1
Tóm tắt luận văn thạc sĩ văn học
2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong luận văn là kết quả
nghiên cứu của bản thân tôi dới sự hớng dẫn trực tiếp của PGS TS Nguyễn Đăng
Điệp. Những nội dung này cha đợc công bố ở công trình nghiên cứu nào. Nếu sai
tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, 1 tháng 10 năm 2010
Học viên
Nguyễn Thị Tỉnh
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Tô Hoài là một cây bút văn xuôi đặc sắc có đóng góp lớn cho sự phát triển của
văn học Việt Nam hiện đại. Với hành trình sáng tạo nghệ thuật kéo dài 70 năm Tô
nghệ thuật hóa rất tài tình sống động"[8].
Giáo s Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Khái luận của Tổng tập văn học 30A
thì nhận xét: "Nhà văn có khiếu quan sát hết sức phong phú và sắc sảo, tài hoa hiểu
theo nghĩa vận dụng toàn bộ các giác quan để ghi nhận cảnh vật bên ngoài với tất cả
hình dáng, sự hoạt động, âm thanh, màu sắc, mùi vị của nó. ông có một trí tởng
tợng mạnh mẽ giúp ông rất nhiều khi miêu tảđồng thời có một vốn ngôn ngữ giàu
có mà ông cần cù tích lũy, để tạo nên những bức tranh chân thực, góc cạnh và đầy
hơng sắc"[50].
Giáo s Hà Minh Đức cũng nhận xét khái quát về tài năng của Tô Hoài ở khả
năng sử dụng ngôn ngữ khi miêu tả: "Sự tìm tòi rõ nhất trong nghệ thuật văn xuôi
của Tô Hoài thuộc lĩnh vực ngôn từ. Ông là một nhà văn sử dụng nhiều thể loại văn
học và ở loại thể nào mạch văn của ông cũng vơn tới giá trị của nghệ thuật ngôn từ
hay nói một cách nôm na là có văn. Tính văn của ngôn từ đợc tạo nên bằng nhiều
4
nỗ lực tìm tòi, sáng tạo. Ông không để câu văn rơi vào tình trạng chữ nghĩa sáo mòn
và lối biểu hiện nghèo nàn. Có nhiều hiện tợng còn khô khan, khó miêu tả nhng
dới ngòi bút của ông trở nên sinh động, cách diễn tả nhiều cảm hứng, liên tởng
đẹp, so sánh thích hợp, chữ nghĩa chọn lọc và gợi cảm"[11].
PGS TS Nguyễn Đăng Điệp thì nhận thấy: "Cái nhìn không nghiêm trọng
hóa là nét trội trong cảm quan nghệ thuật của Tô Hoài" và "Viết về cái của mình,
quanh mình là định hớng nghệ thuật cũng là kênh thẩm mĩ của Tô Hoài. Đúng hơn
đây là yếu tố cốt lõi làm nên quan niệm nghệ thuật của ông, nó khiến cho văn Tô
Hoài có đợc phong cách, giọng điệu riêng. Đó là một giọng kể nhẩn nha, tinh quái,
hóm hỉnh"[10]. Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất ý kiến cho rằng Tô
Hoài là một nhà văn có tài năng, có một tiếng nói riêng, một cái nhìn riêng và một
phong cách riêng độc đáo.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu nói trên, hồi kí cũng là mảng sáng tác
"đợc đọc nhiều, đọc kĩ trong vài giới hạn đọc". Cuốn hồi kí đầu tiên của Tô Hoài
mang tên Cỏ Dại ra đời năm ông mới ngoài 20 tuổi. Tự truyện cuốn tiếp theo in ra
của Tô Hoài từ văn phong đến con ngời. Thâm hậu mà dung dị, thì thầm mà không
đơn điệu, nhàm chán() Sức hấp dẫn chủ yếu của tác phẩm là sự chân thực"[61].
Đến Vơng Trí Nhàn trong lời bạt Tô Hoài và thể hồi kí thì coi: "Cát bụi chân
ai là dịp ngòi bút hồi kí của Tô Hoài tung hoành giữa những chuyện đã sống qua để
rồi dựng lên ngồn ngộn một bức tranh hoành tráng"[56].
Chiều chiều là cuốn hồi kí tiếp nối của Cát bụi chân ai. Về Chiều chiều giáo
s Phong Lê nhận định: "Cuốn sách luôn đợc ngời đọc cuốn hút bởi những gì mới
mẻ, không trùng lặp, không mờ nhạt không sút kém trong cái kho kỉ niệm của nhà
văn. Chẳng lên giọng, cũng chẳng cần ra bộ khiêm nhờng, Tô Hoài cứ tự nhiên mà
kể những gì mình đã trải, đã biết () và khả năng hoán đổi vị thế ấy làm nên sức hút
của văn hồi kí Tô Hoài"[44].
6
PGS TS Nguyễn Đăng Điệp cũng đa ra nhận định khẳng định giá trị của tác
phẩm: "Chiều chiều là những câu chuyện đợc ông thể hiện qua cái nhìn của mình
về những chuyện quanh mình. Đây là một trong trong hai tác phẩm xuất sắc nhất
trong văn nghiệp Tô Hoài". Theo PGS nét đặc sắc đó thể hiện trên ba phơng diện:
"Trớc hết là nghệ thuật tạo dựng không khí, giọng điệu, thứ hai là đặt nhân vật
trong muôn mặt đời thờng, thứ ba là các chi tiết giàu chất văn xuôi"[10].
Cùng với nhiều ý kiến đánh giá của các tác giả, Mai Văn Thọ trên tuần báo
Văn nghệ trẻ, Đặng Tiến trong Tổng quan về hồi kí Tô Hoài đều khẳng định hồi kí là
thể văn sở trờng của Tô Hoài, ở đó Tô Hoài đã xây dựng cả thế giới riêng của mình
với những cảm quan nhân bản đời thờng thấm thía, chân thực mà sâu sắc.
Bên cạnh các bài nghiên cứu, phê bình, tiểu luận về Tô Hoài ngời viết cũng
có dịp tiếp xúc với một số luận văn, luận án nghiên cứu về Tô Hoài:
- Tìm hiểu hồi kí Tô Hoài - Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn của Lê Minh
Hiền (1998) ĐHSP Hà Nội.
- Phong cách nghệ thuật Tô Hoài - Luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn của Mai
Thị Nhung (2005) ĐHSP Hà Nội.
- Nghệ thuật trần thuật của Tô Hoài qua hồi kí - Luận văn thạc sĩ khoa học
thuật hồi kí Tô Hoài trong Chiều chiều và Cát bụi chân ai. Ngời viết tiến hành khảo
sát hai tác phẩm chính là: Chiều chiều, Cát bụi chân ai.
Ngoài ra chúng tôi cũng khảo sát thêm một số hồi kí khác của Tô Hoài:
Những gơng mặt chân dung văn học, Cỏ dại, Tự truyện và một số tác giả hồi kí
Nguyên Hồng, Nguyễn Khải để làm nổi bật nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật
hồi kí Tô Hoài giúp cho việc tìm hiểu, đánh giá của luận văn thêm căn cứ khoa học.
5. Phơng pháp nghiên cứu
5.1. Phơng pháp hệ thống
Phơng pháp hệ thống đợc dùng trong việc đặt thể loại hồi kí của Tô Hoài
trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông để thấy đợc sự độc đáo, khả năng riêng
8
của nhà văn ở từng thể loại. Đồng thời thấy đợc những đổi mới, cách tân trong sáng
tạo nghệ thuật của nhà văn ở thể hồi kí.
5.2. Phơng pháp so sánh, đối chiếu
Đặt tác phẩm trong sự so sánh, đối chiếu với các tác phẩm cùng thể loại và với
một vài tác giả khác nhằm khẳng định sự khác biệt, độc đáo, cá tính sáng tạo riêng
của Tô Hoài trong nghệ thuật viết hồi kí.
5.3. Phơng pháp khảo sát, thống kê
Phơng pháp đợc sử dụng nhằm đa ra những chứng cứ cụ thể làm sáng tỏ và
tạo sức thuyết phục cho các luận điểm.
5.4. Phơng pháp phân tích, tổng hợp
Phơng pháp phân tích, tổng hợp đợc sử dụng để đi sâu khám phá, tìm hiểu
từng khía cạnh và khái quát, tổng hợp để khái quát những vấn đề của nội dung.
6. Đóng góp của luận văn
Về cơ sở lý luận: Cung cấp những kiến thức cơ bản về thể hồi kí nói chung và
phong cách nghệ thuật hồi kí Tô Hoài nói riêng dới góc độ thi pháp học.
Về cơ sở thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu nói trên góp phần vào việc giảng
dạy tác phẩm của Tô Hoài trong nhà trờng đạt hiệu quả cao hơn.
là một hình thức biểu hiện của cuộc sống trong trạng thái vận động trôi chảy, phát
huy đợc sức mạnh của thể loại vào những khúc quanh, những bớc ngoặt của lịch
sử, của thời đại. Chính vì vậy, so với các thể loại khác nh tiểu thuyết, truyện ngắn,
kịch, thơ thì kí là thể loại gây ra nhiều tranh cãi, bàn luận xung quanh các vấn đề liên
quan đến nó nhất.
Theo Từ điển văn học: "Kí phản ánh sự việc và con ngời có thật trong cuộc
sống, tính chính xác tối đa là đặc trng cơ bản của kí. Do đó sức hấp dẫn, sức thuyết
phục của kí một phần do chính sự việc đợc phản ánh trong tác phẩm. So với tiểu
thuyết, truyện ngắn, kí phản ánh nhanh chóng, chính xác và linh hoạt cuộc sống"
[21].
10
Từ điển Tiếng Việt cho rằng: "Kí là một thể văn tự sự viết về ngời thật, việc
thật có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực ở mức cao nhất"[14].
Từ điển thuật ngữ văn học xác định: "Kí là một loại hình văn học trung gian,
nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể văn xuôi tự sự() không nên căn cứ vào
cách gọi tên của nhà văn để xác định thể loại(). Kí không nhằm vào việc miêu tả
quá trình hình thành tính cách cá nhân trong tơng quan với hoàn cảnh(). Đối
tợng nhận thức thẩm mĩ của kí thờng là một trạng thái đạo đức - phong hóa xã hội
(thể hiện qua những cá nhân riêng lẻ) một trạng thái tồn tại của con ngời hoặc
những vấn đề xã hội nóng bỏngVì thế nhiều tác phẩm kí gần gũi với truyện ngắn.
Nhng khác với truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, kí mang đặc trng
thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống và h cấu. Ngời viết kí phải
luôn đảm bảo cho tính xác thực của đời sống phản ánh trong tác phẩm. Kí thờng
không có cốt truyện nhng lại có tính h cấu. Sự việc và con ngời trong kí phải xác
thực hoàn toàn, có địa chỉ hẳn hoi vì kí dựng lại những sự thật đời sống cá biệt một
cách sinh động chứ không xây dựng hình tợng mang tính khái quát" [59].
Có thể nói, tính chính xác là đặc trng cơ bản và quan trọng nhất của kí. Nói
nh vậy không có nghĩa là ngời viết kí không có quyền h cấu, tởng tợng. Nhng
h cấu trong kí khác với h cấu trong truyện. Nếu truyện dùng h cấu tởng tợng
để tạo ra cái hiện thực thứ hai cao hơn hiện thực ngoài đời sống thì kí chỉ thể hiện vai
Song dới hình thức diễn đạt sinh động, trực tiếp của tác giả các sự kiện này trở nên
có giá trị nh một tài liệu đáng tin cậy.
"Hồi kí đòi hỏi phải hết sức tôn trọng tính chân thực của câu chuyện: sự việc,
số liệu, thời gian phải chính xác"[21]. Tuy nhiên tính chính xác, chân thực trong hồi
kí không đòi hỏi tới mức nó phải là sự sao chép thụ động theo kiểu máy ảnh, máy ghi
âm, cũng không phải là bản tin thông báo về các sự kiện lịch sử hay tiểu sử của nhà
văn. Tính chân thực trong hồi kí phụ thuộc vào khả năng ghi nhớ, vào sự chân thực
12
của chính tác giả, ngời viết hồi kí. Nếu ngời viết hồi kí có biệt tài riêng trong việc
ghi nhớ các sự kiện xảy ra trong quá khứ thì sự việc dù xảy ra đã lâu nhng mọi chi
tiết, sự kiện vẫn đợc tái hiện một cách chân thực nh vừa mới diễn ra. Hồi kí Tô
Hoài là một điển hình cho khả năng ghi nhớ của nhà văn, đặc biệt là hai cuốn Cát bụi
chân ai, Chiều chiều.
Hồi kí thờng chú ý đến các sự kiện mang tính tiểu sử. Nhng khác với các sử
gia, các nhà nghiên cứu tiểu sử ngời viết: "Chỉ tái hiện cái phần hiện thực nằm trong
tầm nhìn của mình, anh ta thờng chỉ căn cứ chủ yếu vào những ấn tợng và hồi ức
của bản thân mình"[2]. Vấn đề nổi lên hàng đầu ở thể văn này là bản thân ngời viết
hoặc các nhân vật, sự kiện liên quan đến anh ta trong đời sống, đợc đặt trong trờng
nhìn, sự đánh giá nhận xét của chính anh ta. Hồi kí do vậy thờng mang đậm tính
chủ quan. Các sự việc, hiện tợng đợc phản ánh, đợc kể lại trong hồi kí chịu sự
tác động của quy luật "quên lãng" và "làm méo lệch" của cơ chế hồi ức. Nếu câu
chuyện xảy ra trong quá khứ gần hoặc mới xảy ra ngời viết còn nhớ rõ thì dòng hồi
tởng có thể chân thực, sinh động đến từng chi tiết. Song cũng có khi câu chuyện đã
lùi sâu vào dĩ vãng, ngời kể quên đi một số chi tiết đòi hỏi phải dùng trí tởng tợng
để h cấu nhào nặn bổ sung cho cái khung hiện thực trở nên sinh động, hấp dẫn.
Ngời viết dùng h cấu để tái tạo hiện thực nhằm phản ánh một cách đầy đủ
và toàn vẹn diện mạo của đời sống trong tính đa dạng, phức tạp của nó. Bản thân
nghệ thuật là sự chắt lọc của đời sống, là sự lựa chọn những nét điển hình làm cho
tác phẩm có chỗ đứng trong lòng công chúng. Xây dựng hình tợng nghệ thuật đòi
hỏi nhà văn phải lựa chọn các chi tiết đan cài các suy nghĩ, tâm trạng nhân vật. Đó
Cùng với Phan Bội Châu niên biểu, một số bài viết có tính chất hồi kí nh
Giấc mộng lớn, Giấc mộng con của Tản Đà. ý thức về con ngời cá nhân, bản lĩnh cá
nhân cùng với cốt cách của bậc trợng phu đã tạo cho Tản Đà cái ngông của ngời
trí thức ý thức rõ về con ngời của mình. Ngoài ra còn phải kể đến sự xuất hiện của
Tơng Phố với Giọt lệ thu. Đây là tiếng lòng của cô gái Bắc Ninh hồi tởng lại
14
những tháng ngày đẹp đẽ của tình nghĩa vợ chồng và bày tỏ nỗi lòng thơng nhớ
khôn nguôi của ngời vợ với ngời chồng quá cố.
Những năm 1930-1945 hồi kí phát triển mạnh trên văn đàn văn học. Nhiều tác
phẩm hồi kí, tự truyện liên tiếp ra đời với nội dung chủ yếu viết về thân phận, số
phận của các nhà văn trong một đoạn đời cụ thể. Sự phát triển của hồi kí giai đoạn
này đánh dấu sự du nhập của văn hoá phơng Tây vào Việt Nam, làm thay đổi đời
sống xã hội, thay đổi nhận thức, t tởng của con ngời. Đánh thức nhu cầu cá nhân,
nhu cầu bộc lộ mình, đợc nói lên tiếng nói của cá nhân mình. T tởng đó xuất hiện
trong thơ, trong tiểu thuyết rõ nhất là trong hồi kí.
Đến giai đoạn 1945-1954, đất nớc bớc vào cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp. Hồi kí lại phát triển theo một hớng khác. Thời điểm này do áp lực của xã
hội trớc các vấn đề xung đột dân tộc và giai cấp kí văn học chuyển hớng phát triển
sang thể kí sự, bút kí để kịp thời phản ánh những sự kiện dồn dập đang diễn ra trên
khắp đất nớc. Đến năm 1950, hồi kí mới xuất hiện trở lại nhng là hồi kí cách
mạng. Đây là dòng hồi tởng của các chiến sĩ cách mạng lớp trớc, các sĩ quan quân
đội về những năm tháng hoạt động cách mạng đầy gian khổ, những chiến công oanh
liệt mà họ và đồng đội đã trải qua. Hồi kí cách mạng đề cao chủ nghĩa yêu nớc, chủ
nghĩa anh hùng cách mạng bồi đắp tình cảm yêu nớc, lòng tự hào về truyền thống
cách mạng của thế hệ đi trớc mở đờng. Những cuốn hồi kí cách mạng Hai lần vợt
ngục của Trần Đăng Ninh, Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận. Hồi kí của Võ Nguyên
Giáp, Nguyễn Thị Định. Các hồi kí Nhân dân ta rất anh hùng, Trên đờng thắng
lợi, Ngời trớc ngã ngời sau tiến của nhiều tác giả Nhân vật trong các hồi kí này
là những con ngời gắn liền với các biến cố trọng đại của cách mạng, của dân tộc.
Họ là những con ngời vĩ đại chiến đấu vì nớc, vì dân.
loạt các hồi kí văn học. Mảnh đất hồi kí văn học giai đoạn này thu hút đông đảo sự
đánh giá của d luận. Tô Hoài với hai tác phẩm hồi kí Cát bụi chân ai, Chiều chiều
đã thực sự gây tiếng vang lớn trong lòng độc giả và giới nghiên cứu phê bình. Hoà
16
cùng trào lu đó các nhà văn, nhà thơ vốn rất quen thuộc với bạn đọc cũng tung ra
những trang viết về cuộc đời của chính mình. Anh Thơ với hồi kí Từ bến sông
Thơng(1985), Nguyễn Văn Bổng với hồi kí Thời đã qua (1995), Lu Trọng L với
hồi kí Nửa đêm sực tỉnh(2001), Huy Cận với hồi kí Song đôi (2003) và hàng loạt các
hồi kí khácPhong phú về số lợng, đa dạng trong khuynh hớng sáng tác, hồi kí
giai đoạn này đã giành đợc tiếng nói riêng của mình trên văn đàn văn học nghệ
thuật. Ta bắt gặp điểm tơng đồng giữa hồi kí Tô Hoài và Nguyễn Văn Bổng trong
việc xây dựng chân dung của chính mình cũng nh chân dung các bạn văn cùng
thời. Hai hồi kí Cát bụi chân ai, Chiều chiều Tô Hoài ít đề cập đến quá trình sáng tác
của bản thân mà chủ yếu viết về đời sống văn nghệ với hàng loạt chân dung các nhà
văn Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Phùng QuánMỗi
ngời một vẻ, một số phận riêng không ai giống ai nhng thông qua chân dung của
họ Tô Hoài tái hiện lại đời sống văn học văn học ngày hôm qua trong cái nhìn chân
thành trong sáng nhng cũng chứa đựng nhiều sai lầm, ấu trĩ của một thời. Khác với
Tô Hoài, Nguyễn Văn Bổng, Lu Trọng L lại đắm mình trong dòng hồi tởng với
những cảm xúc riêng t trớc sự thay đổi của số phận con ngời. Anh Thơ, Huy Cận
lại đi vào tái hiện những sự kiện đời t của cá nhân mình mà ít chú ý đến những miền
còn khuất lấp trong đời sống xã hội. Nhờ không khí dân chủ trong thời kì đổi mới,
nghệ sĩ có cơ hội đợc đối thoại với đời sống một cách cởi mở. Hồi kí chính là một
hình thức giao tiếp đặc biệt của nhà văn với bạn đọc về mọi vấn đề của cuộc sống
hôm nay.
1.2. Quan niệm của Tô Hoài về hồi kí
Tô Hoài có quan niệm riêng về hồi kí. Đối với ông kí nói chung và hồi kí nói
riêng không phải là thể loại đàn em trong sáng tạo văn học, không thể so sánh với
các thể loại khác theo lối định mức. Hồi kí là một thể loại rất cần đến sự sáng tạo của
ngời nghệ sĩ. Viết hồi kí nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại bằng câu chuyện
có làm đợc hay không lại là chuyện khác. Khi có cuốn sách không đợc phát hành
18
hoặc bị phê phán tôi nghĩ mình vẫn phải viết mà không để ý cuốn sách đó liệu có
xuất bản đợc hay không". Nhà văn giải thích, viết hồi kí là là một cuộc đấu tranh t
tởng vì: "Không đấu tranh với chính mình thì cha chắc nói ra sự thật đợc. Mà đôi
khi chỉ là nửa sự thật. Đã là sự thật thì không tầm thờng cho dù có ngời nói tôi đã
"đập vỡ" các thần tợng của họ. Nhìn chung, trong hồi kí thờng thì ngời ta không
nói thật về mình lắm hoặc chỉ nói tốt về mình. Tôi ít viết về mình mà viết về các nhà
văn. Đọc bản thảo cho bạn bè, họ thích thế là tôi cho ra một tập chân dung các nhà
văn"[75].
Đối với Tô Hoài viết hồi kí không phải để tô hồng kỉ niệm, không phải để
khoe mình, nịnh ngời, không phải để báo công mà là để nói ra sự thật. Vì vậy khi
đợc hỏi vấn đề liệu Tô Hoài có thêm thắt vào những câu chuyện khi xây dựng chân
dung các nhà văn trong cuốn hồi kí của mình hay không, Tô Hoài khẳng định rằng:
"Sự thật đã là đẹp rồi. Đôi khi tôi tự hỏi cách viết của mình có gì không đúng chăng?
Tôi chỉ sợ viết những điều mình không biếtVí dụ nh viết về thời đi học ở trờng
chính trị hai năm, thực tế thế nào thì tôi viết nh thế. Cuối cùng viết xong ngời ta
không bằng lòng vì cho rằng ở trờng đó không thể có chuyện mất cắp đợc. Còn
nếu hỏi có thêm thắt hay không thì tôi khó có thể trả lời câu hỏi này. Khi tôi viết
Mời năm có nhiều ngời phê bình dữ dội mà tôi đâu có nản lòng, chỉ rút kinh
nghiệm cho riêng mình thôi"[75].
Cuộc đấu tranh t tởng đó diễn ra trong suốt quá trình ông viết. Ông vừa dò
dẫm quá khứ, vừa dũng cảm, trung thực đấu tranh với chính bản thân mình. Với quan
niệm tiến bộ về hồi kí nh vậy Tô Hoài đã thể hiện rất sinh động trong các sáng tác
của mình. Hồi kí Tô Hoài nhất là những tác phẩm hồi kí viết những năm 90 trở lại
đây thực sự gây đợc tiếng vang lớn với độc giả trong và ngoài nớc khẳng định bút
lực sở trờng của ông trong lĩnh vực này.
1.3. Phong cách và những yếu tố tạo nên phong cách nghệ thuật hồi kí Tô Hoài
1.3.1. Giới thuyết về phong cách nghệ thuật
19
của nó, hoàn toàn phù hợp với nội dung ấy" và "Hình thức của tác phẩm nghệ thuật
có đợc một phong cách nào đó chính là nhờ tính hình tợng và tính biểu hiện của
nó. Tác phẩm xét về mặt hình thức là một hệ thống hình tợng đợc tạo thành từ
nhiều chi tiết, ngữ nghĩa, ngôn từ và khách thể khác nhau, các biện pháp kết cấu và
cú pháp, ngữ điệu khác nhau. Hơn nữa các chi tiết, hình tợng và thủ pháp ấy lại
mang trong mình một tính biểu cảm, cảm xúc, t tởng nào đó. Sự thống nhất thẩm
mĩ của mọi chi tiết hình tợng, biểu cảm của hình thức tác phẩm phù hợp với nội
dung của nó đó là phong cách"[64,tr.176].
Viện sĩ M.B Khrapchenco sau khi thống kê một số định nghĩa xung quanh
phạm trù phong cách cá nhân đã đa ra ý kiến riêng của mình: "Phong cách cần phải
đợc định nghĩa nh thủ pháp biểu hiện, cách khai thác hình tợng đối với cuộc sống
nh thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả"[40,tr.152]. Cùng với việc quan tâm đến
yếu tố hình thức có tính nội dung tác giả còn đặc biệt coi trọng sự thu hút độc giả.
Ông cho rằng: "Mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những phơng
tiện độc đáo để thể hiện những t tởng và hình tợng của mình, những biện pháp và
những phơng tiện cho phép nhà văn đó làm cho những t tởng và hình tợng ấy trở
thành hấp dẫn, dễ lôi cuốn gần gũi với công chúng, độc giả"[40,tr.152].
Nh vậy xung quanh khái niệm phong cách còn tồn tại nhiều quan điểm khác
nhau nhng tập trung khái quát ở hai ý cơ bản : Một nhấn mạnh sự thống nhất của
những yếu tố nội dung và những yếu tố tạo hình thức của tác phẩm. Hai coi phong
cách nh là hình thức toàn vẹn có tính chất nội dung.
ở Việt Nam, các nhà lí luận nghiên cứu văn học cũng nghiên cứu rất nhiều nội
hàm thuật ngữ phong cách. Trong Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: "Phong cách nghệ thuật là một phạm trù
thẩm mĩ chịu sự thống nhất tơng đối ổn định của hệ thống hình tợng, của các
phơng tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một
nhà văn, trong một tác phẩm riêng lẻ, trong trào lu văn học hay văn học dân tộc.
21
Trong chỉnh thể "nhà văn" ( hiểu theo nghĩa các sáng tác của một nhà văn) cái riêng
tạo nên sự thống nhất lặp lại ấy, biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế
Nhng dù ở môi trờng nào, xu thế xã hội ra sao thì phong cách nghệ thuật của nhà
văn vẫn phải đợc đặt trong phong cách thời đại. Đó là những cái chung tạo nên sự
gần gũi của những phong cách cá nhân. Vì không thể tồn tại phong cách riêng lẻ nếu
thiếu phong cách khuynh hớng chung. Phong cách tác giả còn phải đợc đặt trong
mối quan hệ phong cách và phơng pháp, phong cách học và thi pháp học.
Nghiên cứu phong cách nghệ thuật Tô Hoài trong hồi kí Cát bụi chân ai,
Chiều chiều chúng tôi tiến hành trên cơ sở định hớng : Từ việc khảo sát, phân tích,
tổng hợp một số phơng diện đặc sắc về nội dung, nghệ thuật trong hai tác phẩm
chúng tôi tìm ra nét độc đáo riêng tạo nên phong cách nghệ thuật trong hồi kí Tô
Hoài.
1.3.2. Những yếu tố tạo nên phong cách nghệ thuật hồi kí Tô Hoài
1.3.2.1. Hoàn cảnh gia đình và xã hội
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920 trong một gia đình thủ
công nghèo làm nghề dệt lụa ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ nay
là phờng Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Quê nội của ông ở thị trấn Kim Bài,
huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Bút danh Tô Hoài cũng xuất phát từ hai địa danh
sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức của quê ngoại nhà văn ở làng Nghĩa Đô.
Ngay từ nhỏ ông đã sớm hoà mình vào cuộc sống của gia đình lúc phong lu
cũng nh khi sa sút, túng quẫn. Với những niềm vui bình dị, đôi khi pha chút buồn
thấm thía, xót xa. Gia đình trong kí ức Tô Hoài ngày ấy là ngôi nhà cổ với nhiều kỉ
niệm. Mỗi góc nhà, mỗi cột nhà đều gắn liền trong kí ức ông với những câu chuyện
kì lạ, bí ẩn. Trong gian nhà ấy ông cảm nhận đợc niềm vui sum họp và cả nỗi buồn
chia li khi ngời cha phải từ giã quê hơng vào Sài Gòn kiếm sống vì đã đi tìm việc
nhiều nơi nhng không có. Khi tin tức về ngời cha bặt vô âm tín, tiền gửi tha dần
rồi mất hẳn cũng là lúc thằng cu Bởi phải thôi học, rời Kẻ Chợ về cõng em.
23
Trong kí ức Tô Hoài còn in đậm hình ảnh ngời mẹ hiền lành, tần tảo, cam
chịu số phận nhọc nhằn mà cái nghèo, cái đói cứ bám riết lấy và cả nỗi đau về tinh
thần mà mẹ phải hứng chịu. Đứa con gái xấu số của mẹ đã mất vì bệnh sởi và có tới
mấy năm rồi không tin tức bố tôi "ngời làng bên đồn bố tôi đã lấy vợ trên Sài Gòn".
Do hoàn cảnh gia đình ông chỉ đợc học hết bậc tiểu học rồi sớm trở thành
thợ cửi. Làng nghề lụi bại, ông phải lận đận trong công cuộc mu sinh. Làm đủ mọi
nghề để kiếm sống: Từ bán hàng, phụ kế toán đến coi kho cho hiệu buôn giày, dạy
học và trải qua cả những tháng ngày thất nghiệp tủi nhục không một xu dính túi.
Những ngày tháng ấy hiện lên qua Tự truyện thật xót xa và cay đắng: "Ngày ngày tôi
cuốc bộ vào thành phố tha thẩn ở các vờn hoa. Tôi xem kiến bò đến tận hôm tôi có
thể phân biệt rạch ròi ra từng loại kiến xây tổ khác nhau". Và bi đát hơn, trong hoàn
cảnh khốn cùng đó Tô Hoài đã từng theo bạn đến nơi ở của những cô gái nhảy với ý
định "sống tạm" theo cách để một cô nào đấy "bao" đến lúc có việc làm hãy hay.
Không khuất phục trớc hoàn cảnh, luôn nỗ lực vơn lên để khẳng định mình,
Ông tự trau dồi tri thức bằng việc đọc bất cứ thứ gì có thể đọc đợc. Những chồng
Tiểu thuyết thứ bảy bán cân mua ở hiệu sách cũ khiến Tô Hoài "mải mê đọc mà
không hề để ý điều đó". Niềm ham mê đọc sách giúp ông có vốn sống ngày càng
phong phú. Những câu chuyện thợng vàng, hạ cám nh giá cả sinh hoạt, chợ búa,
tiếng nhà nghề, tiếng địa phơng đều đợc ông ghi chép một cách tỉ mỉ, chi tiết và
trở thành yếu tố quan trọng tạo nên sự gắn bó máu thịt với cuộc sống thôn dã, bình dị
ở các miền quê mà ông từng gắn bó.
Không chỉ đọc nhiều, Tô Hoài còn chịu khó học hỏi cuộc sống đang diễn ra
xung quanh. Với khả năng quan sát tinh tờng đến mức "con ruồi bay qua cũng
không lọt khỏi mắt" (Vơng Trí Nhàn). Mọi biến động cuộc sống xoay quanh cuộc
đời nhân vật đều đợc nhà văn phản ánh chân thực góp phần đem lại bản chất vốn có
của nó. Đến với nghề văn một cách tự nhiên, Tô Hoài sớm nhận ra văn xuôi chính là
mảnh đất canh tác màu mỡ của mình. Ông thực sự say mê cuộc sống sinh hoạt bình
25
dị của làng quê, gia đình, bạn bè, bản thân và các phong tục tập quán của các dân
tộc. Cả cuộc đời cầm bút, Tô Hoài bám riết lấy cuộc sống trong cảm quan hiện thực
để tung hoành và bộc lộ sở trờng của mình một cách toàn diện, sâu sắc.
Là ngời sớm giác ngộ cách mạng, nhiệt tình tham gia nhiều công việc đoàn
thể, chính quyền từ khi còn rất trẻ, Tô Hoài đã từng giữ nhiều cơng vị trong Hội văn
nghệ, Hội nhà văn. Ông cũng từng là đại biểu quốc hội, từng tham gia các đoàn thể