dạy học tác phẩm nghị luận trong chương trình ngữ văn 12 theo đặc trưng loại thể - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
 PHẠM THUÝ HẰNG DẠY HỌC TÁC PHẨM NGHỊ LUẬN
TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
THEO ĐẶC TRƢNG LOẠI THỂ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY - HỌC VĂN TIẾNG VIỆT

Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Gia Cầu
Thái Nguyên - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Tiến
sĩ Nguyễn Gia Cầu, người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình
thực hiện và hoàn thành luận văn này.

THPT: Trung học phổ thông
CT – SGK: Chƣơng trình – Sách giáo khoa
TPNL: Tác phẩm nghị luận
VBNL: Văn bản nghị luận
TPVC: Tác phẩm văn chƣơng
TTC: Tính tích cực
THCVĐ: Tình huống có vấn đề

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU Trang
1. Lí do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 6
3. Mục đích nghiên cứu 10
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 11
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 11
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 11
7. Kết cấu của luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: MỘT SỐ TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC TPNL
THEO ĐẶC TRƢNG LOẠI THỂ

2.2.3. Giáo viên với việc tổ chức giờ học TPNL 57
2.3. Khảo sát thực tiễn việc học TPNL của học sinh 62
2.3.1. Hứng thú của HS với việc học TPNL 63
2.3.2. Học sinh với việc đọc hiểu TPNL 65
2.3.3. Trình độ hiểu biết của HS về TPNL 66
2.3.4. Những khó khăn và nguyện vọng của HS khi tiếp nhận TPNL 71
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY
HỌC TPNL TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 VÀ THỰC
NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học TPNL trong chƣơng
trình Ngữ văn 12 73
3.1.1. Hình thành và bồi dƣỡng kĩ năng đọc hiểu văn bản nghị luận cho HS 73
3.1.2. Sử dụng linh hoạt các dạng câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực, sáng
tạo của HS trong dạy học TPNL 77
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
3.1.3. Khơi dậy hứng thú học tập của HS trong quá trình tiếp nhận TPNL 79
3.2. Thực nghiệm sƣ phạm 85
3.2.1. Mục đích thực nghiệm 85
3.2.2. Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm 85
3.2.3. Kế hoạch và cách thức thực nghiệm 86
3.2.4. Nội dung thực nghiệm 87
3.2.5. Thiết kế thực nghiệm 87
3.2.6. Đánh giá kết quả thực nghiệm 99
3.2.6.1. Những căn cứ để đánh giá kết quả thực nghiệm 99
3.2.6.2. Kết quả thực nghiệm 99
3.2.6.3. Nhận xét kết quả thực nghiệm 103
PHẦN KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

THPT hiện nay: tác phẩm nghị luận chiếm một vị trí quan trọng. Khác với lối
văn hình tƣợng, văn nghị luận không dùng hƣ cấu, không dựa vào trí tƣởng
tƣợng mà dựa vào tƣ duy lô gic nhằm trình bày tƣ tƣởng, quan điểm nào đó
của ngƣời viết. Sức mạnh và sự thuyết phục của nó là ở lập luận chặt chẽ, lí lẽ
sắc bén và luận cứ xác đáng. Nếu lối văn hình tƣợng nhằm kích thích trí
tƣởng tƣợng, xây dựng óc quan sát tinh tế với tình cảm chân thực, những
khám phá hồn nhiên về thiên nhiên, về đời sống gia đình, xã hội thì văn nghị
luận nhằm hình thành và phát triển cho HS khả năng lập luận chặt chẽ, trình
bày những lí lẽ và dẫn chứng một cách sáng sủa, giàu sức thuyết phục, diễn tả
những suy nghĩ và nêu ý kiến riêng của mình về một vấn đề nào đó trong
cuộc sống hoặc trong văn học nghệ thuật. Có thể nói: mỗi tác phẩm nghị luận
chính là những nguyên mẫu để HS học tập cách làm văn nghị luận.
Đề tài của TPNL nói chung và TPNL trong SGK THPT nói riêng rất
phong phú, đa dạng, đề cập đến những vấn đề thời sự quan trọng về chính trị,
văn hoá, xã hội của đất nƣớc, cộng đồng. Sự phong phú, đa dạng; tính cập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
nhật của đề tài nghị luận trong chƣơng trình Ngữ văn phổ thông đã thể hiện rõ
quan điểm dạy học văn gắn với thực tế đời sống, rút ngắn khoảng cách giữa
văn học nhà trƣờng và đời sống xã hội. Vì vậy, dạy học TPNL có tác dụng rất
lớn trong việc bồi dƣỡng cho HS ý thức trách nhiệm đối với cuộc sống; nâng
cao nhận thức, hiểu biết về những vấn đề chính trị, xã hội, văn hoá.
Với mục tiêu chủ yếu: hình thành và rèn luyện cho HS năng lực đọc
hiểu cũng nhƣ tạo lập các loại văn bản, chƣơng trình Ngữ văn THPT lựa chọn
văn bản tác phẩm theo thể loại và tổ chức dạy học theo đặc trƣng thể loại. Với
đặc trƣng riêng của mình, TPNL đòi hỏi phải có cách tiếp cận riêng, theo
đúng đặc trƣng loại thể.
Những TPNL đƣợc đƣa vào chƣơng trình Ngữ văn 12 đều là TPNL
hiện đại. Ngoài những đặc điểm chung của văn nghị luận, TPNL hiện đại còn

Quốc Tuấn cho đến Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi, từ Bài tựa
sách Trích diễm thi tập (1497) của Hoàng Đức Lƣơng, Chiếu cầu hiền (1788)
của Ngô Thì Nhậm đến bản điều trần Xin lập khoa luật (1867) của Nguyễn
Trƣờng Tộ Và đặc biệt thế kỉ XX, văn nghị luận càng phát triển mạnh mẽ
hơn bao giờ hết. Hàng loạt tên tuổi các nhà chính luận, văn luận xuất sắc với
những áng văn nghị luận bất hủ, mà tiêu biểu nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh
với bản Tuyên ngôn độc lập (1945). Cùng với chủ tịch Hồ Chí Minh là những
chí sĩ yêu nƣớc nhƣ: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,
Ngô Đức Kế Tiếp đó là những nhà cách mạng, những nhà văn hoá nhƣ:
Trƣờng Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp ; những nhà
văn, nhà phê bình văn học nổi tiếng nhƣ Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân
Diệu, Chế Lan Viên Có thể nói, trong suốt trƣờng kì lịch sử dân tộc, văn
nghị luận là một thể văn phản ánh rõ nhất đời sống tinh thần, tƣ tƣởng, ý chí
và khát vọng của toàn dân ta.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
2.2. Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, TPNL đƣợc đƣa vào
giảng dạy trong nhà trƣờng phổ thông. Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan
tâm đến vấn đề dạy học TPNL. Tiêu biểu nhất là: “Vấn đề giảng dạy tác
phẩm văn học theo loại thể” của nhóm tác giả Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lý,
Hoàng Nhƣ Mai, Phạm Sĩ Tấn và Đàm Gia Cẩn do NXB Giáo dục xuất bản
năm 1970. Các tác giả cho rằng: loại thể văn học là một thành phần quan
trọng của hình thức nghệ thuật tác phẩm. Giảng dạy tác phẩm văn học theo
loại thể chính là một phƣơng diện lớn của việc giảng dạy tác phẩm văn học
trong sự thống nhất giữa hình thức với nội dung, một sự giảng dạy đi đúng
với qui luật và bản chất của văn học, đồng thời đảm bảo hiệu quả giáo dục cao
nhất. Bên cạnh việc đề cập đến giảng thơ, truyện, kí, kịch các tác giả đã
giành riêng một chƣơng bàn về giảng văn nghị luận theo đặc trƣng loại thể.
Xuất phát từ một nguyên nhân khá quan trọng trong thực tế giảng dạy khiến

truyện, một bài kí tức là HS đến với những bức tranh cuộc sống sinh động,
cụ thể về cảnh vật, con ngƣời, đến với thế giới của nội tâm con ngƣời phong
phú đa dạng Còn đến với TPNL là HS đến với những ý kiến, những nhận
định, những lời giải thích, những lời bình luận, những dẫn chứng về một vấn
đề nào đó. Khi đến với các tác phẩm văn học nghệ thuật, HS sống với thế giới
nghệ thuật bằng tƣởng tƣợng, liên tƣởng, cảm xúc, rung động, suy nghĩ Còn
khi đến với TPNL thì các em tiếp thu những quan niệm, những tƣ
tƣởng bằng nhận thức lí tính: phân tích, tìm kiếm luận đề, luận điểm, luận
cứ, suy nghĩ về quan điểm và giải quyết vấn đề của tác giả, phát hiện nghệ
thuật lập luận để học tập cách làm văn nghị luận.” [ 12, 252]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Trong cuốn “Thiết kế bài học Ngữ văn 8 theo hướng tích hợp”, chƣơng
VII, tác giả nhấn mạnh: “Chúng ta có thể dùng những tri thức lí thuyết về
phƣơng pháp làm văn để tìm hiểu, phân tích các TPNL” [13, 222]
Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Hoàng Thị Mai - Kiều Thọ
Long mang tên “Phương pháp dạy học văn bản nghị luận ở trường phổ
thông”, xuất bản năm 2009 cũng hết sức hữu ích với GV phổ thông. Trên cơ
sở nhận rõ vị trí quan trọng của VBNL trong chƣơng trình Ngữ văn THPT,
đặc điểm riêng của văn bản nghị luận, tác dụng lớn của dạy học văn bản nghị
luận trong việc rèn luyện cho HS tƣ duy lôgic, kĩ năng lập luận sắc bén, năng
lực biểu đạt những quan niệm, tƣ tƣởng một cách sâu sắc và bản lĩnh, tinh
thần tự chủ trƣớc đời sống, các tác giả đã đƣa ra những nguyên tắc cơ bản,
những biện pháp, cách thức trong việc tổ chức một giờ dạy học văn bản nghị
luận ở trƣờng phổ thông. Nếu các công trình nghiên cứu khác mới chỉ đề cập
một cách rất chung về mặt lí thuyết của dạy học TPNL thì “ Phương pháp
dạy học văn bản nghị luận ở trường phổ thông” của Hoàng Thị Mai - Kiều
Thọ Long lại rất chú ý kết hợp lí thuyết với việc thực hành dạy học TPNL.
Ngoài các cuốn sách kể trên, chúng ta còn phải kể đến nhiều bài

tiễn. Chúng tôi tiếp thu những thành tựu nghiên cứu khoa học đó để làm tiền
đề và cơ sở nghiên cứu cho luận văn của mình. Tiếp tục nghiên cứu vấn đề
này, chúng tôi sẽ cố gắng để có thêm những kết luận mới mẻ góp phần nâng
cao hiệu quả việc dạy học TPNL.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Khi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Dạy học TPNL trong chương
trình Ngữ văn 12 theo đặc trưng loại thể”, trƣớc hết chúng tôi mong muốn
cung cấp cho HS, GV những hiểu biết cặn kẽ về đặc trƣng của TPNL. Tiếp
theo là sự cần thiết của việc dạy học TPNL theo đặc trƣng loại thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
3.2. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tế, chúng tôi đề xuất
một số biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy học TPNL theo đặc trƣng loại thể.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với khả năng và tài liệu cho phép, chúng tôi xác định cho luận văn
những nhiệm vụ chính nhƣ sau:
4.1. Xây dựng những tiền đề lí thuyết và thực tiễn làm cơ sở khoa học
cho việc dạy học TPNL theo đặc trƣng loại thể cho GV, HS lớp 12 THPT.
4.2. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học TPNL
theo đặc trƣng loại thể.
4.3. Tổ chức thực nghiệm dạy học để kiểm tra khả năng thực thi và hiệu
quả của các giải pháp đƣợc đề xuất.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là đặc trƣng văn nghị luận và
phƣơng pháp dạy học TPNL trong nhà trƣờng.
5.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các giờ học TPNL trong chƣơng
trình, SGK Ngữ văn 12, tại một số trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Hạ
Long, tỉnh Quảng Ninh.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu

thành công của đề tài.
Với phƣơng pháp thực nghiệm, đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ có
tính khách quan và khoa học, giúp mọi ngƣời thấy vững tin hơn khi áp dụng
đề tài vào thực tiễn giảng dạy.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần:
Ngoài phần mở đầu và kết thúc, phần nội dung của luận văn đƣợc triển
khai thành 3 chƣơng:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Chương 1: Một số tiền đề lí luận của việc dạy học TPNL theo đặc
trƣng loại thể.
Chương 2: Thực trạng dạy học TPNL theo đặc trƣng loại thể trong các
trƣờng THPT ở Quảng Ninh.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học TPNL theo
đặc trƣng loại thể và thực nghiệm sƣ phạm.


Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: “Luận là thể văn nghị luận điển hình của
văn chƣơng cổ nhằm trình bày tƣ tƣởng và học thuyết chính trị, triết học, văn
nghệ, lịch sử, đạo đức Đặc điểm của luận là thuyết minh lí lẽ, đạo đức, phân
tích đúng sai, biện bác ý kiến ngƣời khác. Ngôn ngữ của luận phải chặt chẽ,
khúc triết, có căn cứ lí lẽ, có ví dụ thực tế để chứng minh. Chức năng của luận
là vũ trang cho ngƣời đọc một quan điểm, tƣ tƣởng, lập trƣờng có cơ sở lí
luận trong đời sống sinh hoạt và học thuật. Chẳng hạn Thiên luận (Bàn về
trời) của Tuân Tử, Luận hành (Cán cân lập luận) của Vƣơng Sung, Phong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
kiến luận (Bàn về phong kiến) của Liễu Tông Nguyên, Thần diệt luận (Bàn
về sự chết của thần) của Phạm Chẩn, Quá tần luận (Bàn về việc trách cứ của
nhà Tần) của Gia Nghị đều là những bài luận nổi tiếng của Trung Quốc. Ở
nƣớc ta có thể kể đến: Thiên hạ phân hợp đại thế luận của Nguyễn Trƣờng
Tộ, Luận về chánh học cùng tà thuyết của Ngô Đức Kế
Trong văn học cận, hiện đại, do ý thức xã hội chính trị phát triển, báo
chí, ấn loát trở thành phƣơng tiện phổ thông, luận chuyển hoá thành xã luận,
bình luận chính trị, phê bình văn học, tiểu luận nghiên cứu
Trong nhà trƣờng, luận vốn là một kiểu bài làm văn, ngày nay gọi là
văn nghị luận.” [19, 164]
Trong cuốn “Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ”, GS Nguyễn Văn
Hạnh đã định nghĩa sâu sắc và mở rộng hơn về TPNL: “Trong văn học có một
loạt tác phẩm mang những đặc điểm khác biệt với thơ, truyện, kí, hợp thành
một loại riêng gọi là luận. Luận là bàn luận, nghị luận về một vấn đề nào đó,
có thể là chính trị, xã hội, đạo đức, học thuật. Ngƣời viết tác phẩm luận nêu rõ
vấn đề cần xem xét, trình bày hiểu biết, suy nghĩ, quan điểm, thái độ, cách
giải quyết của mình đối với vấn đề đó thông qua phân tích, giải thích, chứng
minh, khẳng định hoặc phê phán bằng lí lẽ, bằng sự kiện, bằng tình cảm. Giá
trị của tác phẩm phụ thuộc vào ý nghĩa của vấn đề đƣợc nêu ra, vào quan

phải chỉ có văn bản nghị luận mới có lí lẽ. Trong tác phẩm văn chƣơng hình
tƣợng cũng có lí lẽ. Lí lẽ trong tác phẩm văn chƣơng hình tƣợng thƣờng
đƣợc phát biểu kín đáo, thâm trầm thông qua kết cấu nghệ thuật độc đáo;
ngôn ngữ hàm ngôn đa nghĩa; hình ảnh, hình tƣợng nghệ thuật phong phú,
đa dạng; giọng điệu đa thanh. Còn trong văn bản nghị luận, lí lẽ là biểu hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
thứ nhất, đƣợc phát biểu trực tiếp và rõ ràng nhất ngay cả trong những
TPNL giàu tính hình tƣợng.
1.1.2. Đặc trƣng của TPNL
Nhƣ chúng tôi đã trình bày, văn nghị luận là loại văn trong đó ngƣời
viết (ngƣời nói) trình bày những ý kiến của mình bằng cách dùng lí luận bao
gồm cả lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ một vấn đề thuộc về chân lí nhằm làm
cho ngƣời đọc (ngƣời nghe) hiểu, tin, đồng tình với những ý kiến của mình
mà hành động theo ý kiến mà mình đề xuất. Văn bản nghị luận là sản phẩm
của tƣ duy lôgic, của lí trí tỉnh táo. Vì vậy, văn nghị luận mang những đặc
trƣng riêng khác với các thể loại khác.
Bảo Quyến đã nêu rõ đặc trƣng của văn nghị luận:
“Khác với văn miêu tả, kể chuyện nhằm tái hiện con ngƣời và cuộc
sống bằng ngôn ngữ, chủ yếu khêu gợi, tác động vào cảm xúc, tƣởng tƣợng
của ngƣời đọc (ngƣời nghe), văn nghị luận thiên về trình bày các ý kiến, các lí
lẽ để giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận một vấn đề nào đó. Nó
nhằm tác động vào trí tuệ, vào lí trí của ngƣời đọc. Do đó nó phải tuân thủ
những qui tắc chặt chẽ trong quá trình thực hiện.
Ngôn ngữ của văn nghị luận là ngôn ngữ mang phong cách ngôn ngữ nghị
luận. Nó chú trọng đặc biệt đến sự chính xác, chặt chẽ vì mục đích của diễn đạt
trong văn nghị luận là nhằm phản ánh rõ ràng, chính xác quá trình tƣ duy để đạt
đến việc nhận thức chân lí. Tuy nhiên ngôn ngữ của văn nghị luận cũng cần có
sự hấp dẫn, lôi cuốn bằng các từ ngữ hình tƣợng, có sự biểu cảm; bằng cách diễn

Làm rõ cái lí là mục đích làm cho ngƣời đọc tự nhiên đƣợc gợi mở,
đƣợc giáo dục và thông suốt. Bởi vậy, tính thuyết phục đã trở thành đặc trƣng
thứ ba của văn nghị luận. Đặc trƣng này chỉ rõ: Bất cứ bài văn nghị luận nào
cũng đều giành thắng lợi bằng cái lí, tình và lí song song thu hút và gợi mở,
khiến ngƣời ta tiếp nhận sự thuyết phục của cái lí, có đƣợc ánh sáng chân lí.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23
Chính vì vây, ta nói: Văn nghị luận lấy cái đích là thuyết phục ngƣời đọc,
ngƣời nghe.”
Tác giả Hoàng Hữu Bội khái quát đặc trƣng của TPNL ở ba điểm sau:
1. Văn nghị luận là “thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải quyết vấn đề” (Từ
điển tiếng Việt). Ở đây, ngƣời viết trình bày những hiểu biết, suy nghĩ, quan
điểm, thái độ, cách giải quyết của mình về vấn đề nào đó thuộc các lĩnh vực:
chính trị, xã hội, đạo đức, học thuật, văn học nghệ thuật
2. Khác với văn học nghệ thuật, văn nghị luận trình bày tƣ tƣởng và
thuyết phục ngƣời đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ; đôi khi cũng tái hiện đời
sống nhƣng đó chỉ là những hình ảnh minh hoạ, làm cơ sở cho lập luận.
3. Một TPNL có giá trị hay không là phụ thuộc vào tầm tƣ tƣởng, tầm
trí tuệ của ngƣời viết, phụ thuộc vào sự mạch lạc của suy nghĩ, sự chặt chẽ
của lập luận và sự diễn đạt hấp dẫn có chứa đầy tình cảm, nhiệt huyết, chân
thành của ngƣời viết.
Qua nhận định của các nhà nghiên cứu về đặc trƣng của văn nghị luận,
chúng ta có thể khẳng định một cách ngắn gọn: Văn nghị luận là một thể loại
nhằm phát biểu tƣ tƣởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của ngƣời viết một
cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống nhƣng lại đƣợc
trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hào hùng, với những lập luận
chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục. Việc nắm vững những đặc trƣng này
của văn nghị luận sẽ là tiền đề cần thiết để chúng tôi vận dụng trong qúa trình
thực hiện luận văn.

đọc, ngƣời nghe”. [49, 19]
Việc xác định đƣợc hệ thống, các cấp độ của luận điểm, đánh giá đƣợc
điểm mới mẻ, độc đáo của luận điểm trong văn bản nghị luận là một yêu cầu
cần thiết chứng tỏ khả năng hiểu sâu, khả năng thâu tóm vấn đề và kĩ năng tƣ
duy lôgic, mạch lạc của ngƣời đọc. Trong thực tế giảng dạy, việc khái quát,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

25
xác định, đánh giá đƣợc các luận điểm của TPNL không chỉ khó đối với HS
mà còn với cả GV.
* Luận cứ
“ Là các cứ liệu để thuyết minh cho luận điểm. Có hai loại luận cứ: lí lẽ
(các nguyên lí, chân lí, ý kiến đã đƣợc công nhận) và thực tế (đời sống hoặc
văn học dùng làm dẫn chứng). Nói rõ hơn, luận cứ là những lí lẽ và dẫn chứng
hình thành nên luận điểm hoặc thuyết minh, soi sáng luận điểm. Và trong
từng luận cứ, lí lẽ và dẫn chứng cùng soi sáng cho nhau: lí lẽ làm cho dẫn
chứng có khả năng thuyết minh luận điểm, dẫn chứng làm cho lí lẽ có nội
dung, có sức nặng thuyết phục.” [45, 12-13]
* Lập luận
Lập luận là một khái niệm có hàm nghĩa rộng bao gồm từ cách kết cấu
văn bản đến phƣơng pháp lập luận. “Lập luận là cách nêu luận điểm và vận
dụng lí lẽ, dẫn chứng sao cho luận điểm đƣợc nổi bật và có sức thuyết phục.
Luận điểm đƣợc xem nhƣ kết luận của lập luận. Nói cách khác, lập luận là
cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ, hợp lí thì bài
văn mới có sức thuyết phục.” [34, 14]
Lập luận bao gồm các cách suy lí (qui nạp, diễn dịch), phân tích, chứng
minh, phản bác, bình luận, so sánh, tổng hợp, sao cho luận điểm đƣa ra là hợp
lí, không thể bác bỏ. Lập luận thể hiện trong cách viết đoạn văn và trong cách
tổ chức bài văn. Mở bài cũng có lập luận, thân bài và kết bài đều có lập luận.
Có lập luận mới đƣa ra đƣợc luận điểm nhƣ kết luận của nó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status