần nào
những trải nghiệm dọc đời đã sống” [54. 83].
1.1.2. Nhà văn Tô Hoài và hành trình viết hồi ký của tác giả
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920 trong một gia
đình thợ thủ công nghèo ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, nay thuộc phường
Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Hoàn cảnh đó khiến nhà văn từ nhỏ đã
sớm hòa mình trong cuộc sống của gia đình, làng quê lúc phong lưu cũng như
khi sa sút, túng quẫn. Tô Hoài cũng đã cảm nhận được niềm vui và nỗi buồn
trong từng bước thăng trầm của làng nghề truyền thống. Tuổi thơ của Tô Hoài
hầu như không được sống trong cảnh êm đềm. “Cậu bé Sen” thường được
chứng kiến cảnh ông ngoại nghiện rượu để rồi khi thì ông sinh sự, đay nghiến
chửi bà, khi lại rất hiền lành âu yếm kể biết bao nhiêu là chuyện ngày xưa…
Bà ngoại vừa cam chịu, cũng vừa lắm điều nhiều lời. Và các dì, cuộc sống
quẫn bách nên cũng không còn thuần khiết như xưa, cũng cãi lại cha mẹ, cũng
tình ý với thầy giáo làng để bị đánh ghen giữa nơi Kẻ Chợ, cũng đánh chửi
con cái… Chính hoàn cảnh ấy đã tác động sâu sắc đến nhãn quan của Tô
Hoài.
Tô Hoài chỉ được học hết bậc tiểu học, rồi cũng như mọi thanh niên trai
làng khác, Tô Hoài sớm trở thành anh thợ cửi. Nhưng cảnh nhà nghèo, nghề
dệt lại lụi bại dần, Tô Hoài lận đận trong mưu kế sinh nhai. Ông phải đi kiếm
sống bằng nhiều nghề: thợ cửi, bán hàng, phụ kế toán, coi kho cho hiệu buôn
giầy, dạy học và còn sống qua những ngày thất nghiệp tủi nhục không một
đồng xu dính túi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


16
Có thể nói, Tô Hoài là người được chứng kiến mọi bước thăng trầm của
gia đình và xã hội. Bản thân ông cũng trải qua những vui buồn, những nhọc
nhằn cay đắng, cũng được gần gũi nhiều nhà văn có tên tuổi. Bên cạnh đó với
những tố chất vốn có của mình, Tô Hoài đã đem đến cho người đọc thế giới
muôn hình, muôn vẻ của con người và cuộc sống. Đó là các yếu tố góp phần
làm nên những đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện của Tô Hoài.
Viết hồi ký là sự tiếp nối mạch sáng tác dồi dào của Tô Hoài. Từ những
Dế mèn phiêu lƣu ký (1941), Quê ngƣời (1941), O chuột (1942) đến
Truyện Tây Bắc (1953), Mƣời năm (1957), Miền Tây (1967), Quê nhà
(1981) … Tô Hoài không lôi cuốn người đọc ở những mảng sống bạo liệt hay
những nhân vật tầm vóc với những biến động lớn lao mà sáng tác của ông thu
hút bạn đọc từ những gì bình dị, đời thường ông đã gặp, đã trải. Hồi ký của
ông cũng được viết theo nguồn mạch đó. Những trang viết đầu tiên về năm
tháng tuổi thơ trong Cỏ dại (1944) đến tập Tự truyện (1973) kể về cuộc sống
của người thợ thủ công vùng ngoại ô Hà Nội, kể về những gian truân, vất vả
trên con đường đi tìm “miếng cơm manh áo”, lý tưởng, lẽ sống của người
thanh niên trong xã hội cũ, thấp thoáng những bạn văn, những người cùng
hoạt động trong nhóm Văn hóa cứu quốc. Cỏ dại và Tự truyện là những dấu
ấn đầu tiên để Tô Hoài viết những hồi ký tiếp theo trong hành trình viết hồi
ký – một hành trình đấu tranh tư tưởng của mình. Có thể nói thành bại của
một cuốn hồi ký là ở sự thật quyết định trong từng con chữ. Do đó hành trình
đến Cát bụi chân ai (1990) và Chiều chiều (1999) đã khẳng định ngòi bút
chân thực, khách quan, không tô điểm của Tô Hoài. Trong những dòng hồi ký
ấy, Tô Hoài vừa cho người đọc thấu hiểu một thời kỳ lịch sử, vừa cho người
đọc chiêm ngưỡng các tác gia văn học từ góc độ sinh hoạt đời thường. Như
vậy với phong cách đặc biệt, Tô Hoài đã đem đến cho nền văn học Việt Nam
những tác phẩm hồi ký xuất sắc. Trong đó Cát bụi chân ai là cuốn hồi ký tiêu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


18
Đặt ký Tô Hoài bên ký Nguyên Hồng chúng ta sẽ thấy trong tác phẩm
của hai ngòi bút này cuộc sống hiện lên muôn màu muôn vẻ. Họ cùng phản
ánh rất chân thực cuộc sống phong phú, đa dạng vào ký của mình, nhưng mỗi
người có một cách biểu hiện khác nhau. Ở Nguyên Hồng, cảm hứng hướng
nội là cảm hứng chủ đạo. Từ Những ngày thơ ấu trước Cách mạng tháng
Tám đến những hồi ký sau cách mạng như Bƣớc đƣờng viết văn, Một tuổi
thơ văn vẫn là nhấn mạnh cảm hứng hướng nội với cái Tôi tràn đầy cảm xúc,
tâm trạng. Trong khi đó, hồi ký Tô Hoài là cảm hứng hướng ngoại, thể hiện
một cái Tôi tự sự giản dị, tỉnh táo, điềm tĩnh.
Hồi ký của Tô Hoài giàu chất “truyện” và chất “tiểu thuyết” trong kết
cấu mạch lạc, rõ ràng, mang tính tự sự, trong giọng điệu “đa âm” và ngôn ngữ
chính xác, linh hoạt. Nếu hồi ký Nguyên Hồng thu hút người đọc bằng giọng
điệu và ngôn ngữ tràn đầy cảm xúc, tâm trạng thì hồi ký của Tô Hoài hấp dẫn
bạn đọc bởi sự linh hoạt, năng động. Từ sự lựa chọn sự kiện trong cách kể
chuyện khách quan, tỉnh táo và chân thực đến giọng điệu dí dỏm, khôi hài pha
chút bông đùa, đôi chút mỉa mai, tinh quái nhưng cũng rất nghiêm trang và
thâm thúy. Ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký của Tô Hoài là “ngôn ngữ văn
xuôi” – một thứ ngôn ngữ đa dạng, lắm cung bậc và thật nhiều sắc thái. Chất
hài hước, sự khôn ngoan minh mẫn, vẻ “đáo để” của Tô Hoài cũng bộc lộ thật
sâu sắc trên các trang hồi ký của mình.
Trong hồi ký của mình, Tô Hoài thiên về tự sự. Nhà văn xây dựng chân
dung các văn nghệ sĩ theo hướng khách quan, để cho nhân vật tự bộc lộ hơn là
có sự tham gia trực tiếp của chủ quan tác giả. Khi viết chân dung, Tô Hoài
vẫn cứ là cây bút hiện thực bám chặt vào “chất văn xuôi” của đời sống. Hồi
ký là viết về những gì đã qua, đã trải trong quá khứ, nhưng với cái nhìn tỉnh
táo, giọng kể tự sự, hồi ký Tô Hoài là sự trở đi trở lại uyển chuyển giữa quá
khứ và hiện tại. Từ đó tạo những trang viết đặc sắc, ấn tượng. Nhà văn luôn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
Viện sĩ Nga M.B.Khrapchenco xác nhận: “Chân lý cuộc sống trong
sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá
nhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ, không tồn tại bên ngoài
các đặc điểm về tư duy hình tượng, bút pháp sáng tác nghệ sĩ” [31. 106].
Nhà văn Pháp Mácxen Prutxt khi nói về tầm quan trọng của cái nhìn
càng khẳng định: “Đối với nhà văn cũng như nhà họa sĩ, phong cách không
phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cái nhìn”. Do vậy cái nhìn là một biểu
hiện tinh thần đặc biệt của tác giả. Để hiểu được nội dung phong phú của cuộc
sống trong tác phẩm, chúng ta không thể không khám phá cái nhìn nghệ thuật,
cách tư duy, cách cảm nhận của chính nhà văn. Cái nhìn thể hiện trong tri
giác, cảm giác, quan sát, từ đó nó có thể phát hiện cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái
bi … . Cái nhìn xuất phát từ một cá thể, mang thị hiếu và tình cảm yêu, ghét.
Cái nhìn gắn với liên tưởng, tưởng tượng, cảm giác nội tâm, biểu hiện trong
ví von, ẩn dụ … Cái nhìn có thể đem các thuộc tính xa nhau đặt bên nhau,
hoặc đem tách rời thuộc tính khỏi sự vật một cách trừu tượng.
Trong tác phẩm nghệ thuật cái nhìn thể hiện trong chi tiết nghệ thuật,
bởi chi tiết là điểm rơi của cái nhìn. Như vậy “Chi tiết không đơn thuần chỉ là
một vật đã được quan sát. Chi tiết nghệ thuật mang nặng tính tổng quát. Đối
với những nghệ sĩ chân chính, chi tiết thuộc vào hệ thống của nghệ thuật. Nó
nói lên đặc điểm nhận thức của người nghệ sĩ đối với thế giới bên ngoài, cái
quan điểm riêng của người nghệ sĩ về môi trường xung quanh, cái bản chất
nghệ sĩ của anh ta (…) nhờ có chi tiết mà nhà văn mới phát hiện được những
quan hệ mới, những đặc điểm mới, những màu sắc mới. Chi tiết tức là bút
pháp vậy” [30. 12]. Chi tiết có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện cái nhìn
của nhà văn. Khi nhà văn trình bày cái họ nhìn thấy cho ta cùng chiêm
ngưỡng thì ta đã tiếp thu cái nhìn của họ và cùng bước vào phạm vi ý thức
của họ, chú ý cái mà họ chú ý. Khi ta nhận thấy nhà văn này chú ý cái này,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
dù phải vật lộn với hoàn cảnh cuộc sống khó khăn. Họ vươn lên trên đau khổ
để tìm lại cuộc sống của chính mình.
Cái nhìn nghệ thuật không chỉ thể hiện trên phương diện con người mà
còn bộc lộ trên rất nhiều mặt của cuộc sống. Với cái nhìn toàn diện đối với
cuộc đời, Tô Hoài đã cho người đọc chiêm ngưỡng cuộc sống muôn màu,
muôn vẻ, phong phú và phức tạp để từ đó hiểu thêm cuộc sống quanh mình và
có niềm tin vào cuộc sống.
1.2.2. Cái nhìn nghệ thuật trong hồi ký của Tô Hoài
Tô Hoài luôn hướng cái nhìn vào hiện thực cuộc sống đời thường để
phát hiện mọi cung bậc trong đời sống thường nhật. Nhưng không phải vì thế
mà dấu ấn lịch sử không hiện diện trong sáng tác của ông. Đặc điểm này
không chỉ thể hiện trong truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim … mà còn in
đậm trong hồi ký của tác giả. Nghiên cứu cái nhìn trong hồi ký của Tô Hoài
chúng tôi thấy cái nhìn của tác giả rất chân thực, vừa mang đậm dấu ấn lịch
sử, vừa nghiêng về cuộc sống sinh hoạt đời thường.
1.2.2.1. Cái nhìn chân thực mang đậm dấu ấn lịch sử
Hai tập hồi kí Cát bụi chân ai và Chiều chiều là sự nối tiếp có hệ
thống trong hành trình viết hồi ký của nhà văn. Đó là sự nối tiếp theo chiều
dài của thời gian lịch sử và của chính tác giả.
Nếu như trong các tác phẩm: Truyện Tây Bắc, tiểu thuyết Miền
Tây… tác giả đã nhìn rõ sự đổi thay của cuộc sống người dân miền núi Tây
Bắc thì vẫn cái nhìn chân thực mang đậm dấu ấn lịch sử, hai cuốn hồi ký Cát
bụi chân ai và Chiều chiều tác giả lại cho người đọc thấy được những giai
đoạn lịch sử đầy ắp sự biến động. Hai tập hồi ký này được ra đời vào những
năm đất nước đã không còn tiếng súng. Cát bụi chân ai và Chiều chiều là
những cuốn phim tư liệu về lịch sử, về cuộc sống, về bạn bè, về người dân và

Pháp, với chiến thắng Điện Biên Phủ cuộc sống của dân tộc đã khác. Khi
miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì người người “Bắt đầu được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24
lĩnh lương tháng. Không nhớ bao nhiêu, nhưng tối nào cũng có thể la cà hàng
quán được. Có cảm tưởng “cả loài người tiến bộ” đổ tiền của đến mừng Việt
Nam Điện Biên Phủ. Chúng tôi ngỡ ngàng một cách khoan khoái.” [25. 424].
Trong hồi ký hiếm khi Tô Hoài bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình như thế. Có
lễ đây là lần thật hiếm hoi. Chiến thắng đó đã thổi vào tâm hồn tác giả và bạn
bè những niềm vui sướng, tưởng chừng như đó là sự ngỡ ngàng, khác lạ chưa
bao giờ được biết đến.
Không chỉ là sự thay đổi trong thói quen sinh hoạt của tầng lớp trí thức
mà còn là những người nông dân thuần túy. Đó là ông Ngải – một ông lão
thật thà chịu khó với những thói quen chẳng bao giờ thay đổi: uống nước chè
vò đặc sánh thay cho bữa ăn sáng, ngủ ngoài bụi tre, một người “không bị bắt
đi đòng, đi bảo an, vì đã hom hem râu ria”, [24. 79] cũng có nhận xét, đánh
giá rất thực tế về sự thay đổi của chính sách. Có hợp tác ông Ngải vào ngay,
ông được bầu làm chân kiểm soát trong ban quản trị. Ông vào hợp tác với lý
do rất đơn giản: “Ông tính “Vợ chồng tôi già rồi. Con cái thì có nhớn mà
chẳng có khôn. Thì phải dựa vào trên chứ dựa vào ai, trên bảo làm thế thì
làm” (…). Ông lại cắt nghĩa rằng vào hợp tác ai cũng phải lao động. Lao
động được chấm công, ăn thóc, không làm thì nhịn há mồm ra.” [24. 80 - 81].
Thông qua suy nghĩ của nhân vật ông Ngải một người nông dân chất phác,
quanh năm gắn liền với ruộng đồng đã cho người đọc thấy rõ sự thật về một
giai đoạn lịch sử - xây dựng hợp tác xã. Hợp tác xã đã từng là một mô hình
phát triển trong một giai đoạn nhất định của lịch sử và ở một mức độ nào đó
đã đưa lại niềm vui, niềm tin cho tất cả mọi người dân.
Lịch sử bao giờ cũng có những hạn chế của nó. Bên cạnh bao điều tốt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status