Dạy học tác phẩm ký trong chương trình ngữ văn lớp 12, trung học phổ thông theo phong cách nghệ thuật tác giả - Pdf 10

Dạy học tác phẩm ký trong chương trình Ngữ
văn lớp 12, trung học phổ thông theo phong
cách nghệ thuật tác giả Trần Thị Anh Đào Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đoàn Đức Phương
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Tìm hiểu những vấn đề lý luận như: phương pháp dạy học môn Ngữ văn
theo đặc trưng thể loại, đặc trưng thể loại kí văn học, phong cách nghệ thuật tác giả.
Tìm hiểu thực trạng dạy học các tác phẩm kí trong chương trình Ngữ văn 12 của
giáo viên và học sinh, tại trường Trung học phổ thông (THPT) Nguyễn Khuyến. Vận
dụng lý thuyết dạy học tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại, phong cách nghệ
thuật tác giả, vận dụng lý thuyết về các phương pháp dạy học: phương pháp diễn
giảng, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp trực quan, phương pháp đàm thoại vào
thiết kế các bài dạy: Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng
sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thực nghiệm sư phạm ( dạy học, kiểm tra, đánh
giá ) để kiểm chứng tính khả thi của đề tài.

Keywords. Phương pháp giảng dạy; Ngữ văn; Phong cách nghệ thuật; Ký sự Content
MỞ ĐẦU

3.1. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý luận về tiếp nhận và cảm thụ tác phẩm văn chương, đặc trưng thể loại kí
văn học, phong cách nghệ thuật tác giả, để đề xuất các phương pháp trong quá trình dạy học
các tác phẩm kí ở chương trình Ngữ Văn lớp 12 nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận như: Đặc trưng thể loại kí văn học, phong cách nghệ
thuật tác giả.
- Tìm hiểu thực trạng dạy học các tác phẩm kí trong chương trình Ngữ Văn 12 của
giáo viên và học sinh, tại trường THPT Nguyễn Khuyến, Nam Định
- Vận dụng lý thuyết dạy học tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại, phong cách
nghệ thuật tác giả, các phương pháp dạy học vào thiết kế các bài dạy: Người lái đò Sông Đà
và Ai đã đặt tên cho dòng sông?
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học các đoạn trích kí trong chương trình Ngữ Văn 12
Học sinh lớp 12, giáo viên dạy Ngữ văn 12, trường THPT Nguyễn Khuyến, thành phố
Nam Định, năm học 2012-2013
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đặc trưng thể loại kí văn học, phong cách nghệ thuật của Nguyễn
Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường và quá trình tổ chức hoạt động dạy học các đoạn trích kí trong
chương trình Ngữ Văn 12
Phạm vi thời gian: từ tháng 6/ 2012 đến tháng 11 /2012
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh, đối chiếu; Phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân
tích; Phương pháp hệ thống hóa, nghiên cứu tiếp thu có chọn lựa các công trình, tài liệu có
liên quan đến luận văn
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:

1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm “ thể loại văn học”
Theo Trần Đình Sử (chủ biên), giáo trình Lí luận văn học ( tập 2), “ Thể loại văn học
là một hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học nào cũng có một hình
thể, có một “ thể” cấu tạo, thể thức ngôn từ nhất định. Các hình thức cá biệt ấy hết sức đa
dạng. Song giữa các tác phẩm khác biệt ấy lại thấy có những đặc điểm gần gũi nhau về ngôn
từ, hình tượng, cấu tạo, hình thành nên những “ loại” nhất định. “ Loại” đó là những nét
tương đồng loại hình làm nên thể loại văn học Các thể loại chỉ bao gồm những nét chung
của các tác phẩm cụ thể, cá biệt, đa dạng. Trong mỗi “ loại” đó lại có thể chia ra các “ tiểu
loại nhỏ hơn”. Như vậy, thể loại văn học trước hết là một hiện tượng loại hình của hoạt động
sáng tác và giao tiếp văn học, được hình thành trên cơ sở lặp đi lặp lại có quy luật của các yếu
tố tác phẩm. Tuy nhiên thể loại văn học không đơn giản là loại hình và sự lặp lại. Bởi sáng
tác văn học là một quá trình sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Bên cạnh những điểm giống nhau
để đặt tác phẩm vào cùng một “ loại”, thì mỗi tác phẩm văn học đều có những nét độc đáo để
hình thành “ thể” của “ loại”.
1.2.1.2. Khái niệm “ thể loại kí văn học”
Trong cuốn Kí nghệ thuật Xô viết – những vấn đề lí thuyết và nghệ thuật thể loại, nhà
nghiên cứu Xô viết Ruwbinxeps cho rằng: “ Về kí, thực tế là không thể nói đến cái gì xác
định được đặc trưng thể loại của nó”. Nhà văn Tô Hoài nói rằng: “ Kí cũng như truyện ngắn,
truyện dài, hình thù nó đấy, nhưng vóc dáng nó luôn luôn đổi mới, đòi hỏi sáng tạo và thích
ứng. Cho nên càng chẳng nên trói nó vào một cái khuôn”. Còn với Trần Đình Sử, ông cho
rằng: “ Kí không phải giản đơn là nhóm tác phẩm văn xuôi không quy được vào truyện, thơ,
kịch thì quy vào kí”. Thiết nghĩ, đó là những quan điểm chính xác. Bởi lẽ, “ kí có cái hạt nhân
làm thành đặc trưng riêng của nó”, cũng giống như truyện có hạt nhân làm thành đặc trưng
riêng của truyện, và thơ có đặc trưng riêng làm nên thơ ca.
1.2.2. Đặc trưng thể loại kí văn học
1.2.2.1. Kí lấy sự thật khách quan của đời sống và tính xác thực của đối tượng làm cơ sở
Trong Tạp chí văn học số 154 năm 1964, Bùi Hiển nói: “ Chúng ta nên nhớ là trong
bút kí, phóng sự, tính xác thực của sự việc là một điều cốt yếu. Thêm hư cấu để đưa đẩy sự
việc, chỉ khiến cho sự việc trở thành thực thực, hư hư trong trí người đọc, không có lợi”.

Đặc điểm đầu tiên chúng ta có thể thấy là ngôn từ nghệ thuật của kí vừa cụ thể, sinh
động, đậm chất đời thường, vừa khái quát.
Đặc điểm thứ hai là ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm kí mang đậm tính chủ thể, gắn
liền với cá tính sáng tạo của tác giả.
Bên cạnh đó, chúng ta còn thấy ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm kí cũng rất linh
hoạt về giọng điệu. Không chỉ trần thuật mà trong kí, trần thuật có thể kết hợp với phân tích,
khái quát ý nghĩa của các hiện tượng đời sống được đề cập, phản ánh trong tác phẩm.
Với ba đặc trưng cơ bản, chúng ta có thể khẳng định kí văn học có vai trò quan trọng
trong sự hình thành và phát triển của văn học. Đó không phải là “ thể loại đàn em”, mà kí góp
phần làm cho văn học nước nhà phát triển hài hòa, phong phú, song hành cùng với cuộc sống,
đáp ứng được nhu cầu của con người.
1.2.3. Tiểu loại bút kí và tùy bút của thể loại kí văn học
1.2.3.1. Tiểu loại bút kí
Theo Trần Đình Sử, bút kí “ là một thể loại phóng khoáng, tự do mà cá tính nghệ sĩ
trực tiếp tham gia vào đặc điểm thể loại” [20, tr.253]. Bên cạnh việc ghi lại những chi tiết
thực tế về cuộc sống và con người, bút kí cũng ghi lại cảm nghĩ của tác giả về những sự việc,
hiện tượng được phản ánh, từ đó thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá, quan niệm của nhà văn.
Trong bút kí, yếu tố trữ tình luôn xuất hiện xen kẽ với ghi, tả sự việc, hiện tượng.
Sức hấp dẫn của bút kí phụ thuộc vào cách nhìn, cách quan sát, cách cảm nhận và đặc
biệt là tài năng của người nghệ sĩ trong việc khám phá ra các khía cạnh “ có vấn đề” của hiện
thực cuộc sống.
1.2.3.2. Tiểu loại tùy bút
Tùy bút cũng là thể loại kí thiên về trữ tình. Với thể loại này, cái tôi của người nghệ sĩ
được bộc lộ rõ nét, nhà văn có cơ hội phóng bút viết theo cảm hứng của mình, tùy cảnh, tùy
việc để suy tưởng, đánh giá. Điểm khác biệt của tiểu loại tùy bút so với các tiểu loại kí khác
là những sự kiện, những chi tiết xác thực về con người, cuộc sống được mô tả trong tác phẩm
chỉ là cái cớ để qua đó người nghệ sĩ bộc lộ cảm xúc, sự suy tư, đánh giá của tác giả.
Chất trữ tình trong tùy bút chính là yếu tố có vai trò quan trọng trong việc thống nhất
tổ chức của tác phẩm, chi phối việc phản ánh chân thực cuộc sống, con người, chi phối sự tác
động của tác phẩm đến với người đọc.

văn học, thì phong cách nghệ thuật của nhà văn chính là cá tính sáng tạo được thể hiện rõ ở
đề tài, cảm hứng, nét đặc sắc về bút pháp nghệ thuật, giọng điệu và ngôn ngữ tác phẩm của
nhà văn đó. Mỗi nhà văn, nhà thơ đều có phong cách nghệ thuật riêng, không giống bất cứ ai.
Tuy nhiên, không phải công trình nghệ thuật nào, không phải nhà văn nào cũng có
phong cách. Tác phẩm có phong cách là khi tác phẩm đạt được tính cấu trúc, tức có sự thống
nhất hữu cơ của các bộ phận trong một chỉnh thể. Nhà văn có phong cách là khi nhà văn đó
có sự đồng nhất từ cái nhìn độc đáo, mới lạ, cá tính về hiện thực khách quan được phản ánh
trong tác phẩm tới sự độc đáo trong cách sử dụng các yếu tố nghệ thuật như ngôn ngữ, giọng
điệu, bút pháp nghệ thuật.
1.3.2. Đặc sắc phong cách nghệ thuật tùy bút của Nguyễn Tuân
Sự nghiệp và quan điểm sáng tác của Nguyễn Tuân có sự thay đổi từ sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945. Nếu trước Cách mạng, Nguyễn Tuân luôn tìm tới vẻ đẹp của một thời
“ vang bóng”, tìm tới chủ nghĩa xê dịch cho khuây khỏa cảm giác “ thiếu quê hương”, thì sau
Cách mạng , nhà văn là một con người luôn khát khao được hòa nhịp với cuộc sống mới. Tuy
nhiên, dù có sự thay đổi, song phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân vẫn thống nhất ở
những điểm sau:
Thứ nhất, Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa, uyên bác. Tài hoa thể hiện trước tiên ở
phương diện tiếp cận thế giới của nhà văn: Nguyễn Tuân quan sát, nhìn ngắm mọi vật, mọi
hiện tượng, con người dưới góc độ cái đẹp. Tiếp cận sự vật hiện tượng ở phương diện văn
hóa thẩm mĩ, và tiếp cận con người ở phương diện tài hoa thẩm mĩ. Nhà văn quan niệm “ con
người tài hoa nghệ sĩ” không chỉ là những người hoạt động trong ngành nghệ thuật mà bao
gồm tất cả những con người trong xã hội dù không làm nghệ thuật những vẫn có thể nâng
nghề nghiệp của mình lên tầng nghệ thuật khác thường. Sự uyên bác của nhà văn thể hiện ở
việc sử dụng những kiến thức trên nhiều ngành nghề, lĩnh vực từ nghệ thuật tới khoa học để
miêu tả, bàn bạc, triết lí các hiện tượng, sự vật.
Thứ hai, Nguyễn Tuân luôn chọn lựa những hiện tượng, sự vật “ đập mạnh” vào giác
quan người đọc, phải thật điển hình, đậm nét chứ không phải là sự chừng mực, ôn hòa.
Đặc điểm thứ ba trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là cách sử dụng ngôn
ngữ nghệ thuật. Nguyễn Tuân được mệnh danh là “ người thầy ngôn ngữ”, bởi ông có một
“kho tàng” từ vựng phong phú, có một khả năng thiên phú về cách sử dụng ngôn từ, cách tổ

chúng thấm đượm chất trầm tư, trữ tình.
Bên cạnh đó, kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường còn có tính chất tản mạn, tự do. Sự kiện
đôi khi chỉ là cái cớ để nhà văn bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ chủ quan của mình. Cách tổ
chức văn bản kí của nhà văn mang tính nghệ thuật cao, văn phong giàu chất thơ, hình ảnh gợi
cảm.
Nguồn mạch xuyên suốt các tác phẩm kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường là tình yêu quê
hương đất nước, là tâm huyết với tinh hoa dân tộc. Ông luôn gắn cái đẹp, gắn nghệ thuật với
những truyền thống văn hóa của dân tộc. Những tác phẩm kí của nhà văn dù viết về những
năm tháng chiến tranh hay cuộc sống đương đại đều lấp lánh niềm tự hào về những nét đẹp
của quê hương đất nước.

CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƢỚNG DẠY HỌC TÁC PHẨM KÍ
TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO
PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT TÁC GIẢ
2.1. Thực trạng dạy học tác phẩm kí trong chƣơng trình Ngữ Văn lớp 12
2.1.1. Tác phẩm kí trong chương trình Ngữ Văn 12 trung học phổ thông
Tác phẩm kí trong chương trình Ngữ Văn trung học phổ thông nói chung và lớp 12
nói riêng chiếm tỉ lệ nhỏ. Trong số 20 tác phẩm văn học được đưa vào, chỉ có hai đoạn trích
thuộc thể loại kí là Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng
sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Sự chênh lệch quá lớn về số lượng giữa các tác phẩm văn học đã vô tình khiến cho
giáo viên và học sinh mất dần sự coi trọng trong việc dạy học các tác phẩm kí. Nhất là với
học sinh lớp 12, khi phải đối mặt với các kì thi như tốt nghiệp, đại học thì việc học các tác
phẩm kí sẽ chỉ là sự đối phó.
2.1.2. Khảo sát quá trình dạy học các tác phẩm kí trong chương trình lớp 12
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát qua phiếu điều tra đối với 12 giáo viên và 424 học
sinh khối 12 trường THPT Nguyễn Khuyến, Nam Định. Cũng như tiến hành dự giờ các tiết
dạy học các tác phẩm kí tại 4 lớp 12A3, 12A4, 12A5, 12A6 vào tháng 10/ 2012.
2.1.3. Đánh giá về tình hình dạy học các tác phẩm kí trong chương trình lớp 12

sinh cho rằng môn Ngữ Văn và việc học Ngữ Văn trong nhà trường không quan trọng và hữu
ích. Bên cạnh đó, đời sống kinh tế khó khăn của giáo viên cũng khiến họ không có hoặc ít có
điều kiện đầu tư, nghiên cứu nâng cao hiệu quả giảng dạy.
Việc nghiên cứu và áp dụng các phương pháp trong quá trình dạy học không được
đến nơi đến chốn, cũng là một nguyên nhân đáng kể làm khó khăn thêm cho tình trạng dạy
học các tác phẩm kí hiện nay.
2.2. Định hƣớng đổi mới dạy học các tác phẩm kí trong chƣơng trình lớp 12
2.2.1. Quá trình dạy học các tác phẩm kí cần phải theo đặc trưng thể loại
Việc dạy học tác phẩm văn chương nói chung và các tác phẩm kí nói riêng theo đặc
trưng thể loại giúp người dạy cũng như người học củng cố kiến thức lý luận văn học về thể
loại văn học, từ đó có cái nhìn đúng đắn, sâu rộng hơn về tác phẩm văn học và nâng cao mức
độ lí giải, cảm thụ, phát triển năng lực thưởng thức, phê bình tác phẩm.
Đoạn trích Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân là tùy bút trữ tình. Chính vì thế,
đoạn trích đã mang đậm tính chất chủ quan của Nguyễn Tuân. Nhân vật trong đoạn trích
chính là cái tôi của nhà văn, bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức đánh giá của mình về hình
ảnh dòng sông Đà và người lái đò sông Đà. Nguyễn Tuân khắc họa hình ảnh dòng sông Đà
không theo thủy trình của nó mà theo sự cảm nhận của nhà văn.
Còn Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường là bút kí thiên về tùy
bút: giàu chất trữ tình và giàu lượng thông tin. Qua tác phẩm, người đọc nhận thấy được tài
năng, trình độ quan sát, nghiên cứu của Hoàng Phủ Ngọc Tường - một trong những điểm làm
nên phong cách nghệ thuật của nhà văn.
Như vậy, khi dạy học tùy bút Người lái đò Sông Đà hay bút kí Ai đã đặt tên cho
dòng sông? người giáo viên cần phải làm nổi bật được nét đặc trưng của thể loại tùy bút và
bút kí như: cái tôi của tác giả, chất trữ tình trong chính cách miêu tả các sự vật khách quan
của đời sống, các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong tác phẩm. Có như thế, giờ
dạy học mới có thể thu hút được sự chú ý của học sinh, mới có thể đạt hiệu quả cao.
2.2.2 Quá trình dạy học các tác phẩm kí cần phải gắn với phong cách nghệ thuật của các
nhà văn
2.2.2.1. Đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân qua tùy bút Người lái đò
Sông Đà

Người lái đò Sông Đà còn là những trang văn “ tuyệt cú” về cách sử dụng ngôn từ của
Nguyễn Tuân. Ngôn ngữ trong tác phẩm rất giàu có, sắc bén, biến đổi linh hoạt, giàu hình
ảnh, nhạc điệu, mới lạ. Quá trình sáng tạo và sử dụng ngôn từ của Nguyễn Tuân được so sánh
như cuộc thi tài giữa thiên nhiên, tạo hóa với kho từ vựng của nhà văn mà cái đích đến là cảm
xúc trong lòng độc giả.
2.2.2.2. Đặc điểm phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua bút kí Ai đã đặt
tên cho dòng sông?
Đây là một bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca
nhạc họa đã được tác giả cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là từ góc nhìn tâm linh, mang
những nét riêng của “ văn hóa Phú Xuân”. Đoạn trích trong sách giáo khoa nằm ở phần đầu
của tác phẩm, có thiên hướng thiên về tùy bút, “với nhịp điệu chậm rãi, với chất thơ thi vị
ngọt ngào”[20, tr.254]. Đoạn trích đã thể hiện rất rõ phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ
Ngọc Tường.
Đó là một cái tôi tài hoa, mê đắm. Tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường, thể hiện ở
chính cách nhìn và phát hiện vẻ đẹp của sông Hương. Sông Hương không hiện lên trong sự
nhất quán về một vẻ đẹp, mà sông Hương mang trong mình những vẻ đẹp khác nhau và mỗi
vẻ đẹp đó lại đem đến một trải nghiệm riêng thú vị cho chúng ta.
Nét tài hoa của cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường còn thể hiện ở vẻ đẹp ngôn từ. Ở đây,
dường như có bao nhiêu góc nhìn, điểm nhìn về sông Hương thì có bấy nhiêu kiểu chữ nghĩa
được huy động để đặc tả cho thật ấn tượng, thật sắc, thật tinh hình hài và tâm hồn của con
sông xứ Huế. Chẳng hạn như: “rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những
ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, ”. Hay như: “ sông
Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi
Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm ”. Dường như Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở
thành người họa sĩ mà mỗi câu văn của ông như một nét vẽ tài hoa.
Nét tài hoa về ngôn ngữ của nhà văn còn thể hiện ở việc sử dụng các thủ pháp nghệ
thuật – yếu tố khiến cho “ chiếc máy phát năng lượng” hoạt động có hiệu quả nhất. Nhà văn
đã sử dụng rất thành công biện pháp nhân hóa và so sánh. Không còn một sông Hương vô tri
vô giác, một tạo vật của thiên nhiên nữa mà đã trở thành một sinh thể có tính cách, có nỗi
niềm, tâm trạng như con người. Với các thủ pháp nghệ thuật đó mà những kiến thức địa lý,

hai dòng sông; cho học sinh xem những đoạn clip ngắn để giới thiệu về dòng sông Đà cùng
với thiên nhiên Tây Bắc, hay dòng sông Hương với xứ Huế mộng mơ; hoặc có thể cho học
sinh nghe những bài hát ca ngợi về các dòng sông. Bện cạnh đó, có thể tổ chức các hoạt động
ngoại khóa cho học sinh như: tổ chức phòng tranh triển lãm về dòng sông Hương, sông Đà;
tổ chức cuộc thi vẽ tranh, tổ chức cho học sinh đi tham quan, tới thăm nhà văn Hoàng Phủ
Ngọc Tường, tổ chức cuộc thi viết bài cảm nhận về vẻ đẹp của hai dòng sông
2.2.5. Thiết kế giáo án thực nghiệm dạy học đoạn trích Ngƣời lái đò Sông Đà 2.2.5.1. Mục
tiêu
Giúp học sinh: Hiểu và cảm nhận được vẻ đẹp của nhân vật Sông Đà vừa hùng vĩ, dữ
dội vừa thơ mộng, trữ tình; sự gan góc, thông minh, tài hoa của ông lão lái đò. Thấy được sự
độc đáo, tài hoa, uyên bác và giàu có về chữ nghĩa và những đặc điểm nổi bật trong phong
cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
Rèn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh; kỹ năng đọc – hiểu thể văn tùy bút theo
đặc trưng thể loại, kỹ năng phân tích đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà văn qua tác
phẩm
Nhận rõ và yêu quý hơn vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước và của con người lao động
Việt Nam. Cảm phục, yêu mến tài năng sáng tạo của Nguyễn Tuân, người nghệ sĩ uyên bác,
tài hoa đã dùng văn chương để khám phá và ca ngợi vẻ đẹp của nhân dân và Tổ quốc
2.2.5.2. Phương tiện, phương pháp
Sử dụng kết hợp các phương pháp sau: phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn
đáp, phương pháp làm việc nhóm, phương pháp gợi mở, phương pháp nêu vấn đề cùng với
tranh ảnh, máy chiếu, sách giáo khoa, sách tham khảo,
2.2.5.3. Công việc chuẩn bị của học sinh
Đọc đoạn trích Người lái đò Sông Đà trong sách giáo khoa, trả lời các câu hỏi trong
phần hướng dẫn đọc bài. Sưu tầm những bức tranh, ảnh về sông Đà hoặc vẽ hình tượng dòng
sông Đà qua sự cảm nhận của cá nhân.
Ghi ra giấy 3 câu hỏi xoay quanh đoạn trích để trao đổi trước lớp.
2.2.5.4. Thiết kế giáo án
Chúng tôi thiết kế thử nghiệm giáo án Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân theo
hướng dựa vào các đặc điểm phong cách nghệ thuật tùy bút của nhà văn 2.2.6. Thiết kế giáo

3.1.1. Mục đích thực nghiệm
Kiểm chứng, xác nhận tính đúng đắn và tính khả thi của việc dạy học tác phẩm kí
theo phong cách nghệ thuật tác giả.
Tiếp thu ý kiến phản hồi từ phía giáo viên và học sinh trong quá trình thực nghiệm để
điều chỉnh, sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện.
Đi đến những kết luận có căn cứ về kết quả nghiên cứu, là gợi ý để người nghiên cứu
có thể tiếp tục suy nghĩ về phương pháp dạy học các tác phẩm thuộc những thể loại khác theo
phong cách nghệ thuật tác giả.
3.1.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm
3.1.2.1. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
Tham gia thực nghiệm là 86 em ở 02 lớp 12: 12A1, 12A2, trường THPT Nguyễn
Khuyến, Nam Định. Hai lớp thực nghiệm này sẽ được so sánh với 02 lớp đối chứng: 12A3,
12A5. Người thực hiện luận văn trực tiếp dạy thực nghiệm.
3.1.2.2. Thời gian thực nghiệm
Lớp 12A1: Ngày 8/11/2012 ( Học kì I, năm học 2012-2013)
Lớp 12A2: Ngày 13/11/2012 ( Học kì I, năm học 2012 – 2013)
3.1.3. Nội dung thực nghiệm
Hoạt động dạy học thể loại kí qua đoạn trích: Người lái đò Sông Đà của Nguyễn
Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh qua bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan và đề
tự luận ngắn trong phạm vi bài học. Ngoài ra người viết cũng tiến hành tổ chức cho học sinh
ở hai lớp đối chứng làm bài kiểm tra (cùng thời gian, cùng đề). Sau đó, người viết sẽ thu
thập, xử lý và đối chiếu kết quả để đánh giá.
Kết quả thực nghiệm được đánh giá trên cơ sở bài kiểm tra của học sinh và những ý
kiến nhận xét, đóng góp của giáo viên trong tổ chuyên môn.
3.2. Tiến trình thực nghiệm
3.2.1. Làm việc với các lớp dạy thực nghiệm
Để đảm bảo cho giờ học thành công người dạy thực nghiệm đã gặp gỡ học sinh các
lớp thực nghiệm, giao các bài tập trong phần chuẩn bị bài trước khi đến lớp, phân chia lớp
thành các nhóm để làm việc.

86
5 phút
15( 17%)
54( 63%)
13(15%)
4(5%)

Bảng 3.2. Thống kê kết quả kiểm tra kiến thức học sinh
qua đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?
Lớp
Số học
sinh
Đề kiểm tra
Điểm từ 8
trở nên
Điểm 6, 7
Điểm 5
Điểm
dưới 5
ĐC
88
15 phút
7(8%)
38(43.2%)
26(29.5%)
17(19.3%)
TN
86
15 phút
11(12.8%)

1. Kết luận
1.1 Khi xã hội càng dân chủ thì thể loại kí càng phát triển bởi kí đề cao cái tôi cá
nhân, xúc cảm cá nhân của người nghệ sĩ, cho phép người nghệ sĩ được bộc lộ cá tính sáng
tạo trong quá trình sáng tác nghệ thuật của mình. Việc dạy học trong nhà trường phổ thông
cần phải góp phần làm bật nên được vai trò đó của thể loại kí văn học.
1.2. Quá trình dạy học môn Ngữ Văn nói chung và thể loại kí văn học nói riêng chỉ
đạt hiệu quả cao khi có sự đổi mới toàn diện, trong đó, đổi mới phương pháp dạy học nắm
giữ vai trò then chốt. Để góp phần vào nâng cao chất lượng dạy học thể loại kí văn học,
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Dạy học tác phẩm kí trong chương trình Ngữ văn
12, trung học phổ thông theo phong cách nghệ thuật tác giả. Ngoài việc tìm hiểu những
vấn đề lí luận nói chung luận văn đã cố gắng đưa ra những phương pháp dạy học cụ thể đối
với các tác phẩm kí theo phong cách nghệ thuật tác giả và đặc biệt chú trọng đến tính thực
hành qua thiết kế giáo án, cách tổ chức những hoạt động dạy học, thiết kế các câu hỏi kiểm
tra cuối mỗi bài thực nghiệm, qua phiếu thăm dò ý kiến cho quá trình dạy học các tác phẩm

1.3. Qua quá trình dạy thực nghiệm tại hai lớp 12A1, 12A2 tại trường THPT Nguyễn
Khuyến, thành phố Nam Định, chúng tôi nhận thấy: dạy học các tác phẩm kí theo phong cách
nghệ thuật tác giả đã đạt được kết quả cao, không chỉ ở kết quả kiểm tra sau mỗi bài học mà
còn ở không khí sôi nổi của lớp học, hứng thú học tập của học sinh. Chúng tôi cho rằng, đây
là một hướng dạy học khoa học, hiện đại, phù hợp với đặc trưng của thể loại kí, phù hợp với
trình độ, lứa tuổi học sinh và hoàn toàn có thể áp dụng cho các thể loại văn học khác cũng
như các phong cách nghệ thuật tác giả khác.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với chương trình Ngữ Văn cấp trung học phổ thông, nên bổ sung thêm kiến
thức lí luận về thể loại kí văn học, để cung cấp cho học sinh những kiến thức nền tảng trước
khi đi vào tìm hiểu từng tác phẩm cụ thể. Bên cạnh đó, cũng cần tăng thời lượng dạy học cho
các tác phẩm kí trong đó nên có 1 tiết học ngoại khóa.
2.2. Đối với giáo viên, cần phải linh hoạt sử dụng các phương pháp dạy học, xây dựng
hệ thống câu hỏi phù hợp, vừa sức, tăng cường các hoạt động để phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh, Bên cạnh đó, cũng cần kết hợp các phương tiện dạy học hiện đại như

9. Phan Trọng Luận (chủ biên ) (2001), Phương pháp dạy học văn ( tập 1). Nhà xuất bản
Giáo dục, Hà Nội.
10. Phan Trọng Luận (2011), Văn chương – bạn đọc sáng tạo. Nhà xuất bản Đại học Sư
phạm, Hà Nội.
11. Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo
khoa lớp 12 môn Ngữ văn. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
12. Phƣơng Lựu cùng nhiều tác giả (2002), Lí luận văn học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà
Nội.
13. Lê Minh (2000), Nghệ thuật truyện ngắn và kí. Nhà xuất bản Thanh niên
14. Nguyễn Xuân Nam (1983), Từ điển văn học ( tập 1). Nhà xuất bản khoa học xã hội.
15. Đoàn Đức Phƣơng ( 2009), “ Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường”,
Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội (2), tr.19-21.
16. Đoàn Đức Phƣơng (2001), Giảng văn Văn học Việt Nam ( viết chung). Nhà xuất bản
Giáo dục, Hà Nội.
17. Đoàn Đức Phƣơng (2008), Phương pháp luận nghiên cứu văn học. Nhà xuất bản Đại
học quốc gia, Hà Nội.
18. Nguyễn Ngọc Quang (1978), Phương pháp dạy học ở Đại học. Nhà xuất bản Giáo dục,
Việt Nam.
19. Trần Đình Sử (chủ biên) (2009), Giáo trình Lí luận văn học ( tập 2). Nhà xuất bản Sư
phạm.
20. Trần Đình Sử (1996), Lí luận và phê bình văn học. Nhà xuất bản hội nhà văn.
21. Đinh Thị Phƣơng Thảo (2010), Giảng dạy tác phẩm kí trong trường trung học phổ
thông qua Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của
Hoàng Phủ Ngọc Tường. Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Giáo dục, Đại học quốc gia Hà
Nội.
22. Phạm Thị Thu Thủy (2008), Thể ký và việc giảng dạy tác phẩm ký trong nhà trường
phổ thông. Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
23. Hoàng Phủ Ngọc Tƣờng và nhiều tác giả (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí.
Nhà xuất bản Thanh niên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status