dạy học thơ tố hữu ở trung học phổ thông theo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật - Pdf 18

CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CT Chương trình
ĐC Đối chứng
GV Giáo viên
GD - ĐT Giáo dục đào tạo
HS Học sinh
PPDH Phương pháp dạy học
SGK Sách giáo khoa
SGV Sách giáo viên
THPT Trung học phổ thông
THCS Trung học cơ sở
TNCS Thanh niên cộng sản
TP Tác phẩm
TPVC Tác phẩm văn chương
TPVH Tác phẩm văn học
TN Thực nghiệm
VB Văn bản
VB Việt Bắc
1
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ( xếp theo A B C ) ii
MỞ ĐẦU trang 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu 5
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Cấu trúc luận văn 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1. Thể loại và dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại 10

3.4.1. Tiến hành kiểm tra 100
3.4.2. Kết quả kiểm tra 101
3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 111
3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong bối cảnh chung của nền Giáo dục nước nhà, chất lượng dạy và học
thực sự là vấn đề được quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Chất lượng thực
trong dạy học là đào tạo ra được những con người có tri thức, kỹ năng, nhân
cách toàn diện để có thể đáp ứng những yêu cầu đổi thay không ngừng của
cuộc sống hiện đại. Trong lịch sử từ xưa tới nay thời đại nào xã hội phát triển
là thời đó có nền giáo dục phát triển và ngược lại. Ngày nay, Đảng và Nhà
nước ta luôn xác định giáo dục có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển xã hội, giáo dục luôn được coi là quốc sách
hàng đầu. Vì vậy, câu hỏi đặt ra: làm thế nào để nâng cao được chất lượng
giáo dục là vấn đề được quan tâm đặc biệt không chỉ ở Việt Nam mà còn ở tất
cả các nước trên thế giới. Đổi mới quy trình, chương trình đào tạo và phương
pháp dạy học là những vấn đề thời sự của tất cả hệ thống giáo dục. Rất nhiều
phương pháp dạy học mới được thử nghiệm nhằm đào tạo những người lao
động có bản lĩnh, có năng lực chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn
sàng thích ứng với những đổi thay của xã hội hiện đại…Phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt động tập thể để tự phát hiện,
tự giải quyết các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, từ đó tự chiếm lĩnh
và vận dụng các kiến thức và kĩ năng cơ bản dưới sự tổ chức và hướng dẫn
của giáo viên là một nhu cầu cấp thiết.
Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở
nước ta đã được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp quản lí giáo dục rất quan

và nhân văn, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức về tiếng
Việt, văn học và làm văn, hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử
dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học. Qua môn học này, học
sinh có thêm những hiểu biết về văn hoá, xã hội, lịch sử, đời sống nội tâm của
con người và bản thân. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao
chất lượng giảng dạy, nâng cao khả năng tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm văn
5
học cho học sinh luôn được người làm công tác dạy Ngữ Văn quan tâm.
Muốn đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất, việc giảng dạy văn học phải tiến
hành sao cho phù hợp với đặc trưng bộ môn, vừa mang bản chất xã hội, vừa
là một hiện tượng thẩm mỹ, hiện tượng nghệ thuật. Loại thể văn học là một
vấn đề thuộc hình thức nghệ thuật của văn học, có liên quan khăng khít đến
nội dung. Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới hình thức một loại thể nhất
định, đòi hỏi một phương pháp, một cách thức phân tích giảng dạy phù hợp
với nó.Vì vậy, vấn đề loại thể văn học trong thực tế giảng dạy ở trường phổ
thông đặt ra không những như một vấn đề tri thức mà chủ yếu còn là vấn đề
về phương pháp. Nói đến vấn đề loại thể trong văn học là nói đến tính chính
thể trong một tác phẩm với sự thống nhất của một nội dung nhất định trong
một hình thức nhất định.Việc tìm hiểu đặc trưng loại thể văn học càng trở nên
quan trọng hơn bao giờ hết. Đó là chìa khoá để khám phá những giá trị đích
thực của từng tác phẩm, cùng với sự vận động và phát triển của nền văn học.
Song song với dạy học văn học theo đặc trưng thể loại thì mỗi tác phẩm văn
chương còn mang phong cách riêng của từng tác giả. Nói đến phong cách
nghệ thuật tác giả là nói đến đặc điểm riêng trong cách thức thể hiện nội dung
cũng như nghệ thuật tác phẩm. Muốn nghiên cứu, giảng dạy thành công một
tác phẩm văn chương thì vấn đề thể loại và phong cách nghệ thuật tác giả cần
quan tâm hàng đầu. Điều đó nhất thiết đòi hỏi phải có phương pháp và biện
pháp dạy học phù hợp để đạt hiệu quả.
Thực tiễn sư phạm chỉ ra rằng việc dạy học văn ở nhà trường Việt
Nam chúng ta hiện nay đã bộc lộ không ít những hạn chế về nhiều mặt. Dạy

và là lá cờ đầu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Là một nhà thơ lớn, Tố Hữu
không chỉ là người thể hiện sâu sắc tinh thần thời đại, mà còn là người đánh
dấu một bước phát triển mới của thơ ca dân tộc. Thơ Tố Hữu đã thực sự trở
thành một bộ phận không thể tách rời của đời sống tâm hồn Việt Nam. Từ già
đến trẻ, người Việt Nam hầu như chẳng có ai là không thuộc, không yêu ít
nhiều thơ Tố Hữu. Mỗi tác phẩm thơ Tố Hữu đều mang đậm đặc trưng thể
7
loại và phong cách riêng của nhà thơ. Tuy nhiên việc dạy tác phẩm thơ Tố
Hữu ở trường THPT hiện nay còn đơn điệu, tẻ nhạt, chưa xác định đúng “chất
của loại” trong thể và chưa bám vào phong cách nghệ thuật của tác giả nên
chưa tạo được hứng thú cho học sinh. Mặt khác thành tựu thơ ca mà nhà thơ
Tố Hữu để lại cho nền văn học nước nhà chưa có được chỗ đứng xứng đáng
trong lòng những người yêu văn chương.
Với những trăn trở về hiệu quả tiếp nhận tác phẩm thơ Tố Hữu của học
sinh THPT cùng với mong muốn tha thiết khám phá cái hay, cái đẹp của mỗi
tác phẩm, tôi quyết định chọn đề tài: “Dạy học thơ Tố Hữu ở Trung học phổ
thông theo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật”. Hi vọng, sự thành
công của đề tài này sẽ góp một tiếng nói vào việc dạy học văn học theo đặc
trưng thể loại và phong cách nghệ thuật cũng như tìm ra một hướng đi mới
cho việc dạy học thơ Tố Hữu trong nhà trường phổ thông.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.Tình hình nghiên cứu dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể
loại và phong cách nghệ thuật.
Những năm gần đây do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, GV
Ngữ Văn các cấp đã được bồi dưỡng nhiều tri thức các thể loại văn học và
dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại. Bên cạnh đó cũng có
nhiều công trình nghiên cứu, các tài liệu hướng dẫn phân tích tác phẩm văn
chương theo loại thể. Trên cơ sở những thành tựu về loại thể văn học và thi
pháp học, nhiều nhà nghiên cứu, nhà sư phạm tâm huyết đã đề xuất cách
thức, con đường dạy học sinh cảm thụ, tiếp nhận tác phẩm văn chương nói

THPT nhất là phần văn học Việt Nam xưa và nay. Mặt khác, tác giả cũng đưa
ra phương pháp vận dụng đặc trưng các loại thể vào việc giảng dạy các tác
phẩm trong chương trình Ngữ Văn THPT, có kết hợp phân tích một số bài
tiêu biểu thuộc các thể loại khác nhau…
9
2.2. Tình hình nghiên cứu của chuyên ngành phương pháp dạy học văn về thơ
Tố Hữu và dạy học thơ Tố Hữu.
Tố Hữu là một nhà thơ lớn của nền thơ ca Việt Nam. Ông đã để lại cho
đời một sự nghiệp văn chương có giá trị cao. Đời thơ của ông được tập hợp
trong 7 tập thơ, ra đời cùng với chiều dài lịch sử của dân tộc: Từ ấy, Việt
Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta. Từ Từ ấy đến
Ta với ta là cả một cuộc hành trình dài của đời thơ Tố Hữu.
Mỗi tập thơ Tố Hữu ra đời là một hiện tượng văn học lớn và đã thu hút
giới phê bình nghiên cứu một cách đông đảo. Có đến hàng chục công trình
nghiên cứu văn học về thơ ông. Đáng chú ý hơn cả là những công trình của
các nhà thơ nổi tiếng như: Xuân Diệu, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Lưu Trọng
Lư,…; của các nhà nghiên cứu phê bình văn học có tên tuổi như: Hoài Thanh,
Đặng Thai Mai, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, vv… và
một số bài viết của chính tác giả về đời mình và thơ mình. Các công trình
nghiên cứu, các bài viết tập trung vào một số vấn đề sau trong đời và thơ Tố
Hữu:
Con đường thơ của Tố Hữu: gồm các bài viết về các tập thơ của ông,
khuynh hướng vận động của thơ Tố Hữu.
Phong cách nghệ thuật: là các công trình nghiên cứu các bài viết tập
trung khai thác, khám phá những giá trị đặc sắc trong thơ Tố Hữu cả về nội
dung lẫn hình thức nghệ thuật.
Luận đề về Tố Hữu: tác phẩm tiếp nhận và thưởng thức là những bài
viết đi sâu vào tìm hiểu, phân tích, thẩm bình một số bài thơ tiêu biểu của Tố
Hữu qua các chặng đường thơ của ông.
Hồi ức và kỷ niệm: gồm những kỷ niệm về một đời người và đời thơ

ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định.
Xác định phương hướng dạy học hợp lí và hiệu quả cho việc dạy học
thơ Tố Hữu ở THPT theo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật.
11
Thiết kế bài dạy tác phẩm thơ Tố Hữu trong chương trình THPT theo đặc
trưng thể loại và phong cách nghệ thuật. Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng kết
quả nghiên cứu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Dạy học thơ Tố Hữu cho học sinh THPT.
4.2. Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 11,12, GV dạy Ngữ Văn 11, 12, ở
một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định.
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
Đặc trưng thi pháp thể loại và phong cách nghệ thuật tác giả, cách tổ
chức hoạt động dạy học thơ Tố Hữu trong chương trình Ngữ Văn THPT theo
đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật.
Tại trường THPT Xuân Trường B, huyện Xuân Trường và một số
trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Nam Định.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các tài liệu, giáo trình có
nội dung liên quan.
Phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích.
Phương pháp nghiên cứu theo quan điểm liên ngành: vận dụng kiến
thức về Văn học Việt Nam, Lí luận dạy học hiện đại vào giải quyết đề tài.
Phương pháp quy nạp, tổng hợp, khái quát.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Khuyến nghị; Tài liệu tham khảo và Phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng và định hướng dạy học thơ Tố Hữu ở THPT
theo đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật

13
cơ sở khách quan tồn tại thể loại văn học và cũng là điểm xuất phát để xây
dựng nguyên tắc phân chia thể loại văn học.
Lí luận văn học dựa vào yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học
thành các loại và thể (hoặc thể loại, thể tài). Loại rộng hơn thể, thể nằm trong
loại. Bất kì tác phẩm nào cũng thuộc một loại nhất định và quan trọng hơn là
có một hình thức thể nào đó. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có ba loại: tự sự,
trữ tình, kịch. Mỗi loại lại bao gồm một số thể.
Thể loại là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm. Cùng một loại
nhưng các thể khác nhau rất sâu sắc. Ngoài đặc trưng của loại, các thể còn
phân biệt nhau bởi hình thức lời văn (thơ và văn xuôi), dung lượng (truyện
dài, truyện ngắn,…), loại nội dung cảm hứng (bi kịch, hài kịch, thơ trào
phúng, thơ ca ngợi,…). Một số nhà nghiên cứu còn đề xuất cách chia thể theo
loại đề tài, chủ đề, chẳng hạn: thơ tình, thơ điền viên, truyện lịch sử, truyện
tâm lí xã hội, truyện phong tục,… Điều này cho thấy thể loại văn học là sự
thống nhất giữa một loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phương
thức chiếm lĩnh đời sống. Các thể loại văn học “là một phạm trù lịch sử. Nó
chỉ xuất hiện vào một giai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau đó
biến đổi và được thay thế” (D.Li-kha-chốp), vì vậy khi tiếp cận với các thể
loại văn học cần tính đến thời đại lịch sử của văn học và những biến đối, thay
thế của chúng.
Bất kì tác phẩm văn học nào cũng đều tồn tại trong một dạng thức nhất
định. Đó là sự thống nhất mang tính chỉnh thể của một loại nội dung với
những phương thức biểu đạt và hình thức tổ chức tác phẩm, tổ chức lời văn.
Thể loại văn học chính là sự phân chia loại hình tác phẩm theo những căn cứ
nêu trên. Thể loại văn học là sự thống nhất giữa một loại nội dung với một
dạng hình thức văn bản và phương thức tái hiện đời sống.
Thể loại vừa có tính ổn định lại vừa có sự vận động, biến đổi trong tiến
trình văn học. Mỗi thể loại được sinh ra ở một thời kì nhất định, rồi được duy
trì, biến đổi hoặc mất đi trong các thời đại văn học khác, được thay thế bằng

15
được chia ra làm ba loại chính: loại tác phẩm tự sự, loại tác phẩm trữ tình, loại tác
phẩm kịch.
Tác phẩm tự sự (nghĩa đen là kể việc) là loại tác phẩm dùng lời kể tái
hiện lại những việc làm biến cố nhằm dựng lại một dòng đời như đang diễn ra
một cách khách quan, qua đó bày tỏ một cách hiểu và một thái độ nhất định.
Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có lời kể, lời miêu tả (của người kể chuyện
đang chứng kiến, kể ra theo một điểm nhìn) với một giọng điệu nhất định; có
cốt truyện chính là cái biến cố xảy ra liên tiếp, sau cái này là cái kia hoặc là
cái này làm nảy sinh cái kia, xô đẩy nhau tới một đỉnh cao buộc phải giải
quyết, giải quyết xong thì truyện dừng lại; có nhân vật và có rất nhiều loại
hình thức ngôn ngữ như trần thuật, đối thoại, độc thoại…
Tác phẩm trữ tình (nghĩa đen là chứa đựng tình cảm) là loại tác phẩm
qua lời lẽ thể hiện nỗi niềm tâm trạng, những ảnh tượng trông thấy mà thể
hiện các cảm xúc, thái độ chủ quan của con người với thế giới.
Tác phẩm kịch (nghĩa đen là biểu hiện những căng thẳng đột ngột khác
thường) là loại tác phẩm qua việc tái hiện những hành động xung đột kịch để
làm tái hiện lên bản chất đời sống và bảy tỏ thái độ.
Nói tóm lại, mỗi loại tác phẩm văn học lại có một phương thức kết cấu
hình tượng văn học để phản ánh cuộc sống và biểu hiện tư tưởng của nhà văn.
Nếu hình tượng thiên nhiều về phản ánh cuộc sống, với con người, sự việc, sự
vật trong tính khách quan ta sẽ có những tác phẩm tự sự, nếu hình tượng thiên
nhiều về biểu hiện tư tưởng, tình cảm… của con người, hiện thực trực tiếp
biểu hiện ý nghĩ chủ quan của tác giả ta sẽ có tác phẩm trữ tình. Khi tác phẩm
tự sự tập trung, cô đọng đến mức bản thân các sự vật, sự việc có thể tự bộc lộ
độc lập trên sân khấu hoặc trong trang sách… khi đó ta có tác phẩm kịch.
1.1.2. Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
Từ lâu, vấn đề dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại đã
được các nhà lí luận nghiên cứu phương pháp quan tâm. Giáo sư Nguyễn
Thanh Hùng đã đi sâu vào giải quyết vấn đề giảng dạy tác phẩm trữ tình và

17
tác phẩm là đối tượng thẩm mỹ của quá trình dạy học vì thế người thầy giáo
ngữ văn phải là người đọc đặc biệt, phải là sự hiện hữu nghệ thuật của nghệ
thuật, phương pháp của phương pháp. Dạy học văn để nhận thức cái đẹp. Mọi
phương pháp dạy học phải xuất phát từ đặc điểm cảm thụ văn học của các lứa
tuổi của HS. Trên cơ sở nhận thức lại về bộ môn văn trong nhà trường đã nêu,
tác giả đã đưa ra phương pháp, biện pháp chung và những vấn đề chung có
tính phương pháp khi tiến hành dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể.
Một trong những phạm trù hàng đầu của Thi pháp học là thể loại, nó
chi phối tất cả các yếu tố còn lại của hình thức tác phẩm. Không phải ngẫu
nhiên mà sách giáo khoa hiện hành sắp xếp tác phẩm theo thể loại và mỗi khi
dạy - học tới một thể loại nào đó sách giáo khoa thường nêu chú thích về đặc
trưng thể loại đó. Có một số thể loại có thể nói lướt qua nhưng cũng có một
số thể loại cần phải được học thật kỹ trên lớp.
Vấn đề dạy học theo đặc trưng thể loại đã được các nhà lý luận nghiên
cứu phương pháp quan tâm. Không thể có chung một loại phương pháp, cách
thức dạy và học cho tất cả các loại tác phẩm nói chung và từng tác phẩm nói
riêng. Tác phẩm thuộc thể loại nào đòi hỏi cách dạy theo đặc trưng của thể
loại ấy. Thực tế giảng dạy tác phẩm khó khăn, phức tạp như vậy đòi hỏi GV
và HS cần trang bị những kiến thức về loại thể, đặc biệt là thi pháp loại thể để
hiểu sâu sắc về thơ trữ tình hơn. Khi xác định đúng đặc trưng thể loại của tác
phẩm cần phân tích GV sẽ lựa chọn được cách thức tổ chức, hướng dẫn định
hướng phù hợp để giúp HS nắm được chiều sâu của tác phẩm để quá trình dạy
học thực sự đạt kết quả.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý là:
Tìm hiểu thi pháp thể loại là cơ sở để phát hiện nét độc đáo của thi
pháp tác giả, thi pháp tác phẩm.
Tiếp cận thi pháp thể loại không tách rời với việc tiếp cận đồng bộ tác
phẩm văn chương trong nhà trường. Thi pháp thể loại là vấn đề có tính
nguyên tắc chi phối quá trình đến với tác phẩm, giải mã tác phẩm nhưng

19
tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp. Tính
chất cá thể hoá của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hoá của sự thể hiện là
những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình. Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ
tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ
các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết
học”.
Thuật ngữ thơ trữ tình được sử dụng nhằm phân biệt với thơ tự sự
thuộc loại tự sự.
Tuỳ theo truyền thống văn học cụ thể, người ta có thể phân loại thơ trữ
tình qua nhiều cách khác nhau. Trước đây, trong văn học Châu Âu, người ta
thường dựa vào cảm hứng chủ đạo mà chia thơ trữ tình thành bi ca, tụng ca,
thơ trào phúng. Ngày nay, người ta dựa vào đối tượng đã tạo nên cảm xúc của
nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình để phân chia thành thơ trữ tình tâm tình,
thơ trữ tình phong cảnh, thơ trữ tình thế sự, thơ trữ tình công dân. Các cách
phân loại như trên đều hết sức tương đối, nhiều khi xen lẫn và biến dạng.
Nhưng dù sao sự phân loại cũng giúp ta thuận lợi hơn trong việc tìm hiểu cảm
hứng chủ đạo, truyền thống nghệ thuật của bài thơ và khuynh hướng của nhà
thơ.
1.2.2. Đặc trưng của thơ trữ tình
1.2.2.1. Tứ thơ
Thơ hay do nhiều lẽ, hay ở ý sâu xa, ở tình cảm chân thành dào dạt, ở
hình tượng đẹp, liên tưởng phong phú, ngôn ngữ điêu luyện, nhịp điệu mới
mẻ…và quan trọng là ở sự độc đáo của tứ thơ. Bài thơ có tứ làm cho kết cấu
tác phẩm thơ cân đối, chặt chẽ, đem lại xúc động mạnh, có sức ám ảnh cho
người đọc. Cho nên sáng tạo được tứ thơ hay, trước hết bộc lộ tài năng của
nhà thơ.
Tứ thơ là một thuật ngữ được nói đến từ lâu trong thi pháp học, nhưng
để nêu một định nghĩa rõ ràng và chính xác về nó quả thật không dễ dàng. Có
nhiều cách quan niệm về tứ thơ nhưng tựu chung có thể hiểu một cách đơn

21
hệ giữa hai nhân vật ấy có sự biến đổi theo bố cục của bài thơ. Thời thơ ấu và
thời trai trẻ vào lính của nhân vật trữ tình. Khi ấy trăng gần gũi, thân thiết với
con người như người bạn tri kỉ. Ở đoạn sau khi con người chuyển sang một
không gian sống khác – nơi đô thị với đầy đủ tiện nghi: đèn điện, cửa gương,
cao ốc thì vầng trăng trở thành kẻ xa lạ “Như người dưng qua đường”. Sự đối
lập giữa người và trăng ở hai giai đoạn, hai hoàn cảnh sống như vậy đã gợi ra
một ý tưởng nhưng tứ thơ và cũng là chỗ sâu sắc trong tư tưởng của bài thơ
chỉ thực sự bật ra khi xảy ra một tình huống bất thường: lúc mất điện trong
thành phố: “Thình lình đèn vụt tắt – Phòng buyn đinh tối om”, khi ấy nhân
vật trữ tình vội mở toang cửa sổ và bất ngờ gặp lại vầng trăng vẫn sáng trong,
vẹn nguyên trên bầu trời . Vầng trăng ấy như gọi về cái không gian rộng rãi
của đồng, bể, sông, rừng cũng là những năm tháng quá khứ của tuổi trẻ được
gọi về. Vầng trăng hiện ra như lời nhắc nhở về nghĩa tình, về sự thuỷ chung
với quê hương, với đồng đội, với nhân dân, với những năm tháng chiến tranh
gian khổ nhưng cũng thật trong sáng, nên thơ.
Tứ thơ có một vị trí quan trọng, tuy nhiên có bài thơ có tứ hay nhưng
chưa phải là một sáng tác hay bởi tứ thơ chưa được bồi đắp bằng cảm xúc
hình ảnh và ngôn ngữ chọn lọc. Tứ thơ trong bài Sự sống chẳng bao giờ
chán nản của Xuân Diệu là một tứ thơ hay xuất phát từ một quan điểm triết
học và nhân sinh tiến bộ. Tuy nhiên những hình ảnh và cảm xúc cũng như
ngôn ngữ bài thơ chưa thật tương xứng với tứ thơ.
Có những trường hợp tứ thơ được tạo thành gần gũi nhau nhưng hai bài
thơ vẫn mang những nét riêng, độc đáo khác nhau. Như trường hợp các bài
thơ Núi đôi của Vũ Cao, và Quê hương của Giang Nam rất gần gũi về tứ thơ
nhưng mỗi bài thơ lại phát triển và tạo nên những giá trị riêng. Có thể nói, tứ
thơ phải đi đôi với tình. Nếu chỉ có tình mà không có tứ hay thì tình cảm dễ bị
tản mạn, thiếu sức liên kết tự bên trong. Nếu chỉ có tứ mà không có tình thì
thơ dễ rơi vào lí trí, những suy tưởng khô khan.
1.2.2.2. Nhân vật trữ tình, cái tôi trữ tình, hình ảnh thơ, hình tượng thơ

Tuy nhiên, cần phải lưu ý khi tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ là
không nên đồng nhất cái tôi trữ tình với chủ thể nhà thơ trong mọi trường
hợp. Nghệ sĩ là người có khả năng hình dung, tưởng tượng và hoá thân vào
nhiều cảnh ngộ, tâm trạng của nhiều người bằng những kinh nghiệm, trải
nghiệm của mình và năng lực riêng của người nghệ sĩ. Nhà thơ với tư cách là
người phát ngôn, người bộc lộ nhận thức, phẩm chất tinh hoa của cộng đồng,
cho nên cái tôi bao giờ cũng vươn lên thể hiện lí tưởng của dân tộc, của thời
đại.
Nhân vật trữ tình là người trực tiếp thổ lộ những suy nghĩ và cảm xúc
trong bài thơ. Nhân vật trữ tình không có diện mạo, tiểu sử, hành động, lời
nói, quan hệ cụ thể nhưng được thể hiện qua giọng điệu, cảm xúc, cách cảm,
cách nghĩ. Qua những dòng thơ ta như gặp tâm hồn người. Đó chính là nhân
vật trữ tình. Nhà lí luận văn học Nga Ju.Tynianov đã đề xuất khái niệm này:
“Cái giọng của tác giả mà ta cảm thấy trong thơ (cá nhân nhà thơ, cái Tôi nhà
thơ, tác giả với tính thứ nhất của nó) lại chính là bản thân tác phẩm nghệ
thuật, là khách thể nghệ thuật, là một loại thực tại khác so với thực tại sống,
cho nên cái Tôi đó không phải là người sáng tạo đã tạo ra thế giới nghệ thuật
này, mà chỉ là người dân sống trong thế giới được sáng tạo”. Nhân vật trữ tình
là người sống trong thế giới nghệ thuật, về chừng mực nào đó cũng có suy
nghĩ , hành động tương tự như các nhân vật khác. Khi tiếp xúc với văn bản
trữ tình, việc đầu tiên là xác định nhân vật trữ tình là ai, để có thể hình dung
vị trí, tư thế, nỗi niềm, tâm trạng của họ một cách phù hợp.
Nhân vật trữ tình có khi biểu hiện trực tiếp cái tôi thứ hai của tác giả,
nhưng nhiều khi chỉ là cái tôi nhập vai trữ tình. Trong bài thơ Bầm ơi, Tố
Hữu đã “phân thân” thành một anh bộ đội trong những ngày kháng chiến
chống thực dân Pháp, nhớ mẹ - người nông dân trung du miền núi, vất vả
nhọc nhằn. Hay trong bài thơ Đồng chí, Chính Hữu đã “hoá thân” vào đối
tượng biểu hiện – người lính. Tất nhiên ở đây cũng là tâm trạng của nhà thơ
về tình đồng chí gắn bó trong chiến tranh gian khổ. Và nhà thơ Chính Hữu
24

Trích đoạn Lí giải, đánh giá Nội dung thực nghiệm và tiến trình thực nghiệm Tiến trình thực nghiệm Tiến hành kiểm tra
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status