QUAN ĐIỂ M VỀ LỊ CH SỬ CỦ A TÔ HOÀ I
TRONG HỒ I KÍ TRONG CÁT BỤI CHÂN AI VÀ CHIỀU CHIỀU
Trầ n Th Mai Phương
1Bài viết tập trung tìm hiểu quan điểm về lịch sử của Tô Hoài qua hai tác phẩm hồi kí
tiêu biểu của ông (tức Cát bụi chân ai và Chiều chiều). Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy
quan điểm về lịch sử của Tô Hoài có hai đặc điểm nổi bật: một là, nhìn lịch sử dưới góc nhìn
“cá nhân hóa”; hai là, nhìn lịch sử với thái độ công bằng, công tâm. Những đặc điểm đó góp
phần khẳng định giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của hồi kí Tô Hoài trong sự nghiệp
văn chương của ông.
1. Mở đầu
Hồ i kí là mộ t thể loạ i có tính xá c thự c tương đối cao bở i sự kiện được kể lại trong đó là những sự kiện
mà người viết đã trực tiếp trải nghiệm hoặc tận mắt chứng kiến, tức người viết là người trong cuộc hoặc là một
nhân chứng “đáng tin cậy”. Đây là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của một tác phẩm hồi kí.
Điề u đó cho thấ y, hồ i kí có khả năng hé mở phầ n nà o nhữ ng sự thậ t lịch sử, nhất là những “uẩ n khú c”, “bí mậ t
đen” trong lịch sử không bao giờ đượ c tiế t lộ trong sử chính thống mà chỉ đượ c hé mở qua nhữ ng trang hồ i kí
cá nhân. V vậy, hồ i kí cũ ng có thể đượ c xem là mộ t dạ ng “dã sử ” (sử củ a tư gia) hay “biệ t sử ” (sử củ a cá
nhân) mang giá trị tham khả o, bổ khuyế t cho “chí nh sử ”.
Với tư cách là người đã từng trải qua nhiều biến động của lịch sử dân tộc và từng im lặng, khi đặt bút
viết những trang hồi kí, Tô Hoài đã phơi mở nhiều sự thật bị che giấu một thời, những sự thật mà không một
trang sử chính thống nào nhắc tới (phong trào Cải cách ruộng đất, thời k sửa sai, “vụ án” Nhân văn - Giai
phẩm,v.v ). Thực ra, trướ c Tô Hoà i cũ ng từng có một số nhà văn viết về những đề tài cấm kỵ này như Vũ Bão
vớ i Sắp cưới (1957); Ngô Ngọc Bội vớ i Ác mộng (1990), Trần Mạnh Hảo vớ i Li thân (1989), v.v và gần đây
nhất là Thời của thánh thần (2008) của Hoàng Minh Tường (mặc dù cuốn tiểu thuyết này đã được hoàn thành
trước đó khá lâu).
Có thể nói, những tác phẩm này đã góp phần làm phong phú hơn xu hướng nhận thức lại lịch sử trong
văn học. Tại đó, các nhà văn muốn nhn thẳng vào sự thật. Xu hướng này tuy chưa mạnh mẽ như dòng “văn
học vết thương” của Trung Quốc, nhưng nó là sản phẩm của tinh thần dân chủ trong đời sống xã hội, là một
Việt Minh. Ông làm ăn một mnh, đứng ngoài mọi sự mà phán đoán, đánh giá. Cho đến tận thời kinh tế thị
trường, Tô Hoà i quay lại thăm xóm Đồng, ông Ngải vẫn ngồi một mnh ngoài bụi tre lép, uống nước chè đặc
như nghn năm nay vẫn ngồi thế. Chỉ có điều “ngày trước chuyện ran rỉ còn bây giờ th im lặng” [6, tr.125],
v.v Gia đnh anh Sự chủ nhiệm hợp tác lạ i là mộ t trườ ng hợ p khá c. Họ không im lặng quan sát thờ i cuộ c như
ông Ngải mà họ là những người nhập cuộc. Trong kháng chiến, Sự ở bộ đội chủ lực của huyện, vợ cũng làm
liên lạc dẫn đường cho bộ độ thoát nhiều phen hiểm nghèo. Đến thời cải cách ruộng đất, Sự được giao chức
chủ nhiệm hợp tác xã, nhưng vợ th nhất định không chịu vào hợp tác, giữ một miếng ruộng ngoài làm riêng.
Gia đnh họ đại diện cho hai luồng tư tưởng trái chiều trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp: ủng hộ và
phản đối. Ba chục năm sau, đất nước chuyển sang giai đoạn mới, Tô Hoài về thăm lại xóm Đồng, gia đnh Sự
vẫn là những người nhập cuộc hăng hái, là xã hội thu nhỏ điển hnh khi làn gió kinh tế thị trường về đến tận
xóm Đồng.
Không khí giai đoạn “chỉnh huấn” Nhân văn cũng được tái hiện thông qua số phận cụ thể của những
văn nghệ sĩ. Phùng Quán viết Lời mẹ dặn “ngang như cua” bị kỉ luật 3 năm không hội viên hội nhà văn, nhưng
rồi 30 năm mới có lời làm lễ giải hạ n. Không cấm sáng tác nhưng viết th không đâu in. Ròng rã ba chục năm,
“câu chui, rượ u chui, viế t chui”, Phùng Quán đã vào tuổi năm mươi, “thân hnh bơ phờ mảnh khảnh” [6,
tr.105], đi hết cả một thời sung sức. Cùng nhóm với Phùng Quán, Đặng Đnh Hưng sau khi sáng tác theo thời
bài Nông dân là quân chủ lực, đâm chán nhạc, chuyển sang buôn rượu lậu và làm thơ. Văn Cao cũng bị vướng
vào thơ trong nhóm Nhân văn, chỉ được sinh hoạt trong hội Nhạc, hiu hắt kiếm ăn bằng vẽ ba sách. Trần Dần
muốn “chôn hết cái cũ để sáng tạo cái mới”, sáng tạo “văn chương vùng bờ vùng thửa, cả chương chữ như
kiến bò từ đầu đến cuối không xuống dòng”, “rất nhiều tiếng lóng hủi, hủi” [6, tr.103]. Chỉnh huấn, Trần Dần
bị truất ba năm hội tịch, chán nản, cứa cổ tự vẫn mà không chết. Ngay như Nguyên Hồng cũ ng là mộ t “quan
chứ c văn nghệ ”, đượ c giao phụ trách báo văn nhưng lạ i để lọt những bài mà “các cơ quan trách nhiệm cảm
thấy ẩn ý sao đấy” [6, tr.98]. Bản thân Nguyên Hồng cũng có truyện Con hổ bị đánh giá là “có vấn đề”. Năm
1956, báo Nhân văn bị đnh bản, Nguyên Hồng bị kiểm thảo tơi bời. Thất vọng, ông đem theo vợ con bỏ về
vùng đồi núi “lưa thưa tre pheo, lơ thơ lại mấy nhà người làng, cái trường cấp 1, mái lợp nứa, tường trnh lụp
xụp, quạnh quẽ” [5, tr.167]. Còn biết bao số phận, bao thảm kịch khác được Tô Hoài phác họa làm nên diệ n
mạo một thời. Có thể thấy, cá nhân hó a gó c nhìn lịch sử chí nh là cá ch để ông tá i hiệ n toà n bộ đờ i số ng trong
phạm vi nhận thức của mnh.
Dưới góc nhn cá nhân hóa, hồi kí Tô Hoài còn cho phép những bí mật đời tư vượt qua rào cản công
chúng để dần được chấp nhận và trở thành một phần của lịch sử. Khi những trang viết gây “shock” về đời tư
tồn tại là sự cao tay của Tô Hoài, khiến cho cách chép sử của ông hết sức ấn tượng. Đây là một trong những
nguyên nhân quan trọng nhất tạo nên sứ c hấ p dẫ n đặ c biệ t củ a nhữ ng trang hồ i kí Tô Hoà i.
2.2. Thái độ công bằ ng trước sự thật lịch sử
Trong Chiều chiều, Tô Hoà i có nhắc tới Vlat, người bạn Nga của ông. Bố Vlat là người hoạt động
trước 1917, có cương vị lớn ở khu tự trị nhưng ông đã bị xử bắn trong một cuộc thanh trừng của Xtalin khi
Vlat còn nhỏ. Sau này, đứng trước bức tượng Xtalin và căn nhà Xtalin đã từng ở, Vlat nói: “Lịch sử là lịch sử.
Không ai thù lịch sử bao giờ” [6, tr.416]. Đó là thái độ của một trí thức. Anh ta hiểu lịch sử là một bánh xe
luôn lăn về phía trước, trên con đường tới tương lai, có những lúc gập ghềnh khúc khuỷu, đôi khi là những tai
nạn thương tâm không thể tránh được. Cũng như một con người muốn trưởng thành nhiều khi phải trải qua
những giai đoạn ấu trĩ, sai lầm. Nếu mất mát về mnh, th đó là do lịch sử đã chọn mnh thí điểm. Quan niệm
của Vlat cũng là quan điểm của Tô Hoài khi nhn nhận lại những giai đoạn lịch sử mà mnh từng chứng kiến,
tham dự. Trước những sự thật có phần khốc liệt của lịch sử, Tô Hoà i có cách nhìn nhận rất khách quan, công
bằ ng, đúng mực với mục đích nhìn nhận lại để hóa giải, làm lành những “vết thương” chứ không phải để khắc
sâu, hận thù.
Là người trực tiếp tham gia vào cải cách ruộng đất, ông không né tránh, bao che cho tội ác mà nhận
định: đó là thời k “mọi cái đều dữ dằn”, “nhố nhăng”, “cây chuối mọc ngược, gà mái đạp gà trống, con cái
vạch mặt bố mẹ, vợ tố chồng” [6, tr.48]; “Những chuyện đấu tố chỉ chợt nhớ đến đã thấy sượng mặt” [6,
tr.108]. Cái thời “cả nước trí trá, ăn gian nói dối tràn lan” [6, tr.174]. Trong mạch kể chuyện, thỉnh thoảng nhà
văn mới điểm xuyết một vài nhận định, đều là những nhận định xuất phát từ nhận thức và tnh cảm chân thật.
Mấy chục năm sau cải cách, Tô Hoà i cũng thừa nhận cải cách ruộng đất đã tạo nên một vết thương: “Đất
nước như cánh đồng cày vỡ, chưa biết cấy hái ra thế nào. Vết thương cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức còn
đỏ hỏn khắp chợ th quê” [6, tr.57]. Tuy nhiên Tô Hoài chỉ kể mà không đưa ra lời phê phán cụ thể với cá nhân
nào bởi ông nhận thức đó là một “cơn điên tập thể”. Nghĩ lại “giật mnh v sự bắt chước k quặc ( ) Tài liệu từng
chữ dạy thế, khu đoàn ủy Chu Văn Biên dạy thế, lại nghe Trung ương Hồ Viết Thắng ngồi ô tô vôn ga đen mặc
quần áo nâu về cắt nghĩa thế”
[6, tr.36]. Cái thời ấy, niềm tin ngây thơ “từ những đồ đồng nát đem chữa cháy
cũng có thể vỗ tay đi lên chủ nghĩa xã hội” khiến người ta hăng hái thực sự. Người ta đã làm những việc mê muội
mà không biết mnh đang gây ra tội ác. Âu đó cũng là những ấu trĩ, ngộ nhận của một thời.
Những năm về sau, Hoàng Trung Thông đã yếu nhiều, mỗi khi gặp hay hỏi: “Ngày ở Thái Bình mình
của nhận thức, của lương tâm và trách nhiệm. Theo sự tiết lộ từ những trang văn Tô Hoài, những “sự thật bị
đánh cắp” cứ từng bước được phơi mở, càng lúc càng dữ dội, khốc liệt. Tô Hoà i đã từ ng tâm sự: “Tôi không
ngại, không nề hà những chuyện phải né tránh v động cơ trong sáng của người viết, không định kiến, không
nhằm đối phó với ông A, ông B, ông C” [3, tr.84]. Thái độ công bằng, cái nhìn khách quan, “cá nhân hóa” đó
đòi hỏi người viết phả i là mộ t tấm gương về nhân cách, về bản lĩnh nghề nghiệp và cả sự nhạy bén về cảm
quan và cách viết. Có thể nói, trong những tác phẩm hồi kí của mnh, Tô Hoài đã làm được điều đó.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. M. Bakhthin, Lý luận về thi pháp tiểu thuyết, Nxb Bộ Văn hóa thông tin thể thao, Trường viết văn
Nguyễn Du, Hà Nội, 1992.
2. Nguyễn Đăng Điệp, “Tô Hoài sinh ra để viết”, Tạp chí Văn học, số 9, tr. 113, 2002.
3. Hà Minh Đức, Tô Hoài, đời văn và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội, 2007.
4. Đặng Thị Hạnh, “Viết về một cuộc đời và những cuộc đời”, Tạp chí Văn học, số 12, tr. 35, 1998.
5. Tô Hoài, Cát bụi chân ai, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000.
6. Tô Hoài, Chiều chiều, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.103, 1999.
7. Tô Hoài, Hồi kí, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005.
8. Phong Lê, “Ngót sáu mươi năm văn Tô Hoài”, Vẫn chuyện văn và người, Nxb Văn hóa Thông
tin, Hà Nội, 1999.
9. Vương Trí Nhàn, “Tô Hoài và thể hồi kí”, Tạp chí Văn học, số 8, tr. 19, 2002.
10. Mai Thị Nhung, Phong cách nghệ thuật Tô Hoài, Luận án Tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội, 2005.
11. Vân Thanh (tuyển chọn), Phong Lê (giới thiệu), Tô Hoài - Về tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 2000.
12. Minh Thi (phỏng vấn), “Viết hồi kí để nói ra sự thật”, Báo Lao động, ra ngày 15/1, 2006.
TO HOAI’ S VISION OF HISTORY IN HIS AUTOBIOGRAPHIES
Tran Thi Mai Phuong
Abstract
This article examines To Hoai’s vision of history in Cat bui chan ai and Chieu chieu - two best-known
among his autobiographic work. We see that in these autobiographies, To Hoai tends to observe history from
an individual point of view and judge historical events and people with justice and tolerance. This vision of