Vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học các tác phẩm thơ mới trong chương trình ngữ văn 11 trung học phổ thông - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ BÍCH PHƯỢNG

VẬN DỤNG LÝ THUYẾT LIÊN VĂN BẢN VÀO DẠY
HỌC
CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THỜI TÂN

HÀ NỘI - 2015

1


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, trước tiên tôi
xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo và cán bộ nhân viên các
Phòng - ban của trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội và các
thầy cô của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng
dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Lê Thời Tân người trực tiếp
hướng dẫn khoa học đã nhiệt tình chỉ dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

1.1.4. Đặc trưng của liên văn bản ................................................................15
1.1.5. Các hình thức và nhiệm vụ liên văn bản ............................................16 .
1.2. Quá trình hiện đại hóa của văn học hiện đại Việt Nam .........................17 .
1.2.1. Cơ sở xã hội ......................................................................................17 .
1.2.2. Các giai đoạn phát triển của quá trình hiện đại hóa............................18 .
1.3. Tìm hiểu chung về thơ trữ tình .............................................................20 .
1.3.1. Khái niệm chung về Thơ ................................................................ 20
1.3.2 . Đặc điểm của thơ trữ tình ................................................................ 21
1.4. Khái quát về phong trào Thơ mới 1932 - 1945 ................................ 24
1.4.1. Hoàn cảnh ra đời ..............................................................................24 .
1.4.2. Thơ mới - cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam............................25 .
1.4.3. Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào Thơ mới........................27 .
Chương 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ MỚI TRONG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ VIỆC DẠY HỌC CÁC
TÁC PHẨM THƠ MỚI THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN
VĂN BẢN ................................................................................................ 31
2.1. Thực trạng dạy học Văn nói chung và Thơ mới nói riêng trong
trường THPT hiện nay ................................................................................31 .
2.1.1. Thực trạng dạy học Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay .........31 .
2.1.2. Thực trạng giảng dạy thơ trữ tình trong nhà trường THPT ................34
.
2.1.3. Tiêu chuẩn để đánh giá một giờ dạy Ngữ văn thành công .................35 .
2.2. Các tác phẩm Thơ mới trong chương trình THPT ................................38

3


2.3. Một số giải pháp tiếp cận các tác phẩm Thơ mới trong chương
trình Ngữ văn 11 theo hướng liên văn bản ..................................................41 .
2.3.1. Dạy học Thơ mới trong thể liên văn bản với "thơ cũ" ......................41 .

Trang
Bảng 3.1. So sánh trình độ HS các lớp đối chứng.........................................86
Bảng 3.2. Kết quả học tập các lớp dạy thực nghiệm................................ 87
Bảng 3.3. So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm.........................91
Biểu đồ 3.1. Kết quả học tập các lớp đối chứng ..........................................87
Biểu đồ 3.2. Kết quả học tập các lớp dạy thực nghiệm................................87

5


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục đào tạo đang là mục tiêu hàng
đầu của Đảng và Nhà Nước ta. Vì vậy, trong nghị quyết hội nghị TW 8 khóa XI
về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ "Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực,
chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học". Mục đích
của việc đổi mới là chuyển mạnh nền giáo dục truyền thụ kiến thức một chiều
sang giáo dục tương tác giữa người dạy và người học, giữa nhà trường và xã
hội. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Đổi mới
các hoạt động này nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản về tổ chức hoạt động
dạy học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, coi trọng giáo dục đạo
đức, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, phát triển năng lực, khả năng lập nghiệp
cho học sinh.
Từ xưa đến nay giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu, giáo dục
thực hiện sứ mệnh lịch sử là chuyển giao nền văn hóa của thế hệ này cho thế hệ kia.
Giáo dục là phương thức đặc trưng cơ bản để bảo tồn và phát triển văn hóa nhân
loại, là chiếc chìa khóa vạn năng mở ra những cánh cửa mới cho tương lai.
Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những nhiệm vụ

đặc biệt đối với giới nghiên cứu phê bình. Phong trào Thơ mới chính là trào lưu
thi ca giàu sức sáng tạo, mở ra một hướng mới đưa thi ca từ thời cận đại đến với
thời kì hiện tại. Việc giảng dạy phong trào Thơ mới ở trường THPT hiện nay
chưa làm rõ mối quan hệ gắn kết của các tác phẩm cùng nằm trong phong trào
Thơ mới cũng như với dòng chảy vận động của lịch sử văn học. Học sinh chưa
cảm thụ sâu sắc giá trị của các tác phẩm Thơ mới, chỉ nắm được nội dung từng tác
phẩm mà chưa vận dụng tối đa khả năng tư duy, tích hợp liên văn bản, liên môn để
chủ động chiếm lĩnh tác phẩm. Các em chưa có cái nhìn sâu sắc, toàn diện đầy đủ
về giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của các tác phẩm Thơ mới trong sự vận
động của tiến trình văn học Việt Nam.
7


Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu lý thuyết văn học phương
Tây ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong đó có lí thuyết liên văn
bản. Các vấn đề lý luận mà trước thời kì đổi mới bị lãng quên nay được các nhà
nghiên cứu xem xét lại một cách khách quan và khoa học. Tuy nhiên, những
thành tựu đó lại chưa thật sự được vận dụng phổ biến vào dạy học ngữ văn
trong nhà trường đặc biệt là thơ trữ tình trong đó có phong trào Thơ mới. Từ
những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: Vận
dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học các tác phẩm Thơ mới trong
chương trình Ngữ Văn 11- Trung học phổ thông làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn của mình. Chúng tôi mong muốn tiếp cận một thời kì phát triển của thơ
ca dân theo hướng tiếp cận liên văn bản để nâng cao năng lực cảm thụ văn chương
cho học sinh cũng như góp phần đổi mới phương pháp dạy học và
nâng cao chất lượng giáo dục .
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Các công trình nghiên cứu về lí thuyết liên văn bản
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Thuấn với đề tài Liên văn bản trong sáng
tác của nguyễn Huy Thiệp (2003). Luận án đã nghiên cứu nguồn gốc của lý

nghĩa về Thơ mới "Thơ mới là lối thơ không theo quy củ của thơ cũ nghĩa là
không hạn chế số câu, số chữ, không theo niêm luật, chỉ cần có vần và điệu
Trong công trình Phong trào Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945, in năm
1981, giáo sư Phan Cự Đệ đã viết: Chúng tôi cho rằng bản chất của Thơ mới
lãng mạn là tiêu cực, thoát li và đã có những màu sắc suy đồi. Khách quan mà
nói thơ ca lãng mạn ít nhiều đã làm cho thanh niên trở nên bi lụy và do đó làm
quẩn bước chân của họ trên con đường đi đến cách mạng. Tuy nhiên ở nước ta thời
kì trước cách mạng tháng Tám, từ những người phát ngôn cho quan niệm nghệ
thuật vị nghệ thuật bằng những lời lẽ thành thực và ngây thơ, những thi sĩ đắm
mình trong cái tháp ngà của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tượng trưng cho
đến những kẻ đề xướng ra một cái tôi to tướng, kênh kiệu, đi lù lù giữa cuộc đời
và ném đá vào những người xung quanh…".
- Tinh hoa Thơ mới - Thẩm bình và suy nghĩ do Lê Bá Hán (Chủ biên) đã
có cánh nhìn nhận đánh giá sâu sắc về phong trào Thơ mới .
9


- Nhà Văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan cũng biểu dương một số thi sĩ
của phong trào Thơ mới lãng mạn.
- Tác phẩm "Con mắt thơ" của Đỗ Lai Thúy đã cố gắng tìm tòi, phân tích
phong cách nghệ thuật độc đáo của một số gương mặt tiêu biểu như Xuân Diệu,
Huy Cận, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử... Đỗ Lai Thúy cũng nhận định "Xuân thu nhã
tập không phải là cuốn sách tổng kết phong trào Thơ mới như thi nhân Việt Nam
mà là những suy nghĩ, thể nghiệm về Thơ mới khi nó chuyển sang giai đoạn
tượng trưng". Đỗ Lai Thúy cho rằng "Xuân thu nhã tập là khúc hát thiên nga
của phong trào Thơ mới". Trong Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, phong trào
Thơ mới được khẳng định là "sự tìm tòi tiếp tục và liên tục". Thơ mới đề cao
cái tôi, đòi hỏi giải phóng cá nhân, tìm thoát li trong mộng ảo, những miền xa
lạ, cái đẹp thiên nhiên và quá khứ.
- Dõi theo mỗi bước thăng trầm của Thơ mới, với mong muốn phác thảo một

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Thực trạng dạy học Thơ mới trong trường Trung học phổ thông và
việc dạy học các tác phẩm Thơ mới theo hướng tiếp cận liên văn bản. Chương 3:
Thực nghiệm sư phạm.

12


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lí thuyết liên văn bản
1.1.1. Nguồn gốc liên văn bản
Liên văn bản (intertextuality) là thuật ngữ được nhà lý luận của chủ
nghĩa hậu hiện đại J.Kristéva đưa ra vào năm 1967, trong tiểu luận "Bakhtin, từ,
đối thoại và tiểu thuyết". "Mỗi văn bản đều như là tấm vải mới được dệt bằng
những trích dẫn cũ" [16, 35] . Liên văn bản là một trong những thuật ngữ được
sử dụng nhiều nhất nhưng đồng thời cũng là một trong những thuật ngữ khó
xác định nhất trong lý thuyết văn học nửa sau thế kỷ XX. Liên văn bản từng
được sử dụng với những tên gọi khác nhau: Đối thoại, liên ý thức, tiếp xúc văn
bản, ngữ cảnh. Những thuật ngữ này được M. Bakhtin và N.
Voloshilov sử dụng trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và văn học,
thi pháp học và phương pháp luận xã hội, chống hình thức chủ nghĩa và ngữ
nghĩa học mĩ học. Thuật ngữ liên văn bản lần đầu tiên được J.Kristeva sử dụng
(1967) trên cơ sở phân tích quan niệm "tiểu thuyết đa thanh" của M Bakhtin.
Liên văn bản theo nghĩa nguyên khởi của thuật ngữ là cơ chế vận hành
hiện thực được văn bản hóa, nằm ngoài ý muốn của tác giả văn bản lại do tâm thức

một thuật ngữ mới: tính liên văn bản (intertextuality).
Theo Kristeva, văn bản không được hình thành từ những ý đồ sáng tác
riêng của người cầm bút mà chủ yếu là từ những văn bản khác đã hiện hữu
trước đó: mỗi văn bản là một sự hoán vị của các văn bản, nơi lời nói từ các văn
bản khác gặp gỡ nhau, tan loãng vào nhau và trung hoà sắc độ của nhau. Nói
cách khác, không có văn bản nào thực sự cô lập, một mình một cõi, như một sự
sáng tạo tuyệt đối: văn bản nào cũng chịu sự tác động của văn bản văn hoá (cultural
text), cũng chứa đựng ít nhiều những cấu trúc ý thức hệ và quyền lực thể hiện qua
các hình thức diễn ngôn khác nhau trong xã hội. Hậu quả là từ hay văn bản nào
cũng là một giao điểm nơi ít nhất là một từ hay một văn bản khác được đọc. Trong
ý nghĩa này, Kristeva xem văn bản có tính sản xuất
14


(productivity) lúc nào nó cũng là một quá trình vận động và tương tác liên tục.
Ý nghĩa của các từ ngữ được sử dụng trong văn bản thay đổi màu sắc theo
những thay đổi trong xã hội. Kristeva cho ý nghĩa của mỗi từ trong văn bản
được quy định bởi hai trục khác nhau: một, trục ngang, giữa tác giả và độc giả;
và hai, trục dọc, giữa nó với các văn bản khác cũng như với chu cảnh (context)
văn hoá và xã hội trước đó cũng như cùng thời. Từ đó, Kristeva cho rằng mỗi văn
bản là một liên văn bản, ở đó các văn bản khác cùng hiện hữu để góp phần chi
phối và làm thay đổi diện mạo của văn bản ấy. Mỗi văn bản là một sự hấp thụ và
chuyển thể của văn bản khác, là một tấm vải mới dệt từ những trích dẫn cũ, ở đó
có vô số những mảnh vụn của các mã ngôn ngữ, các quy ước văn học, các
khuôn mẫu nhịp điệu, các hình thức diễn ngôn vốn từng phổ biến trong xã hội.
Quan niệm về tính liên văn bản của Kristeva nhanh chóng nhận được sự
đồng tình của nhiều lý thuyết gia lớn, những người sẽ khai triển khái niệm tính liên
văn bản theo nhiều chiều hướng khác nhau, mở rộng nội hàm của nó, biến nó thành
một trong những thuật ngữ vừa được phổ biến rộng rãi, ít nhiều có tính thời
thượng, lại vừa phức tạp, thậm chí chứa đầy nghịch lý, nhất là khi chuyển từ lý

văn học như một hệ thống ký hiệu, mặt khác giải thoát văn
bản văn học ra khỏi cách nhìn tất định luận về tâm lý, xã hội học hay lịch sử.
Việc khám phá ra tính liên văn bản cũng làm thay đổi bảng giá trị
truyền thống của văn học. Với tính liên văn bản, mọi văn bản đều trở thành bất quyết
và bất định; cái gọi là bản sắc văn bản cũng như những thẩm quyền vốn gắn liền
với văn bản từ xưa đến nay đều bị đặt thành nghi vấn. Ví dụ, dưới ảnh hưởng của
chủ nghĩa lãng mạn, người ta xem tính độc sáng như tiêu chí cao nhất của văn
học, nhưng nếu văn bản chỉ là một mạng lưới của các trích dẫn không rõ xuất xứ,
cái gọi là tính độc sáng ấy tự nhiên biến thành một điều vô nghĩa. Sự sụp đổ của
tính độc sáng làm cho ranh giới giữa văn học và cái phi văn học trở thành mập
mờ. Cái gì cũng là một văn bản cả, một bài thơ hay một thiên tiểu thuyết là một văn
bản, một lá truyền đơn, một mẩu nhắn tin hay một tờ quảng cáo v.v cũng đều là văn
bản. Hơn nữa, cả những công trình phi ngôn

16


ngữ như một bức tranh, một màn trình diễn thời trang cũng có thể được xem là
những văn bản.
Bất cứ cái gì có thể được nhìn như một ký hiệu và có khả năng biểu đạt một ý
nghĩa đều được xem là văn bản. Văn bản nào cũng ở trong quá trình vận động liên
tục. Trong quá trình vận động ấy, hình dạng của nó không ngừng thay đổi. Sự
thay đổi về không gian sẽ kéo theo sự thay đổi trong bản thân khái niệm "văn
bản". Nếu văn bản theo nghĩa cổ điển trên sách in, chủ yếu là một công trình ngôn
ngữ với sự kết hợp giữa các yếu tố từ vựng và một ít các yếu tố phi từ vựng, từ
các dấu câu đến cách trình bày trên trang giấy như cách ngắt dòng hay cách sắp
dòng thì văn bản dưới hình thức điện tử vừa là một công trình ngôn ngữ vừa là
một công trình phi ngôn ngữ. Trong đó, có âm thanh, hình ảnh, hay các sự
chuyển động mà internet có thể làm được. Nếu
văn bản cổ điển có một trung tâm quy chiếu rõ ràng với một cấu trúc vững chãi

Derrida là người đầu tiên khơi động ý tưởng "không có gì ngoài
văn bản" để manh nha những ý thức phôi thai về vai trò của Liên văn bản
(intertextuality) thì Roland Barthes mới là kẻ đi đầu trong sự cổ xuý và quảng bá
tư tưởng này như một bước đột phá lớn - đưa văn học từ điểm nhìn gò bó và tù
hãm dựa trên hệ lý thuyết cấu trúc luận (structualism) sang một cách nhìn rộng
hơn, sâu hơn và nhiều tự do hơn của lý thuyết giải cấu trúc (deconstruction).
Chính văn bản mới là động lực hướng dẫn sự hành ngôn chứ không phải chủ thể
của hành động hành ngôn - một khi đã bắt đầu, tính chất liên văn bản sẽ khởi
động một động hướng có tính cách dây chuyền để làm bộc lộ càng lúc càng nhiều
thêm những văn bản khác. Kết quả, người đọc (và cả người viết) sẽ có một cuộc
du hành kỳ thú qua nhiều chặng đường lịch sử,
xã hội, tâm lý hay trải nghiệm sự tương tác giữa các nền văn hoá khác nhau.
Khái niệm liên văn bản nảy sinh từ tư tưởng cơ bản chủ nghĩa hậu hiện đại
về vai trò tích cực của môi trường văn hóa - xã hội trong quá trình khám phá và
tri nhận thế giới. Khái niệm liên văn bản nhắc nhở cho người đọc nhận biết một
cách có ý thức rằng mỗi văn bản tồn tại trong sự liên hệ với văn bản khác, có thể
xuất hiện trước hoặc cùng thời. Thực tế văn bản lệ thuộc vào những văn bản
khác còn nhiều hơn vào chính người tạo ra nó. Tính chất này
18


đã được Michel Foucault, cha đẻ của một trong những trường phái Tân Lịch
Sử (New Historicism) thuộc trào lưu hậu hiện đại nhấn mạnh: "Những biên
thuỳ của một cuốn sách không bao giờ rõ ràng, bên kia trang bìa ghi ra tựa đề
cuốn sách bắt đầu từ những dòng đầu tiên cho đến khi cuốn sách ngưng lại ở
dấu chấm cuối cùng, vượt ra ngoài cấu trúc nội tại và hình thức tự thân của
cuốn sách ấy" [15]
Khái niệm liên văn bản trong trào lưu hậu hiện đại đã tạo nên một lối đọc
mới, lạ và mang tính chất cách mạng khi tiếp cận một văn bản, để thưởng thức
đối với người thuần tuý biết đọc hay để thẩm định, phân tích dưới quan điểm của

học xác định (trích dẫn, ám chỉ, bình giải, nhại, bắt chước, vay mượn) cách hiểu
như thế đòi hỏi sự hiện diện của văn bản gốc đã có trước và xu hướng của tác giả sử
dụng văn bản gốc đó. Trong cách tiếp cận này không có gì mới ngoài thuật ngữ
được dùng để biểu thị các hiện tượng văn học vốn cũng cổ xưa như chính văn
học.
Ở đầu bên kia liên văn bản được hiểu như là thuộc tính bản thể của mọi văn
bản ("bất kỳ văn bản nào cũng là liên văn bản", R. Barthes) tức là được nhận
định như sự xóa nhòa ranh giới giữa các văn bản của các tác giả riêng rẽ, giữa văn
bản văn học cá nhân và văn bản vĩ mô của truyền thống, giữa các văn bản thuộc các
thể loại và loại hình khác nhau (không nhất thiết là mang tính nghệ thuật), giữa
văn bản và độc giả, giữa các văn bản và hiện thực. Như vậy liên văn bản mô tả
không phải hiện tượng văn học, mà một quy luật khách quan nào đấy của sự tồn
tại của loài người nói chung.
Như R. Barthes viết, "mọi văn bản đều là liên văn bản đối với một văn bản
khác" nhưng không nên hiểu tính liên văn bản này theo kiểu là văn bản có một
nguồn gốc nào đó. Nếu liên văn bản như một thủ pháp văn học, như sự tương tác
của các văn bản có tác giả bao giờ cũng tồn tại chỉ kiểu loại và những quy luật
tương tác là thay đổi tùy thuộc vào các mã văn học của các thời đại, thì liên văn
bản theo nghĩa nguyên khởi của thuật ngữ - như là cơ chế vận hành của hiện thực
được văn bản hóa, nằm ngoài ý muốn của các tác giả văn bản - lại do tâm thức
của thế kỷ XX sinh ra. Chính trong thế kỷ này liên văn bản đã trở thành quan
niệm trung tâm về một bức tranh thế giới xác định,
20


cụ thể là quan niệm thế giới như một văn bản, điều này được thể hiện trong
nhiều tác phẩm văn học hiện đại. Quan niệm về liên văn bản nhắc chúng ta mỗi
văn bản luôn tồn tại trong mối quan hệ với những văn bản khác, với người đọc và tác
giả.
1.1.5. Các hình thức và nhiệm vụ liên văn bản

văn bản, tức là giữa các trường hợp có sự dịch chuyển ít hay nhiều một văn bản
này sang văn bản khác.
- Thứ hai, nghiên cứu bình diện quan hệ của lí thuyết liên văn bản đó là
"tổng thể các quan hệ với những văn bản khác được tìm thấy bên trong văn
bản" (vấn đề văn bản trong văn bản)
- Thứ ba, đưa chiều kích sáng tạo "chuyển đổi" liên văn bản lên bình
diện thứ nhất: mệnh đề "tổng hoà các quan hệ với những văn bản khác" trong
trường hợp này sẽ không có nghĩa là sự cộng gộp hay đặt cạnh nhau một cách cơ
học, mà là sự xử lí, tinh chế tích cực. Tác phẩm liên văn bản sẽ kéo toàn
bộ tập hợp các văn bản được nó hấp thụ vào một đầu mối ý nghĩa thống nhất. Một
mặt, chúng không triệt tiêu lẫn nhau, mặt khác tác phẩm sẽ trở thành một chỉnh
thể cấu trúc không bị rã ra: "Liên văn bản không phải là sự tích tụ những tác
động khác nhau một cách hỗn loạn và vô nghĩa lí, mà là hoạt động biến đổi và
đồng hoá vô số văn bản do văn bản - hạt nhân trung tâm - loại
văn bản luôn dành về phía mình vai trò ngữ nghĩa "
1.2. Một số vấn đề đổi mới dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông hiện
nay
Quan điểm hiện đại về dạy học hiện nay cho rằng: "Dạy học bằng hoạt
động thông qua hoạt động của học sinh để học sinh tự lực, tích cực chiếm lĩnh
kiến thức". Điều đó có nghĩa là trong quá trình dạy học, thầy cô không chỉ
truyền thụ hệ thống kiến thức cơ bản mà quan trọng là xây dựng cho học sinh
một tiềm lực, một bản lĩnh thể hiện ở phương pháp suy nghĩ và làm việc, trong cách
tiếp cận, giải quyết các vấn đề thực tiễn đồng thời giúp học sinh có khả năng
phát triển vốn hiểu biết đã có, biết được năng lực sở trường của mình để lựa chọn
nghề nghiệp, thích ứng với sự phát triển xã hội. Học sinh chủ động xây dựng,
chiếm lĩnh kiến thức, vận dụng vào thực hành và cuộc sống.
22


1.2.1. Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm

sinh. Tuy nhiên, các chủ thể có khi cũng gặp phải những tình huống không xử
lý được, những cuộc tranh luận không kết luận được thì lại phải cần đến vai trò
của giáo viên.
Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và là "trọng tài" cho hoạt động học
tập của học sinh: Giáo viên sẽ là người định hướng, đạo diễn cho học sinh tích
cực, chủ động khám phá kiến thức. Ở đây, quan hệ thầy - trò tồn tại trên cơ sở sự
tin cậy, tôn trọng, hợp tác. Khi cá nhân và tập thể lớp đứng trước những tranh
luận chưa ngã ngũ, người thầy sẽ là một người "trọng tài khoa học", là người
kết luận có tính chất khẳng định về mặt khoa học, giúp học sinh xử lý đúng đắn
các tình huống phức tạp trong quá trình hoạt động học tập.
Học sinh tự đánh giá hoạt động học tập của mình: Sau khi trao đổi, hợp tác
với các bạn và dựa vào kết luận của thầy, học sinh tự đánh giá lại sản phẩm của
mình, tự chỉnh sửa những lỗi lầm mắc phải trong sản phẩm đó, tự rút kinh nghiệm
về cách học, cách giải quyết vấn đề, tự hoàn thiện kiến thức của mình
1.2.2. Mục tiêu của việc dạy văn
1.2.2.1.Hình thành và phát triển năng lực giao tiếp chuẩn tiếng Việt
Trong dạy Văn, giáo viên phải đi từ dạy đọc hiểu những văn bản dễ đến
khó, từ viết đúng đến viết hay, chuẩn chính tả, chuẩn phát âm, học sinh phải
đảm bảo không viết câu sai ngữ pháp, diễn đạt thiếu mạch lạc, thông qua kết
hợp với học tác phẩm văn chương, học sinh thấy được "cái hay, cái đẹp" của
tiếng Việt, biết diễn tả những điều phức tạp hơn trong tình cảm và suy nghĩ của
mình, có khả năng giao tiếp, hòa nhập với thế giới xung quanh. Vì vậy, năng
lực giao tiếp chuẩn tiếng Việt là năng lực cần thiết phải hình thành và phát triển
cho học sinh.
1.2.2.2. Bồi dưỡng và phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh

24


Phát triển năng lực thẩm mĩ nhằm hình thành ở các em một kiểu cảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status