Dạy học truyện ngắn sau năm 1975 trong chương trình ngữ văn lớp 12 theo hướng tiếp cận liên văn bản - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ CHÂM

DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN SAU NĂM 1975
TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12
THEO HƢỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ CHÂM

DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN SAU NĂM 1975
TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12
THEO HƢỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
MÃ SỐ: 60 14 01 11

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Thời Tân

HÀ NỘI – 2015



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

THPT

Trung học phổ thông

SGK

Sách giáo khoa

SGV

Sách giáo viên

Nxb

Nhà xuất bản

ii


iii


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHẦN TRUYỆN NGẮN SAU
NĂM 1975 ( NGỮ VĂN 12, TẬP 2) VÀ VẬN DỤNG HƢỚNG TIẾP
CẬN LIÊN VĂN BẢN VÀO DẠY HỌC .................................................... 35
2.1. Thực trạng dạy học văn trong nhà trường THPT hiện nay nói chung và
truyện ngắn sau năm 1975 nói riêng ............................................................... 35
2.1.1 Thực trạng dạy học văn trong nhà trường THPT hiện nay nói chung ... 35
2.1.2. Thực trạng dạy học truyện ngắn sau năm 1975 trong nhà trường THPT
hiện nay nói riêng ........................................................................................... 37
2.2. Những yêu cầu của việc dạy học truyện ngắn sau năm 1975 (Ngữ văn 12,
tập 2 ) theo hướng tiếp cận liên văn bản ......................................................... 49
2.2.1. Việc trích dẫn, so sánh, liên hệ trong dạy học Ngữ văn cần thực hiện
theo hướng tiếp cận liên văn bản một cách có ý thức và khoa học hơn ......... 49
2.2.2. Không để “khách” lấn át “chủ” ............................................................. 50
2.2.3. Tạo sự liên kết giữa các văn bản hay các thành tố văn bản từng quen
thuộc với học sinh ........................................................................................... 51
2.3. Một số giải pháp dạy học phần truyện ngắn sau năm 1975 (Ngữ văn 12,
tập 2 ) theo hướng tiếp cận liên văn bản ......................................................... 54
2.3.1. Liên kết văn bản văn học với văn bản văn học ..................................... 54
2.3.2. Liên kết văn bản văn học với văn bản âm nhạc, hội họa, kịch bản điện
ảnh ................................................................................................................... 57
2.3.3. Liên kết văn bản văn học với đời sống văn hóa- Xã hội ...................... 59
Tiểu kết chương 2: .......................................................................................... 61
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM DẠY HỌC PHẦN TRUYỆN NGẮN
SAU NĂM 1975 (NGỮ VĂN 12,TẬP 2) THEO HƢỚNG TIẾP CẬN
LIÊN VĂN BẢN ............................................................................................ 62
3.1. Những vấn đề chung của việc thực nghiệm dạy học phần truyện ngắn sau
năm 1975 (Ngữ văn 12, tập 2 - Ban cơ bản) theo hướng tiếp cận liên văn bản

Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả (tính ra %) của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
......................................................................................................................... 66

vi


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra 15 phút .................................. 66
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra 60 phút .................................. 67

vii


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Nhiệm vụ quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học là làm thế nào để
nâng cao chất lượng dạy và học. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã
được xác định trong Nghị quyết Trung ương khóa VII và được cụ thể hóa ở luật
giáo dục: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, tác động đến tư tưởng, tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập
cho học sinh” [ 34, điều 28.2 ].
Đổi mới phương pháp dạy học là hướng tới hoạt động học tập chủ động,
sáng tạo, năng động, học sinh tự khám phá và giải quyết vấn đề. Trong Những
định hướng đổi mới chương trình- sách giáo khoa phổ thông đã nêu rõ tập trung
đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực,
chủ động, sáng tạo với sự tổ chức, hướng dẫn đúng mức của giáo viên, góp
phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học.

thực của thời kỳ vừa qua, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án
những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời. Một loạt truyện ngắn xuất hiện vào
cuối những năm 80 đầu những năm 90 như tác phẩm của Ma Văn Kháng,
Dương Thu Hương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu. Và
Nguyễn Minh Châu đã từng nhận thức lại phải làm những cuộc đối chứng trong
tư tưởng để vượt lên những nhận thức sai lầm, máy móc hoặc đơn giản về con
người và xã hội. Ngoài ra khuynh hướng triết luận đã có sự phát triển khá mạnh
mẽ trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới. Chiêm nghiệm, triết lý đã trở thành một
nhu cầu không thể thiếu của các nhà văn. Sự đổi mới sâu sắc còn được thể hiện
ở sự đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật và nghệ thuật trần thuật. Như vậy truyện
ngắn sau năm 1975 có sự phát triển và thay đổi toàn diện nhất là ở góc độ thi
pháp. Hiểu được những vấn đề trên sẽ là định hướng cơ bản để giáo viên tiếp
cận giải mã các tác phẩm văn học thời kỳ đổi mới này. Vấn đề đặt ra trong
phương pháp giảng dạy các tác phẩm truyện ngăn sau 1975 là làm sao trang bị

2


cho học sinh phương pháp tiếp cận lĩnh hội được những vấn đề đổi mới của
truyện ngắn giai đoạn này, có năng lực đánh giá giải quyết được các vấn đề đặt
ra trong tác phẩm. Từ đó học sinh có cái nhìn toàn diện bao quát về tiến trình
truyện ngắn Việt Nam, là cơ sở để các em tiếp tục học tập nghiên cứu văn học
sau năm 1975 ở cấp học cao hơn.
Trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 có hai bài học về truyện ngắn sau
1975: Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Một người Hà Nội (Nguyễn
Khải). Đây là hai tác phẩm đã được đưa vào chương trình mới. Việc nghiên cứu
hai tác phẩm này được quan tâm khá sâu sắc, việc giảng dạy đã được áp dụng
nhiều phương pháp trong một thời gian khá dài. Tuy nhiên việc giảng dạy phần
chương trình này vẫn chưa thực sự hiệu quả.
Thực tế trên là nguyên nhân thôi thúc chúng tôi viết luận văn với đề tài:

-Phùng Phƣơng Nga có bài viết Liên văn bản và vấn đề đối thoại của tư tưởng
trong văn xuôi đương đại, Văn nghệ trẻ số 3 (741) và số 13 (754).
Các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là những gợi ý bổ ích
cho đề tài của tôi và có đóng góp lớn vào việc chỉ ra những con đường để chiếm
lĩnh tác phẩm truyện ngắn sau năm 1975.
2.2. Các công trình nghiên cứu về truyện ngắn sau năm 1975
Chúng tôi rất quan tâm tới các công trình sau:
- PGS.TS. Nguyễn Viết Chữ. Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương
trong nhà trường. Nxb Giáo dục, 2009.
- TS. Nguyễn Văn Đƣờng. Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 12, tập2. Nxb Hà Nội,
2009.
- Phan Cự Đệ chủ biên. Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp - chân dung.
Nxb GD, 2007.
- Nguyễn Trọng Hoàn. Tuyển chọn Nguyễn Minh Châu, tác giả và tác phẩm.
Nxb Giáo dục, 2002.
- Trần Bá Hoành. Đổi mới phương pháp dạy học - chương trình và sách giáo
khoa. Nxb Đại học Sư phạm, 2006.
- Nguyễn Thị Thanh Hƣơng. phương pháp tiếp cận văn học ở trường PTTH.
Nxb Giáo dục Hà Nội, 1998.

4


- GS. Phan Trọng Luận. Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường
phổ thông, tập 2. Nxb Giáo dục, 1998.
- GS.Phan Trọng Luận. Thiết kế bài học ngữ văn 12, tập 2. Nxb Giáo dục Hà
Nội, 2009.
- Đỗ Ngọc Thống. Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ Văn trung học
phổ thông. Nxb Giáo dục, 2006.
- Thái Duy Tuyên. Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại. Nxb Giáo

truyện ngắn sau năm 1975.
- Học sinh lớp 12 ban cơ bản THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về dạy học các truyện ngắn sau năm 1975 theo hướng
tiếp cận liên văn bản.
- Vận dụng vào dạy học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn
Minh Châu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp nhóm các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các tài liệu lý luận (triết học, giáo dục học, tâm lí học, lí
luận dạy học bộ môn Ngữ Văn) có liên quan tới vấn đề của luận văn; Lí luận về
Liên văn bản.
- Nghiên cứu SGK, phân phối chương trình, sách tham khảo, Tạp chí,
các tài liệu có liên quan đến lí thuyết truyện ngắn sau năm 1975.
5.2. Điều tra, quan sát
Dự giờ, phỏng vấn, thu thập ý kiến của GV và HS về thực trạng dạy học
truyện ngắn sau năm 1975 ở học sinh lớp 12.
5.3. Thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi tiến hành soạn giáo án và dạy thể nghiệm để kiểm nghiệm tính
khả thi của đề tài.
5.4. Phương pháp thống kê
Nhằm xử lý kết quả thu được qua thực nghiệm, tính điểm trung bình,

6


độ lệch chuẩn để đánh giá hiệu quả của quá trình thực nghiệm.
6. Đóng góp của luận văn
- Tìm ra thực trạng khi dạy học tác phẩm truyện ngắn sau năm 1975 hiện nay.

thoại và tiểu thuyết, 1966) và sau đó có các công trình: Texte clos (Sự phong kín
văn bản, 1967); Kí hiệu học, nghiên cứu phân tích ngữ nghĩa,1969). Theo ông,
văn bản không được hình thành từ những ý đồ sáng tác riêng của người cầm bút
mà chủ yếu là từ những văn bản khác đã hiện hữu trước đó. Theo đó, mỗi văn
bản là sự hoán vị của các văn bản, là nơi lời nói của các văn bản khác gặp gỡ và
hòa trộn vào nhau. Nói cách khác, không có văn bản tồn tại độc lập như một sự
sáng tạo tuyệt đối mà luôn luôn phải chịu sự tác động của văn bản văn hóa,
trong đó chứa đựng ít nhiều những cấu trúc ý thức hệ và quyền lực qua các hình
thức diễn ngôn khác nhau. Như vậy, một văn bản ra đời là giao điểm của ít nhất
một từ hay một văn bản khác được đọc. Kisteva quan niệm văn bản là một quá
trình vận động và tương tác liên tục. ý nghĩa của mỗi từ trong văn bản được quy
định bởi hai trục: giữa tác giả với độc giả (trục ngang) và giữa nó với các văn
bản khác trước hoặc cùng thời (trục dọc). Ông cho rằng, bản thân mỗi văn bản
là một liên văn bản, trong đó các văn bản khác cùng hiện hữu, góp phần chi
phối và thay đổi diện mạo của văn bản đó. “Mỗi văn bản đều như là tấm vải mới
được dệt bằng những trích dẫn cũ” [3, tr 35], mỗi văn bản đều có sự hấp thụ và

8


chuyển thể của các văn bản khác. Quan niệm của Kristeva đã nhận được sự
đồng tình của nhiều nhà lí luận văn học.
Tiếp nối quan niệm của Kristeva, Michel Foucault đã mở rộng thuật ngữ
liên văn bản với quan niệm biên giới của một cuốn sách không bao giờ thực sự
rõ ràng, vượt ra khỏi cấu trúc nội tại và hình thức mang tính tự trị mà hòa lẫn
vào hệ thống quy chiếu từ các cuốn sách, văn bản hay câu văn khác.
Gerard Genette tiếp tục phát triển khái niệm về tính liên văn bản thành
tính xuyên văn bản. Đây là một khái niệm rộng bao gồm cả liên văn bản, siêu
văn bản, cực đại văn bản, cổ văn bản.
Michael Riffaterre đã vận dụng tính liên văn bản vào việc đọc thơ. Theo

là động lực hướng dẫn sự hành ngôn chứ không phải chủ thể của hành động
hành ngôn.
Khái niệm liên văn bản, nảy sinh từ tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa hậu
hiện đại về vai trò tích cực của môi trường văn hóa – xã hội trong quá trình
khám phá và tri nhận thế giới. Khái niệm liên văn bản định hướng cho độc giả
mỗi văn bản tồn tại trong sự liên hệ với các văn bản khác có thể trước hoặc cùng
thời.
Khái niệm về liên văn bản thuộc trào lưu hậu hiện đại đã tạo được một
bước đi mới trong quá trình tiếp cận văn bản trên cả phương diện thưởng thức
lẫn thẩm bình. Theo khái niệm này, sẽ không có sự tồn tại biên giới của văn
bản, thể loại, không có sự nghi vấn về yếu tố trong hay ngoài văn bản. không có
sự phân biệt giữa văn bản và ngữ cảnh. Ví dụ, một kịch bản được chuyển thể từ
một tác phẩm văn học sang điện ảnh hoặc ngược lại. Trào lưu hậu hiện đại còn
cho rằng, văn bản trong bất cứ môi trường nào, không nhất thiết phải là văn bản
điện tử, đều chứa đựng một đặc tính tương tự; một kịch bản có thể liên hệ đến
nhiều văn bản văn học, lịch sử văn hóa, xã hội và ngược lại.
Như vậy khái niệm liên văn bản, về cơ bản có thể được hiểu là mỗi văn
bản là giao tuyến của nhiều văn bản nơi mà ít nhất một văn bản khác có thể đọc
được. Theo nghĩa rộng nhất thì khái niệm này có thể được xác định là “sự tương
tác của các văn bản”, tuy nhiên dựa trên những lập trường tư tưởng triết học
khác nhau của các nhà nghiên cứu mà nội dung cụ thể sẽ có sự biến đổi.

10


Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích tài liệu trong phạm vi của
luận văn này, chúng tôi đưa ra khái niệm về liên văn bản như sau: Liên văn bản
là liên kết các văn bản trong một văn bản qua sự sáng tạo và tiếp nhận của
người đọc với tính đối thoại một cách ý thức hay vô thức.
1.1.3. Đặc trưng của liên văn bản

lực và điều khiển sự tiếp nhận của độc giả đối với phần chính của văn bản.
Ngoa dụ văn bản là thuật ngữ Genette dùng để chỉ hiện tượng một văn
bản B nào đó (được ông gọi là hypertext) được biến đổi từ một văn bản A nào
đó đã tồn tại trước đó (được gọi là hypotext) mà nó không hẳn là chỉ bình luận.
Thuật ngữ kiến trúc văn bản của Genette có thể hiểu là mối quan hệ về
mặt thể loại của các văn bản. Kiến trúc văn bản không chỉ liên quan đến “tầm
đón đợi” về mặt thể loại của độc giả khi tiếp xúc với văn bản mà còn liên quan
đến hành vi sáng tạo văn bản của nhà văn. Tất nhiên, chính Genette cũng lưu ý
chúng ta là bản thân kiến trúc văn bản không phải là những “phạm trù riêng biệt
và thuần túy” mà là “sự va chạm, tương tác và chồng lấn lên nhau” giữa các thể
loại. Siêu văn bản khái niệm này đề cập đến việc một văn bản bình luận rõ ràng
hoặc không rõ ràng về một văn bản khác. Nhìn chung, Genette tuy trung thành
với những tư tưởng cấu trúc luận nhưng đã có những cách nhìn mới.
* Nhiệm vụ của liên văn bản
Một tác phẩm liên văn bản sẽ kéo toàn bộ tập hợp các văn bản được nó
hấp thụ vào một đầu mối ý nghĩa thống nhất. Một mặt, chúng không triệt tiêu
lẫn nhau, mặt khác tác phẩm sẽ trở thành một chỉnh thể cấu trúc không bị rã ra:
Liên văn bản không phải là sự tích tụ những tác động khác nhau một cách hỗn
loạn và vô nghĩa lí, mà là hoạt động biến đổi và đồng hoá vô số văn bản do văn
bản – hạt nhân trung tâm – loại văn bản luôn dành về phía mình vai trò ngữ
nghĩa”. Bởi vậy khi nghiên cứu lí thuyết liên văn bản có các nhiệm vụ đang
được đặt ra như sau:
- Thứ nhất, giới hạn chính đối tượng của lí thuyết liên văn bản, lí thuyết không
cần phát hiện sự gọi tên theo kiểu liên tưởng, chủ quan các ý nghĩa mà cần phát
hiện các mối liên hệ trực tiếp, hiển nhiên và có thể chứng minh giữa các văn

12


bản, tức là giữa các trường hợp có sự dịch chuyển ít hay nhiều một văn bản này



một quy mô lớn những bức tranh về hiện thực đời sống, trong đó chứa đựng
những vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, số phận con người. Brander
Matthews trong công trình Triết học của truyện ngắn cho rằng: Sự khác nhau
giữa tiểu thuyết và truyện vừa chỉ là vấn đề độ dài. Truyện vừa ngắn hơn tiểu
thuyết, nhưng sự khác nhau của truyện ngắn và tiểu thuyết là ở thể loại. Một
truyện ngắn thực sự là cái gì đó khác hơn một câu chuyện mang đặc điểm ngắn.
Một truyện ngắn thực sự khác với tiểu thuyết chủ yếu ở sự duy nhất về ấn tượng
cốt lõi của nó. Diễn đạt một cách chính xác và đúng đắn hơn là một truyện ngắn
có sự duy nhất mà tiểu thuyết không thể có. Thật khó để đưa ra một khái niệm
bao quát, trọn vẹn về truyện ngắn. Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi
sử dụng khái niệm truyện ngắn được rút ra trong các cuốn Từ điển văn học.
“Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ, truyện ngắn khắc với truyện
vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung miêu tả một mảnh của đời sống” [33, tr
452].
“Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy
đặn và vẹn toàn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện
tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn
của con người” [33, tr 253]
1.2.2. Đặc điểm truyện ngắn
* Nhân vật
Nhân vật là yếu tố quan trọng hàng đầu của thể loại truyện ngắn. Một
truyện ngắn hay phải có nhân vật sống động, sắc nét và có ý nghĩa sâu sắc.
Nhân vật của truyện ngắn thường được biểu hiện qua các phương diện sau đây:
- Miêu tả ngoại hình, nội tâm, hành động, biến cố cuộc đời, ngôn ngữ của
nhân vật nhằm thể hiện tính cách và số phận con người. Ngoại hình nhân vật
thông thường được người kể truyện trực tiếp giới thiệu hoặc thông qua lời kể
của nhân vật khác.
- Mối quan hệ giữa các nhân vật, nhân vật với môi trường xung quanh.

1.3.1. Bối cảnh lịch sử
Ngày 30/4/1975 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm đã
kết thúc toàn thắng. Đất nước thu về một mối, uy tín của Việt Nam trên trường
quốc tế mở rộng (quan hệ với 97 nước trên thế giới). Đất nước bước vào thời kỳ

15


mới. Đại hội lần thứ tư, 5,6, 7, 8 được tiến hành định kỳ, mỗi nhiệm kỳ đại hội
đều đặt ra cho đất nước những nhiệm vụ mới. Sau giải phóng Miền Nam đất
nước chuyển mình sang cải tạo về kinh tế đất nước nền văn học dân tộc tưởng
như cứ thế “thừa thắng xông lên” giành những thành tựu rực rỡ hơn. Những
người cầm bút có sự hụt hẫng, một sự lệch pha “giữa người sáng tác và công
chúng của mình”. Nguyên Ngọc ghi lại những tâm trạng của mình: Trong khi
các nhà văn chúng ta say xưa, bây giờ hoà bình vốn sống tích luỹ bao nhiêu năm
bao năm như “cá tức trứng” muốn đẻ lắm rồi, thì giờ thừa nứa ra đó, bom đạn
cũng thẳng hết rồi, vật chất cũng khốn đốn hơn nhiều, tha hồ mà viết, viết cho
hết cho đã, thì bỗng dưng cái mối quan hệ vốn rất máu thịt giữa công chúng và
văn học đột nhiên, lạnh nhạt hẳn đi, hụt hẫng hẳn đi, người đọc mới hôm qua
mặn mà thế, bỗng dưng bây giờ quay lại với anh bởi vì thôi thế đã thay đổi, mà
văn học vẫn viết theo quá trình cũ.
Đặc biệt đại hội đảng lần thứ VI (1986), Nghị quyết mới về nền văn học
là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có ý nghĩa sống còn của đất nước. Đặc biệt từ
nghị quyết VI của đảng luôn luôn đặt cho văn học nghệ thuật một nhiệm vụ mới
quan trọng đó là: “Bảo đảm tự do dân chủ cho mọi sáng tạo cuả văn học nghệ
thuật, tạo điều kiện làm việc thuận lợi để phát huy hiệu quả của lao động nghệ
thuật”. Văn nghệ phải biết cổ vũ cái tốt phê phán cái sấu, chống các khuynh
hướng trái với đường lối văn nghệ của đảng. Công cuộc đổi mới đã đáp ứng
đúng nguyện vọng của các nhà văn và độc giả cũng như quy luật phát triển
khách quan của lịch sử, và nó trở thành phong trào mạnh mẽ. Năm 1976 Thái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status