Dạy học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn - Pdf 10

Dạy học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ
tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo
hướng tự học có hướng dẫn Nguyễn Thu Đông Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Khánh Thành
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến dạy học phần đọc thêm
các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có
hướng dẫn. Khảo sát về việc dạy - học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình
trong chương trình ngữ văn lớp 12. Đề xuất những phương pháp dạy học phần đọc
thêm các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học
có hướng dẫn. Hiện thực hóa các phương pháp dạy học phần đọc thêm các tác phẩm
thơ trữ tình trong chương trình ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn bằng
các giáo án thể nghiệm.

Keywords. Phương pháp giảng dạy; Ngữ văn; Lớp 12 Content
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của xã hội hiện đại ngày nay đã đặt ra nhiều

phẩm văn học" và "quá trình đọc các tác phẩm văn học là một quá trình sáng tạo". Tác giả
cuốn giáo trình Phương pháp luận dạy văn học do Zla-Rezzia chủ biên, đã đặt phương pháp
tập đọc sáng tạo ở vị trí hàng đầu như là phương pháp đặc biệt nhất đối với văn học nhằm
phát triển cảm thụ nghệ thuật, hình thành những thể nghiệm nghệ thuật, những khuynh hướng
và năng khiếu nghệ thuật cho học sinh bằng phương diện nghệ thuật. Cuốn Phương pháp dạy
học văn của các tác giả Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế
Phiệt đã trang bị cho GV những kiến thức vững chắc có hệ thống về phương pháp luận bộ
môn. Cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể của các tác giả Trần Thanh
Đạm, Huỳnh Lí, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn và Đàm Gia Cẩn - Nxb Giáo dục, 1971, đã
giúp GV thuận tiện hơn khi tiếp cận tác phẩm văn học từ đặc trưng loại thể. Tác giả Nguyễn
Viết Chữ trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể) - Nxb Đại
học quốc gia Hà Nội, 2001, đưa ra phương pháp dạy học tác phẩm tự sự, tác phẩm trữ tình,
tác phẩm văn học nước ngoài, tuy nhiên các phương pháp phù hợp với việc giảng dạy các bài
đọc thêm trong chương trình với dung lượng thời gian rất hạn hẹp thì chưa được đề cập đến một
cách cụ thể, chi tiết.
Riêng về vấn đề dạy HS tự học trong bộ môn Ngữ văn, ngay từ năm 1973 Thủ tướng
Phạm Văn Đồng từng nói "Tôi nghĩ rằng mục đích của việc dạy văn là rèn luyện cho HS có ý
thức, từ đó có cố gắng rồi có khả năng tự mình suy nghĩ, suy nghĩ nhiều, suy nghĩ sâu về
những điều mình muốn viết và lúc nói phải diễn tả ý của mình sao cho trung thành, sáng sủa,
chặt chẽ, chính xác, hay" [7]. Tại Hà Nội năm 1998, một cuộc hội thảo khoa học với tiêu đề
“Nghiên cứu tự học – tự đào tạo” đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu,
nhiều GS đầu ngành nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học và yêu cầu các cấp ngành
phải chăm lo xây dựng phong trào tự học toàn dân. Tạp chí nghiên cứu Giáo dục số 2 năm
1998 đã đặc biệt quan tâm đăng tải một số bài viết tiêu biểu trong hội thảo: “Tự học – chìa
khoá vàng của giáo dục” của GS. Phan Trọng Luận, “Vì năng lực tự học sáng tạo của HS”
của Nguyễn Nghĩa Dân…Bên cạnh đó, một số cuốn sách cũng được xuất hiện như “Tôi tự
học” – Nguyễn Duy Cần, “Tự học là một nhu cầu của thời đại” – Nguyễn Hiến Lê, “Luận
bàn và kinh nghiệm tự học” – GS. Nguyễn Cảnh Toàn Đặc biệt, trung tâm nghiên cứu và
phát triển tự học còn cho ra mắt bạn đọc tạp chí “Tự học”. Tuy vậy, các cuốn sách và bài viết
hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chung nhất cho mọi môn học mà chưa đi vào các

- Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
- Sử dụng các phương pháp điều tra, thực nghiệm sư phạm
6. Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được
trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
- Chương 2: Thực trạng dạy - học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình
Ngữ văn lớp 12.
- Chương 3: Đề xuất một số phương pháp dạy học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình
theo hướng tự học có hướng dẫn.

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Các hình thức tổ chức dạy học.
1.1.1. Học trên lớp.
GV tiến hành dạy cho một số lượng HS nhất định có cùng trình độ, ở một địa điểm,
một không gian và trong một khoảng thời gian nhất định, thực hiện một đơn vị bài học nhất
định nhằm thực hiện một số mục tiêu dạy học cụ thể.
1.1.2. Thảo luận tập thể.
Thảo luận tập thể là một hình thức tổ chức dạy học trong đó GV tổ chức cho HS thảo
luận, trao đổi với nhau về một chủ đề có liên quan đến nội dung học tập nào đó. Thông qua
sự trao đổi, tranh luận tập thể, có sự cọ sát ý kiến của nhiều người mà HS rút ra kết luận cần
thiết.
1.1.3. Học tập ở nhà hay tự học.
Học tập ở nhà hay tự học là một hình thức tổ chức dạy học trong đó HS tiến hành hoạt
động học tập ngoài giờ học trên lớp bằng sự tự giác và nỗ lực học tập của cá nhân, theo một
kế hoạch đặt ra mà không có GV dạy trực tiếp.
1.2. Hoạt động tự học và hình thức dạy tự học có hƣớng dẫn.
1.2.1. Hoạt động tự học.
1.2.1.1. Khái niệm.

- Biết và sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo luận, tranh
luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập và xử lí thông tin.
- Biết sử dụng các phương tiện học tập, đặc biệt là công nghệ thông tin.
- Biết phân tích, đánh giá và sử dụng các thông tin.
- Biết kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của bản thân và bạn học.
- Biết vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.
1.2.1.5. Chu trình tự học của HS.
Chu trình tự học của HS là một chu trình 3 thời:
Thời (1): Tự nghiên cứu.
Thời (2): Tự thể hiện.
Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh.
1.2.1.6. Các hình thức tự học.
Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:
- Tự học hoàn toàn (Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có sách và
sự hướng dẫn của GV).
- Tự học có sách nhưng không có GV bên cạnh. Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai
mức:
+ Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy.
+ Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn.
- Tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV.
Trong quá trình học tập trên lớp, người thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất xúc tác
thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức. Trò với vai trò là chủ thể của quá trình
nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá trình học tập
Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không giáp mặt với thầy, nhưng dưới sự
hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tự sắp
xếp kế hoạch huy động mọi trí tuệ và kỹ năng của bản thân để hoàn những yêu cầu do GV đề
ra.
1.2.2. Dạy tự học có hướng dẫn.
1.2.2.1. Một số quan niệm về dạy cách học.
- Dạy là truyền đạt thông tin

Loại thể văn học (người phương Tây gọi là “genre”, người Trung Quốc gọi là “thể
tài”) là một hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học nào cũng có một
hình thể, có một “thể” cấu tạo, thể thức ngôn từ nhất định.
1.3.1.2. Sự phân chia loại thể.
Loại thể văn học là phạm trù phân loại các tác phẩm văn học vốn đa dạng, đồng thời
có sự giống nhau, từng nhóm một, theo một số dấu hiệu nhất định.
Các loại thể văn học đã nhiều lại luôn ở trong sự vận động, thay đổi, pha trộn vào
nhau. Cho đến nay phổ biến vẫn tồn tại cách chia ba và cách chia bốn. Cách chia ba có từ thời
cổ đại, từ thời Aristote, văn học được chia làm ba loại: Tự sự, trữ tình, kịch. Cách chia bốn
xuất hiện muộn hơn, chia văn học làm bốn loại: Thơ ca, tiểu thuyết, kịch, kí.
Ở Việt Nam sử dụng cả cách chia ba và cách chia bốn. Cách chia bốn gồm thơ ca (chỉ
chủ yếu là thơ trữ tình), truyện (gồm cả tiểu thuyết và truyện thơ), kịch và kí. Khái niệm kí
nghiêng về các tác phẩm viết về người thật, việc thật, cốt truyện không được quan tâm như
truyện. Loại này cũng bao hàm các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật như tản văn, tùy bút…
Việc phân chia các tác phẩm văn học ra làm ba loại hình cơ bản, như trên đã nói, là
căn cứ vào thiên hướng chủ đạo của phương thức phản ánh và biểu hiện của tác phẩm. Khi
xác định một tác phẩm thuộc loại này hay loại kia là chúng ta căn cứ vào đặc trưng loại thể
chủ đạo của nó mà thôi đồng thời phải thừa nhận khả năng các yếu tố thuộc loại thể khác vẫn
song song tồn tại trong tác phẩm.
1.3.2. Thể loại thơ trữ tình.
1.3.2.1. Định nghĩa về thơ trữ tình.
Thơ là một thể loại văn học được xây dựng bằng hình thức ngôn ngữ ngắn gọn súc
tích, theo những quy luật ngữ âm nhất định, nhằm phản ánh tâm trạng, thái độ, tình cảm của
người nghệ sĩ về đời sống thông qua những hình tượng nghệ thuật.
1.3.2.2. Những đặc điểm cơ bản của thơ trữ tình.
a. Tính trữ tình và chủ thể trữ tình.
* Tính trữ tình:
Trữ tình là yếu tố quyết định tạo nên chất thơ. Tác phẩm thơ luôn thiên về diễn tả
những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về cuộc đời. Những rung động ấy xét
đến cùng là những tiếng dội của những sự kiện, những hiện tượng đời sống vào tâm hồn nhà

cảm nhận được cái hay nhiều mặt.

CHƢƠNG II
THỰC TRẠNG DẠY- HỌC PHẦN ĐỌC THÊM TÁC PHẨM THƠ
TRỮ TÌNH TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12
2.1. Vị trí của phần đọc thêm trong chƣơng trình Ngữ văn bậc THPT.
Về mặt số lượng các văn bản đọc thêm chiếm một tỷ lệ đáng kể: Trong chương trình
Ngữ văn lớp 10, tỷ lệ là 14/38 văn bản. Trong chương trình Ngữ văn lớp 11, tỷ lệ là 14/40
văn bản. Trong trương trình Ngữ văn lớp 12, tỷ lệ là 12/32 văn bản.
Bên cạnh hệ thống các văn bản học chính thức, loại văn bản hướng dẫn đọc thêm góp
phần làm giàu kiến thức văn học của HS. Đặc biệt, nó có một vị trí quan trọng trong việc rèn
luyện kỹ năng - phương pháp tự học, tự nghiên cứu văn bản, góp phần hình thành cho các em
văn hóa đọc, đáp ứng các yêu cầu đổi mới dạy học, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo
của HS.
2.2. Những thuận lợi, khó khăn khi dạy - học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình
trong chƣơng trình Ngữ văn lớp 12 .
2.2.1. Khảo sát văn bản thơ trữ tình phần đọc thêm trong chương trình Ngữ văn lớp 12.
2.2.1.1. Tính trữ tình và chủ thể trữ tình.
2 .2.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ thơ.
2.2.2. Khảo sát tư liệu dạy - học.
*Khảo sát SGK Ngữ văn lớp 12 chương trình chuẩn, Phan Trọng Luận tổng chủ biên - Nxb
Giáo dục, 2007
Thời gian dành cho việc hướng dẫn đọc thêm: Thời gian dành cho việc dạy - học văn
bản đọc thêm không nhiều. Trong khoảng thời gian đó, GV phải đảm bảo đủ các hoạt động
lên lớp, phải khắc sâu kiến thức trọng tâm bài học, đặc trưng thể loại. Vậy nên, GV dù cố
gắng đến thế nào cũng rất khó để lưu lại trong tâm trí HS những hiểu biết cơ bản về các tác
phẩm này.
Bài học được biên soạn trong SGK gồm các nội dung sau:
- Tiểu dẫn: Giới thiệu những nét chính về tiểu sử, sự nghiệp sáng tác.
- Ở phần văn bản đoạn trích, các câu hỏi hướng dẫn đọc thêm trong SGK đã đưa ra các câu

Tổng số phiếu phát ra gửi đến GV là 45 phiếu, HS là 115 phiếu ở cả 2 trường. Nội
dung phiếu điều tra dành cho GV và HS ở phụ lục 4 và 5. Sau đây là kết quả khảo sát.
*Về phía GV.
Qua khảo sát thực trạng dạy học ta thấy có một bộ phận không nhỏ GV còn vướng
mắc, lúng túng trong cách thức dạy học ngữ văn nói chung và những bài đọc thêm nói riêng.
Đó là hiện tượng chỉ chú trọng các văn bản chính thức mà bỏ qua hoặc xem nhẹ các phần đọc
thêm. Thực tế hiện nay đang tồn tại hai khuynh hướng hai cách dạy các bài đọc thêm như
sau:
Cách 1: Để HS tự hoạt động thông qua hình thức GV nêu một số câu hỏi trong SGK -
học trò trả lời.
Cách 2: Thầy - trò cùng hoạt động, tìm vài nét sơ lược về nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm.
Kết quả: Yếu tố hướng dẫn của thầy và kỹ năng tự học của trò không thực hiện được
hoặc nếu có thì cũng mờ nhạt. Điều đáng buồn hơn là các em không nắm được những nét đặc
sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, kiến thức của các em nghèo đi.
* Về phía HS:
Trong điều kiện xã hội hiện nay có không nhiều HS thích học văn học nhất là các tác
phẩm chỉ đọc thêm. Việc chuẩn bị bài của HS trước khi lên lớp cũng rất kém, đa phần HS
chuẩn bị bài là đối phó, soạn qua quýt cho xong để đối phó với sự kiểm tra của GV. Nếu GV
có dạy tốt mà HS không chuẩn bị tốt thì không thể nói đến hiệu quả của giờ học.
Tuy nhiên, ở lứa tuổi 14 - 18 các em HS có sự phát triển mạnh mẽ về thể lực và trí
tuệ, tình cảm. HS ở lứa tuổi này có nhu cầu tự khẳng định khá cao, có sự nhạy bén khi đứng
trước cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn chương, một sự vật hoặc một hiện tượng. Các
em có khả năng tự đọc, tự học, hiểu thấu đáo vấn đề và khả năng sáng tạo. Tuy nhiên, khả
năng đó của các em chỉ phát huy cao độ đưa đến một kết quả học tập tốt khi có sự định
hướng, tổ chức, điều khiển của GV.

CHƢƠNG III
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
PHẦN ĐỌC THÊM CÁC TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH

khổ thơ
- Quy chiếu với ngữ cảnh thời đại: Mỗi một tác phẩm là một lời nói của một tác giả, một con
người cụ thể sống trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định. Do đó không thể hiểu thấu
đáo nghĩa của một tác phẩm nếu không đặt nó trong ngữ cảnh thời đại đã sản sinh ra nó, xem
tác phẩm ấy đối thoại gì với những chủ ngôn trước đó, từ đó rút ra những đóng góp của tác
giả về mặt tư tưởng nghệ thuật.
3.1.5. Phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ và giao tiếp xã hội cho HS.
Học tác phẩm văn chương là HS học cách ứng xử giao tiếp trong cuộc sống, trong xã
hội, học cách giao tiếp thẩm mĩ. Từ việc học, đọc một tác phẩm cụ thể, các em sẽ dần dần
đưa tác phẩm vào một văn cảnh mới, quan hệ mới, từ đó phát hiện ra ý nghĩa mới, nội dung
mới của tác phẩm đó. Bởi việc tiếp nhận của mỗi HS đều mang đậm sắc thái chủ quan, các
em có thể tái tạo, bổ sung, phát triển hình tượng nghệ thuật trong tâm trí của mình, biến vốn
văn hóa của nhân loại thành phẩm chất trí tuệ, năng lực hoạt động của bản thân.
Để phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ, giao tiếp xã hội cho HS, môn Văn có vị trí
hết sức quan trọng. Từng bước ở trên lớp, từ việc đọc tác phẩm, hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở
nhà, từ việc đặt câu hỏi đến việc giảng bình, cắt nghĩa người GV dạy văn phải khai thác
triệt để khả năng tác động giáo dục thẩm mĩ của mỗi tác phẩm văn chương cho HS và dẫn dắt
các em học theo những hành vi cao thượng, cách ứng xử đẹp, cách sống, cách nói năng đẹp
của các nhân vật trong tác phẩm.
3.2. Vận dụng một số phƣơng pháp thích hợp vào dạy học phần đọc thêm các tác phẩm
thơ trữ tình.
3.2.1. Phương pháp đọc diễn cảm.
Đọc diễn cảm là một phương pháp truyền thống trong các nhà trường phương Đông
và phương Tây, ngày xưa cũng như ngày nay. Các GV giàu kinh nghiệm đều khẳng định vai
trò của đọc diễn cảm. Đọc diễn cảm bắt đầu đòi hỏi sự cảm thụ chứ không dừng lại ở việc thể
hiện cảm xúc mà có cả sự hiểu biết của người đọc, sự tri âm của tác giả Người đọc phải thể
hiện tác phẩm, cá tính sáng tạo của mình có thể rất khác nhau, thậm chí cả giai điệu, nhịp
điệu, ngữ điệu
Với thể loại thơ trữ tình, sinh mệnh của nó chính là âm điệu. Bởi thế cho nên trong
quá trình dạy đọc - hiểu văn bản, GV cần quan tâm hàng đầu tới việc đọc, đọc cho "vang

HS.
- Hệ thống câu hỏi phải giúp HS hình thành được những phương pháp và kĩ năng tự đọc, tự
khám phá và chiếm lĩnh tác phẩm văn chương. Câu hỏi phải đảm bảo tính khoa học, tính hệ
thống, tính nghệ thuật, tính sư phạm và phải phù hợp với quy luật tiếp nhận tác phẩm văn
chương.
Đối với việc đọc - hiểu các tác phẩm thơ trữ tình thuộc phần đọc thêm trong chương
trình Ngữ văn lớp 12, GV nên khai thác triệt để hệ thống câu hỏi trong phần hướng dẫn đọc
thêm. Các câu hỏi này bám sát những vấn đề trong bài học từ dễ đến khó. Hệ thống câu hỏi
này sẽ có tác dụng dẫn dắt các em từng bước khám phá các giá trị của tác phẩm. Bên cạnh đó
GV có thể bổ sung thêm các câu hỏi cảm xúc, hình dung tưởng tượng. Đặc biệt cần khai thác
vốn kiến thức sẵn có của các em để đưa ra những câu hỏi mang tính so sánh tổng hợp.
3.2.4. Phương pháp thảo luận nhóm.
Thảo luận nhóm là một phương pháp có hiệu quả trong việc phát huy tính chủ động,
sáng tạo của HS trong giờ tiếp nhận tác phẩm văn chương. Người dạy với vai trò tổ chức và
điều khiển các thành viên trong lớp trao đổi ý kiến và tư tưởng của mình về một vấn đề được
đặt ra trong bài học, qua đó đạt được mục đích dạy học. Phương pháp thảo luận nhóm được
tổ chức bằng nhiều hình thức, có thể theo nhóm, theo tổ, theo lớp. GV có thể tổ chức thảo
luận về những vấn đề xoay quanh tác phẩm đang học bằng cách đưa ra câu hỏi trước giao cho
các nhóm, các tổ để chuẩn bị trước ở nhà đồng thời GV có những hướng dẫn về các nguồn tài
liệu mà HS phải tìm hiểu để phục vụ cho việc trả lời các câu hỏi đó. Như thế, HS sẽ phát huy
được tính chủ động, tích cực và tính tự học của mình - một yêu cầu rất cần thiết đối với HS
hiện nay.
3.2.5. Phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS.
Mục tiêu của việc kiểm tra, đánh giá là để: Đánh giá đúng thực chất trình độ, năng
lực người học, kết quả kiểm tra, thi đủ độ tin cậy để xét lên lớp; tạo động lực đổi mới PPDH
góp phần nâng cao chất lượng dạy học; giảm áp lực thi cử, tạo thuận lợi và đảm bảo tốt hơn
lợi ích của người học. Công cụ, phương tiện chủ yếu của đánh giá là kiểm tra và hình thức
thông dụng là trắc nghiệm. Trắc nghiệm có hai hình thức cơ bản là trắc nghiệm tự luận (tự
luận) và trắc nghiệm khách quan (trắc nghiệm).
Trong dạy học phần đọc thêm, GV có thể linh hoạt đưa những câu hỏi trắc nghiệm

hướng dẫn HS sưu tầm các tài liệu liên quan tới văn bản. Việc sưu tầm này giúp các em có
một vốn kiến thức sâu rộng và cũng để các em nắm được vấn đề bài học bền vững, chắc chắn
nhất, góp phần nâng cao tầm văn hóa của các em. Việc sưu tầm tài liệu diễn ra ngoài giờ vì
vậy đòi hỏi HS phải có tính tự giác cao, một lòng ham mê học hỏi và quan trọng hơn là phải
biết cách đọc, biết cách lựa chọn tài liệu phục vụ bài học.
Để giúp các em HS tự tìm kiếm tài liệu, đọc tích lũy kiến thức có hiệu quả, giáo viên
có thể hướng dẫn các em phương pháp đọc như sau:
- Không đọc tràn lan, gặp gì đọc nấy mà cần phải lựa chọn những cuốn sách, bài báo hay
thuộc phạm vi mình quan tâm, đọc các tài liệu tham khảo mà các thầy cô giáo giới thiệu. Đối
với tài liệu có giá trị phỉa đọc kĩ, nắm bắt tư tưởng chủ chốt, phát hiện được vấn đề, biết ghi
nhớ và chịu khó suy nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng bởi đọc không chỉ tích lũy tư liệu mà còn
tích lũy tư tưởng, ý kiến cho chính mình.
- Sách báo có nhiều loại, muốn đọc có hiệu quả cần chú ý phương pháp đọc. Đầu tiên là phải
đọc lướt. Chỗ nào cần quan tâm mới đọc kĩ, đọc sâu, nắm bắt tư tưởng, vấn đề được đặt ra
trong tài liệu đó. Cách này phải đọc đi đọc lại nhiểu lần, tiến hành phân tích, suy nghĩ. Bên
cạnh đó còn có lối đọc trắc nghiệm, đọc đoạn đầu một cuốn sách, bài văn thử dự đoán kết
luận rồi so sánh với cách kết thúc, kết luận của cuốn sách, bài văn xem dự đoán của mình có
đúng không.
- Kết quả đọc có thể đem lại cho HS những vấn đề buộc phải tiếp tục suy nghĩ. HS cần ghi
vào sổ tay những trích đoạn hoặc từ ngữ quan trọng để vận dụng, phát huy. Các em cũng cần
tích lũy những ý văn, ý thơ sâu sắc có thể làm châm ngôn sống hoặc những câu danh ngôn,
ngạn ngữ trong kho tàng trí tuệ nhân loại và từ những tư liệu ấy mà suy ra những ý mới của
mình hay có thể mài sắc thêm ý kiến của mình trên ý kiến của người đi trước. Có như vậy,
việc đọc tích lũy kiến thức mới có ý nghĩa với các em HS.
3.3.2. Hoạt động tạo tâm thế.
Tạo tâm thế cho HS là vấn đề quan trọng trong dạy học, đặc biệt trong dạy học văn.
Đối với giờ hướng dẫn đọc thêm, hoạt động tạo tâm thế không chỉ tạo hứng thú mà còn có tác
dụng nối kết với văn bản trước trong một hệ thống đề tài hoặc thể loại.
Tạo tâm thế cho HS khi tiếp nhận tác phẩm văn chương còn thể hiện ở lời dẫn dắt vào
bài của GV. Làm thế nào gây được sự kích thích, sự hứng khởi để HS cuốn vào bài học mà

định từng bước tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
Xác định được chủ đề, người đọc trở lại soi sáng cho việc lựa chọn bình giá những
hình ảnh sự việc, những thủ pháp nghệ thuật đắt nhất được nội dung hóa cao nhất. Dưới ánh
sáng của chủ đề, ta thấy nổi bật hơn trong nghệ thuật kết cấu đối lập của bài thơ điều tác giả
định nói. Thông qua hệ thống câu hỏi (hai hoặc ba câu) GV định hướng để HS tự tổng kết rút
ra đặc sắc giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm và giúp các em chắt lọc, tự ghi lại nội
dung cơ bản nhất của phần tổng kết.
Như vậy, vai trò của GV trong phần hướng dẫn đọc - hiểu văn bản là vừa hướng dẫn,
vừa tổ chức cho HS hoạt động tìm hiểu, và còn là thư kí chắt lọc - ghi lại kết quả tự tìm hiểu
của từng cá nhân - tập thể lớp, giúp đỡ HS với tinh thần góp thêm một cách hiểu để định
hướng và làm phong phú thêm kết quả cảm thụ cho các em.
3.3.4. Hướng dẫn HS tiếp tục học ở nhà.
Đối với loại bài hướng dẫn học thêm có ý nghĩa quan trọng, phần này giúp các em
nắm chắc hơn những điều đã được hướng dẫn ở lớp, trên cơ sở đó đi sâu tìm hiểu thêm những
vấn đề chưa được thầy giáo và bạn học đề cập đến, vì vậy nên GV cần hướng dẫn các em tiếp
tục tự mình đọc thêm tác phẩm ở nhà một cách cụ thể và với mục đích rõ ràng, tránh hình
thức qua loa, chiếu lệ.
3.4. Thiết kế giáo án thể nghiệm.
3.4.1. Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên (Lớp 12 - chương trình chuẩn).
3.4.2. Đò Lèn - Nguyễn Duy (Lớp 12 - chương trình chuẩn).
3.5. Thực nghiệm sƣ phạm.
3.5.1. Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm sư phạm.
3.5.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm.
* Đối tượng thực nghiệm: Văn bản Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên) và Đò Lèn (Nguyễn
Duy) nằm trong chương trình Ngữ văn 12.
* Địa bàn thực nghiệm.
- THPT Ngô Quyền - quận Lê Chân, Hải Phòng.
- THPT Thái Phiên - quận Ngô Quyền, Hải Phòng.
3.5.3. Phương pháp tiến hành thực nghiệm.
3.5.4. Nội dung thực nghiệm.

thiết kế, năng lực tổ chức các hoạt động học tập và giảng dạy, năng lực giao tiếp.
- Đối với HS: Cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về thể loại thơ trữ tình, có ý
thức chủ động tiếp cận, tìm hiểu tác phẩm theo những phương pháp mới.
- Đối với nhà quản lý: Xây dựng những bài giảng mẫu, áp dụng các PPDH tích cực, tạo điều
kiện cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường. Khuyến
khích, động viên kịp thời các GV tích cực đầu tư đổi mới PPDH, sử dụng các phương tiện
dạy học hiện đại vào dạy học.
Tuy vậy, luận văn vẫn có những hạn chế mà tôi chưa khắc phục được vì chương trình
và SGK mới được đưa vào thực thi, việc tìm hiểu tình hình dạy học hai văn bản này chưa thật
đầy đủ như tôi mong muốn, việc khảo sát việc dạy học của thầy và trò còn hạn chế. Tôi hi
vọng từ những kết quả đạt được của đề tài sẽ giúp cho GV có kinh nghiệm khoa học bổ ích
trong việc tiếp cận tác phẩm văn chương trong nhà trường.
References
1. Aristote. Nghệ thuật thơ ca. Nxb Văn hoá Nghệ thuật Hà Nội, 1964.
2. Aistote. Nghệ thuật thơ ca. Nxb Văn học, 1999.
3. Đỗ Hữu Châu. Đại cương ngôn ngữ học, tập II: Ngữ dụng học. Nxb Quốc gia, 2001.
4. Nguyễn Viết Chữ. Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể). Nxb Đại
học quốc gia Hà Nội, 2001.
5. Nguyễn Viết Chữ. Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường. Nxb
Giáo dục, 2009.
6. Trần Thanh Đạm (chủ biên). Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể. Nxb
Giáo dục, 1971.
7. Phạm Văn Đồng. "Dạy văn là một quá trình toàn diện", Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số
28, 1973.
8. Phạm Văn Đồng. Phương pháp tự học và lòng ham học đó là cái quý nhất, Tạp chí Tự
học, số 9, 1973.
9. Hà Minh Đức (chủ biên). Lí luận văn học. Nxb Giáo dục, 2002.

31. SGV Ngữ văn 10, 11, 12 chương trình chuẩn, trọn bộ 2 tập. Nxb Giáo dục, 2007.
32. SGK Ngữ văn 10, 11, 12 chương trình nâng cao, trọn bộ 2 tập. Nxb Giáo dục, 2007.
33. SGV Ngữ văn 10, 11, 12 chương trình nâng cao, trọn bộ 2 tập. Nxb Giáo dục, 2007.
34. Zla-Rezzia (Phan Thiều). Phương pháp luận dạy văn học. Nxb Giáo dục, 1985.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status