Sự thống nhất những đối cực
trong phong cách nghệ thuật
Nguyễn Công Trứ Như vậy bên cạnh con người xã hội - phận sự, con người hành động, dấn thân, cống hiến
là con người cá nhân - “nhân sinh quý thích chí”. Đấy là hai dạng thái làm người hữu chí - một
sự phân thân, đắp đổi rất thực tế và cũng rất biện chứng trong quan niệm về con người của
Nguyễn Công Trứ.
Con người ấy có không gian tồn tại cũng rất độc đáo, vừa bình thường, vừa rất khác
thường. Vũ trụ, càn khôn, bốn bể, giang sơn, vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc trước hết đây
là môi trường chứng minh rõ ràng nhất cho sự hiện diện (luôn luôn trong trạng thái hành động)
của con người hữu chí. Nhưng đây cũng là con người của mặt đất đời thường đầy bụi bặm của
nhân thế với bao nhiêu mối quan hệ “lợi danh” “chen chúc”, “nhục”, “vinh” đắp đổi, bởi vậy nó
phải đón nhận tất cả. Thì ra không gian sinh hoạt xã hội lại là nơi để con người hữu chí trải
nghiệm, Vào cuộc trần ai khóc lẫn cười, để rồi càng thấm cái chua chát của lẽ đời: Đù mẹ nhân
tình đã biết rồi/ Lạt như nước ốc, bạc như vôi
Biết vậy nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn không hề ngán. Ông vẫn coi đó là cuộc chơi. Cõi
nhân thế này có những giới hạn cụ thể và rõ ràng của nó:
Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi,
Vạn sáu tiêu nhăng đã hết rồi
Vậy việc gì mà không hành, trước là hành đạo, sau là hành lạc, Cuộc hành lạc bao nhiêu
là lãi đấy. Nếu không chơi thiệt ấy ai bù? Bởi vậy, Cuộc hành lạc (cứ) vẫy vùng cho phỉ
chí!. Điều đáng nói nhất ở đây là cái hành lạc của Nguyễn Công Trứ không phải là cái hành lạc
tầm thường, nhất là trong bối cảnh thời đại ông, khi chung quanh ông tất cả đều giả dối nhưng lại
được che đậy bằng cái mặt nạ nghiêm túc Và Nguyễn Công Trứ đã nâng cái hành lạc của ông
thành một quan niệm, một triết lý sống có ý nghĩa. Vốn đã từng “lên voi xuống chó” quá nhiều
lần, trải nghiệm mọi sự đời, biết rõ mọi giới hạn, Nguyễn Công Trứ luôn nhìn đời thoải mái,
- Chém cha cái khó, chém cha cái khó,
Khôn khéo mấy ai, xấu xa một nó
(Hàn Nho phong vị phú)
- Nợ tang bồng quyết trả cho xong
(Chí nam nhi)
- Chơi cho phỉ chí tang bồng
Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phỉ chí
(Cầm kỳ thi tửu)
- Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái trận cuồng phong
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo.
(Chí khí anh hùng)
- Kém gì nam bắc tây đông,
Đường thư kiếm vẫy vùng cho hết đất.
(Bốn bể là nhà)
- Đánh ba chén rượu khoan tay giấc,
Ngâm một câu thơ vỗ bụng cười…
Giắt lỏng giang sơn vào nửa túi,
Rót nghiêng phong nguyệt cạn lưng bầu
(Hành tàng)
Ngôn từ hào sảng, mạnh mẽ nhưng không vướng vào sáo ngữ bởi có nội dung biểu
đạt tương ứng. Đọc Nguyễn Công Trứ có thể thấy rõ lối nói hoa hòe, hoa sói, uốn éo “lịch
lãm” hay tỏ ra làm duyên làm dáng không hề phù hợp với tạng con người này. Cách nói của
ông là cách nói trần trụi, khi cần có thể văng tục một cách hồn nhiên: Đù mẹ nhân tình đã biết
rồi/ Lạt như nước ốc bạc như vôi (Thế tình bạc bẽo)
Cũng chưa thấy ai dùng giọng văng tục để khẳng định một nội dung nghiêm cẩn, khả
kính như Nguyễn Công Trứ:
Thuộc ba mươi sáu đường kinh, chẳng Thần, Thánh, Phật, Tiên