Dạy tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn 12 - Pdf 26

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Cà Mau, ngày 26 tháng 02 năm 2013
BÁO CÁO
NỘI DUNG, HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến: Dạy tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn 12
- Họ và tên người thực hiện: ĐỖ THANH HỒNG
- Thời gian đã triển khai thực hiện: Từ ngày 15/ 9/ 2010 đến 31/ 12/ 2012.
I. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Môn Ngữ văn là một trong những môn không thể thiếu được trong nhà
trường phổ thông hiện nay. Là môn giúp học sinh có được những hiểu biết cơ bản
về văn học dân tộc Việt Nam và thế giới. Cũng là dịp để chúng ta gặp gỡ những số
phận, những cuộc đời nhân vật, những tâm tư khát vọng con người qua nhiều thời
đại. Hơn thế nữa:
“Văn học là nhân học”
(M. Gorki)
Như chúng ta đã biết, môn Ngữ văn có nhiều thể loại khác nhau. Trong đó,
tác phẩm tự sự chiếm số lượng lớn trong chương trình văn học ở trường phổ thông.
Đặc biệt là chương trình Ngữ văn 12. Việc tìm hiểu, khám phá tác phẩm tự sự một
cách đúng đắn, có hiệu quả cao vẫn đang là một thử thách lớn đối với giáo viên và
học sinh. Có nhiều cách để tìm hiểu tác phẩm tự sự. Nhưng để giảng dạy có hiệu
quả, cũng như đáp ứng được tinh thần đổi mới chương trình giáo dục, đổi mới sách
giáo khoa như hiện nay, đòi hỏi người dạy văn phải nắm được đặc trưng của bộ
môn và phương pháp dạy tác phẩm văn học tự sự.
Thực trạng hiện nay ở trường trung học phổ thông, một số giáo viên còn
lúng túng trong phương pháp dạy một tác phẩm văn học tự sự. Bên cạnh đó, một
bộ phận không nhỏ giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn còn hụt hẫng kiến thức về
Trang 1
lí luận văn học nói chung và phương pháp tiếp cận, đánh giá, phân tích tác phẩm tự
sự nói riêng. Dẫn đến học sinh tiếp thu kiến thức từ bài giảng của giáo viên chưa
đầy đủ các khía cạnh nên khi làm bài phân tích tác phẩm tự sự học sinh chưa khai

- Cốt truyện
- Nhân vật
- Ngôn ngữ.
1.3. Nhân vật và đặc điểm của nhân vật trong tác phẩm tự sự:
- Nhân vật: Thường là con người, có thể là sự vật, loài vật…
- Đặc điểm nhân vật trong tác phẩm tự sự: Thường được thể hiện qua
các khía cạnh: lai lịch, ngoại hình, nội tâm, hành động, ngôn ngữ.
2. Tiếp cận một tác phẩm tự sự cần khai thác ở các góc độ sau:
2.1. Cốt truyện:
Cốt truyện là cách sắp xếp các chi tiết, tình huống một cách hợp lí tùy theo
ý đồ của nhà văn, có thể sắp xếp theo trình tự thời gian, không gian, theo diễn biến
tâm lí nhân vật, theo kiểu đầu cuôi tương ứng.
2.2. Nhân vật và hoạt động của nhân vật:
Trong thế giới nhân vật, có thể là người, có thể không phải là người mà là
vật, sự vật hiện tượng,… Trong tác phẩm tự sự khi phân tích chúng ta cũng phải
chú ý đến hệ thống nhân vật: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhóm nhân vật,
nhân vật chính diện và nhân vật phản diện.
2.3. Hình tượng văn học:
Ở mỗi bộ môn nghệ thuật khi phản ánh hiện thực khách quan đều có chất
liệu riêng, hội họa thì dùng màu sắc, đường nét; điêu khắc thì sử dụng hình khối,
chất liệu bằng gỗ, sắt, thép… Văn học phản ánh hiện thực bằng hình tượng nghệ
thuật, mà hình tượng nghệ thuật lại lấy chất liệu là ngôn từ nghệ thuật.
2.4. Chủ đề:
Là vấn đề xuyên suốt, quán xuyến toàn bộ tác phẩm. Các tác phẩm văn
chương thường có nhiều chủ đề. Mỗi chủ đề được rút ra tùy thuộc vào cấu trúc
phân tích và việc lựa chọn “điểm nút thẩm mĩ” được giải bình. Cần lựa chọn một
trong các chủ đề phù hợp nhất với hình tượng văn chương.
Trang 3
Tuy nhiên, cách tiếp nhận văn chương khuyến khích học sinh phát hiện nhiều
chủ đề gọi là hệ thống chủ đề. Như vậy khi phân tích, giáo viên cần nắm cho được

Nhà văn Kim Lân: “cái đói” là nỗi lo lắng của con người ở tất cả mọi dân tộc và
mọi thời đại. Cho nên đó là một đề tài cũng thuộc về bản chất của đời sống. Các
nhà văn viết về cái đói ở khía cạnh tối tăm và bất lực của con người trước nó. Con
người phạm tội và làm đủ mọi chuyện dại dột khác chỉ vì đói. Khi tôi viết, ý tưởng
thường trực trong tôi là những người đói dù thế nào đi nữa vẫn luôn luôn khao khát
cuộc sống tốt hơn, vẫn tin tưởng một cách mơ hồ vào cuộc sống tương lai. Cái mơ
hồ ấy là do cuộc sống thực tại luôn hành hạ họ.
Trang 6
. Truyện ngắn Vợ nhặt được viết từ một tình huống có thật trong cuộc
sống?
Nhà văn Kim Lân: Ban đầu tôi viết một truyện dài có tên là Xóm ngụ cư. Tôi viết
tới chương thứ V thì dừng lại. Sau khi hòa bình lập lại tôi và Nguyên Hồng làm tờ
báo Văn. Trong bản thảo Xóm ngụ cư có một đoạn luôn ám ảnh tôi là đoạn viết về
những người đói, về một buổi sáng ở vùng quê người ta phải ra chợ nhặt xác người
đi chôn. Tôi viết lại chương đó thành truyện ngắn Vợ nhặt mà không đọc lại bản
thảo cũ. Chuyện nhặt vợ hoàn toàn không có thật mà do tôi sáng tạo ra.

3. Thực nghiệm:
3.1 Trong giờ dạy tác phẩm tự sự:
Ví dụ: Tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân
Vốn là con đẻ của đồng quê, những sáng tác của Kim Lân tập trung vào đề tài
nông thôn, phản ánh vẻ đẹp tâm hồn, sinh hoạt lành mạnh của người dân quê cực
nhọc, khổ nghèo. Như cách nói của Nguyên Hồng: Kim Lân là nhà văn một lòng
đi về với “đất” và “người”, với “thuần hậu nguyên thủy” của đời sống nông thôn.
Kim Lân là nhà văn của những cảnh đời lao khổ. Văn ông thấm đẫm tình yêu
thương dành cho những người dưới đáy xã hội và luôn hi vọng một sự đổi đời cho
họ. Thông qua những sự kiện, con người nhỏ bé trong cuộc sống thường nhật, Kim
Lân đề cập đến những vấn đề sâu sắc về nhân sinh.
Lối viết của ông bình dị, thiên về sự quan sát tinh tế. Hành văn tuân thủ nghiêm
nhặt bút pháp hiện thực, có nghĩa là luôn tôn trọng tính khách quan của hiện thực.

Trên trời, đàn quạ săn xác người cứ lượn lờ như những đám mây đen.
Hoàn cảnh đói nghèo lại cộng thêm nạn đói đang hoành hành. Ngần ấy đã đủ
cho thấy nỗi cùng quẫn của xóm ngụ cư nghèo ấy bi đát đến mức nào. Trên bức
phù điêu của sự bi đát đó, Kim Lân đã khắc tạc nên những con người với hành
động phi phàm: dám hi sinh vì người khác. Ra thế, trong tăm tối vẫn loé sáng tình
người, trong cùng quẫn vẫn nuôi hi vọng về ngày mai. Con người ta tồn tại là nhờ
lòng lạc quan không hề nguội lạnh ấy. Thế nhưng, việc Tràng lấy vợ, đúng hơn là
việc Tràng cưu mang một người phụ nữ trong hoàn cảnh ấy quả là một sự kiện quá
sức tưởng tượng của người dân xóm ngu cư nghèo đó.
Trang 8
Từ hạnh phúc của người khác, cảm thấy như là hạnh phúc của chính mình hoặc
hi vọng cuộc sống của chính mình cũng sẽ hạnh phúc như thế,…giá trị nhân đạo đã
được đặt trong thế chiếu ứng. Hạnh phúc của một người cũng là hạnh phúc của
bao người. Cái xóm ngụ cư ấy sao mà ấm áp tình người! Chỉ có độ lượng, cảm
thông và thấu hiểu thì con người ta mới có được sức mạnh để vượt qua bao gian
khó của cuộc đời.
Lạc quan vốn là một phẩm chất cao quý của người Việt. Với Kim Lân, ông
nâng lạc quan đó thành cứu cánh, thành cơ sở chủ chốt của tính nhân văn. Tương
lai của đôi vợ chồng “nhặt nhau” này là một tương lai tràn đầy ánh sáng. Cuộc
sống từ tăm tối hé mở một ngày mai tươi sáng qua các thế hệ con cháu. Phải nói
tấm lòng ưu ái của Kim Lân đã dành trọn cho đôi vợ chồng cơ cực này. Cuộc sống
hiện tại của họ là nỗi cùng quẫn trên trần gian những con cháu họ quyết không thể
nào như vậy. Giá trị nhân đạo đã được gửi trọn vẹn không chỉ trong niềm tin về sự
đổi đời mà chính trong hành động để có được sự đổi đời đó.
Đọc Vợ nhặt, tôi cứ “vẩn vơ” về vẻ đẹp của người phụ nữ, về thiên tính nữ. Phụ
nữ là những người được tạo hoá sinh ra để yêu thương và để được thương yêu.
Hiếm bà mẹ giàu lòng bao dung, nhân hậu như bà cụ Tứ. Cũng không nhiều người
phụ nữ ý tứ, biết điều như người vợ nhặt – chị ta là người đáng thương, đáng trọng
chứ không hề đáng ghét, đáng khinh.
Dù chỉ xuất hiện trên vài trang truyện ngắn, nhân vật bà cụ Tứ để lại trong

sống mình, lại lấy vợ. Nhưng chính nghịch cảnh này càng làm nổi rõ ánh sáng tâm
hồn ở người mẹ. Đấy là nghệ thuật tạo sự đối lập giữa con người với hoàn cảnh.
Đây là bút pháp đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực. Thông qua sự đối lập này
người viết khắc họa rõ nét hơn suy nghĩ và hành động của nhân vật, để từ đó đề
cập, phê phán những mặt xấu của thời đại.
Bà cụ Tứ xuất hiện lúc anh Tràng đưa vợ về. Đúng hơn là khi Tràng đưa vợ về
một lúc lâu thì bà cụ Tứ mới về. Cách kể này tạo sự hồi hộp cho người đọc. Ta
không biết liệu bà cụ Tứ có nhận người vợ nhặt ấy không. Vẻ bồn chồn của Tràng
và sự căng thẳng của người đàn bà càng cho thấy vai trò quyết định của bà cụ Tứ
đối với hạnh phúc của họ.
Trang 10
Khi gặp người đàn bà xa lạ, nghe người ấy chào bằng u bà cụ Tứ hiểu ra biết
bao cơ sự. Không chỉ cảm thông cho các con mà bà còn tự trách bản thân “chao
ôi, người ta dựng vợ gã chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những
mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì …. Trong kẽ mắt kèm nhèm
của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt…. Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống
qua được cơn đói khát này không”. Ý thức trách nhiệm của người làm cha làm mẹ
ở bà cụ Tứ lớn biết chừng nào. Bằng việc để cho nhân vật tự trách mình, Kim Lân
đã khai thác được nét văn hóa hồn hậu đầy nhân văn của người mẹ Việt Nam bao
đời nay. Người mẹ đó đã trở thành một biểu tượng của văn hóa.
Trong mối quan hệ giữa ba nhân vật, tài năng độc đáo của Kim Lân là ở chỗ
ông xây dựng họ vừa là ân nhân vừa là người gây ra gánh nặng cho nhau. Tràng
lấy vợ là cưu mang cuộc sống của một người phụ nữ cơ hàn. Người vợ nhặt lấy
Tràng cũng là sự cưu mang cuộc sống tinh thần của Tràng, bởi nếu không có cái
nạn đói chết người ấy, chắc gì Tràng đã có thể lấy nổi vợ. Bà cụ Tứ, người được cả
Tràng và người đàn bà lo sợ ấy đồng ý trước việc lấy vợ của Tràng và thầm mang
ơn người đàn bà lạ lẫm tự nguyện làm dâu nhà mình. Mỗi nhân vật đều được đặt
trong sự ý thức mình là gánh nặng cho người kia, mình không xứng đáng với
người kia. Giá trị nhân đạo và ý thức nhân phẩm đạo đức được thể hiện rõ ở chỗ
này. Họ là những người dưới đáy xã hội nhưng vẫn luôn biết quý trọng và tôn

các con liệu có khác nhau? Hay cuộc đời vẫn cứ mãi mãi là kiếp cơ hàn như thế?
Chắc chắn sẽ không có sự lặp lại ấy. Con người ta cần phải cố gắng vươn lên.
Những gian truân chỉ là tạm thời. Dòng kí ức đưa bà trở về với thực tại: “Bà lão
nhìn người đàn bà, lòng đầy xót thương”. Lời nói của bà chan chứa tình yêu
thương: “Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo,
cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hoà thuận
là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này u thương
quá”. Bà không khóc nhưng nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.
Tấm lòng người mẹ thật vô biên, đặc biệt khi người mẹ đó ở vào cảnh ngộ
chẳng thể nào giúp đỡ được cho con. Điều quan trọng đối với bà cụ Tứ lúc này là
phải tạo dựng được bầu không khí gia đình vui vẻ. Bà cụ đã làm được điều đó.
Trang 12
Đêm tân hôn của đôi vợ chồng nghèo diễn ra trong những tiếng khóc hờn ngoài
xóm từ phía những nhà có người chết đói. Khi Tràng thức dậy, xung quanh đã thay
đổi mới mẻ, khác lạ. Dưới bàn tay tảo tần của bà cụ Tứ, nhà cửa, sân vườn đều
được quét sạch sẽ gọn gàng. Cả đến hai cái ang nước vẫn để khô ở dưới gốc ổi
cũng đã được đổ đầy nước. Đóng rác mùn tung hoành ngay lối đi đã hót sạch… Rõ
ràng là một cuộc “tẩy rửa” sạch sẽ những gì là dấu hiệu của sự ngưng đọng chết
chóc. Bà cụ Tứ muốn làm điều gì đó có ích cho con trai. Hành động dọn dẹp của
bà cụ đã mang ý nghĩa biểu trưng, hướng đến một sự khao khát đổi đời. Bà không
muốn các con lặp lại bánh xe lịch sử của số phận mình – một số phận vô cùng
cay đắng.
Sáng hôm ấy, lòng người mẹ nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường. Bữa cơm
ngày đói thật thảm hại. Nhưng có điều lạ là bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia
cảnh với con dâu. Bà nói toàn chuyện vui, chuyện tốt đẹp mai sau. Bà bàn tính với
các con khi nào có tiền mua lấy đôi gà, rồi “ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có
ngay đàn gà cho mà xem…”
Mừng tủi, cay đắng, âu lo chứa chan hi vọng, người mẹ của Tràng đã sống trọn
cuộc đời vì con. Người mẹ đó đã trở thành biểu tượng cao đẹp cho tình mẫu tử
trên đời.

khét lẹt ở nhà những người chết. Bà nghĩ đến cuộc đời bà và ngầm so sánh với
cuộc sống của cặp vợ chồng này. Chúng chỉ có một điểm chung là không một
phút nào tươi sáng. Bà nhắc “Con ngồi xuống đây”. Lời nhắc này có ý nghĩa
như lời chào thuận lòng của người mẹ. Bà thực sự chấp nhận thị là con dâu bà
hay do hoàn cảnh mà bà phải chấp nhận?
Nhà văn Kim Lân: Cuộc gặp đầu tiên đó không có cái ý nghĩa “mẹ chồng con
dâu”. Cái tình cảm chiếm nhiều nhất trong lòng bà cụ Tứ là tình cảm “thương xót”
một người đàn bà cùng đường. Hơn nữa, có một nỗi “hàm ơn mơ hồ” luôn bám lấy
bà. Người đàn bà đã giúp bà cái việc bà không thể làm cho con trai là lấy vợ cho
anh ta.
Phóng viên: Thưa nhà văn, đoạn nào trong truyện là đoạn gây xúc động nhất
cho riêng nhà văn?
Trang 14
Nhà văn Kim Lân: Phần gây xúc động nhất cho tôi khi đọc lại truyện là đoạn bà
cụ Tứ trở về. Ở đây tình của người mẹ thật lớn. Bà nhanh chóng hiểu rõ hoàn cảnh
và chấp nhận ngay. Bà không chỉ thương con trai mà còn đầy lòng thương xót với
người đàn bà cùng quẫn kia dù hoàn cảnh bà cũng không khá hơn lắm. Đó chính là
bản chất nhân đạo trong tâm hồn con người Việt. Đó cũng là chủ để của câu
chuyện…
Trong quá trình phân tích tác phẩm tự sự, giáo viên lồng ghép liên hệ thực tế có
liên quan đến các vấn đề mà tác giả đã đề cập trong tác phẩm.
Thông qua các chi tiết, nhân vật trong tác phẩm, tôi dẫn dắt học sinh tìm hiểu
thêm những vấn đế về cuộc sống như: tình thương; lòng vị tha; niềm lạc quan tin
tưởng vào cuộc sống; tấm lòng của người mẹ;…
Ví dụ: Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa ( Nguyễn Minh Châu)
1. Kiến thức bổ trợ:
Tác giả:
Nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930-1989) quê ở xã Quỳnh Hải, huyện
Huỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Năm 1945 Ông tốt nghiệp Thành chung tại Trường Kĩ
Nghệ Huế. Năm 1950, Ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Hà

tác thứ hai của Nguyễn Minh Châu.
2. Tiếp cận tác phẩm: Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
2.1. Hướng dẫn học sinh đọc- hiểu tác phẩm:
Đối với tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, giáo viên hướng dẫn học sinh chọn
quy trình đọc- hiểu hình tượng nghệ thuật tác phẩm: người đọc phải nhập thân vào
hình tượng để tưởng tượng, liên tưởng, hiểu những vấn đề ẩn chứa bên trong mà
nhà văn muốn gửi gắm.
Có thể xếp Chiếc thuyền ngoài xa vào loại truyện mang tính chất luận đề,
tức là loại truyện mà ở đó tác giả không giấu diếm ý định của mình muốn “luận”
đến một vấn đề nào đó của đời sống, của nghệ thuật. Cần nói thêm là loại truyện
luận đề thường xuất hiện vào những thời điểm mà các nhà văn có nhu cầu sáng tác-
thời điểm có những bước ngoặt trong sự phát triển của căn học nói chung.
Trang 16
Chiếc thuyền ngoài xa lấy cảm hứng từ những vấn đề thế sự có thể gọi là cảm
hứng thế sự. Đặc điểm của tác phẩm mang cảm hứng thế sự là hướng về sinh hoạt
hàng ngày của con người, khẳng định giá trị thẩm mĩ của cái đời thường, đi sâu
khám phá hành trình của con người giữ một thực tại ngổn ngang nhằm tìm kiếm
hạnh phúc và khẳng định nhân cách. Loại tác phẩm này biểu thị sự đổi mới trong
quan niệm của nhà văn về tính chân thực của văn học, nhằm đưa văn học thoát
khỏi tình trạng “minh họa” hay “tô vẽ”, đề cập những chuyện xa lạ với mối bận
tâm chính của bao con người đang phải lao vào cuộc mưu sinh nhọc nhằn, trong
một hoàn cảnh đất nước đang đối diện vô vàn khó khăn của thời hậu chiến.
Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Minh Châu muốn theo
đuổi một lối viết giàu tính đối thoại dân chủ với người đọc. Ta không bắt gặp ở đây
những kết luận dễ dàng, đơn giản. Cuộc sống bày ra nhiều nghịch lí, luôn bắt ta
phải suy nghĩ lại vô số vấn đề trên cơ sở biết khắc phục, loại bỏ những định kiến,
thành kiến, những thói quen nhìn nhận, đánh giá rất khô cứng đối với con người và
sự vật, sự việc. Trước những tác phẩm như truyện ngắn này, tính tích cực của độc
giả luôn được thử thách.
Tên truyện ngắn là Chiếc thuyền ngoài xa cái tên ấy dễ gợi liên tưởng đến

đâu phải là đơn giản là cho họ có đủ cơm no áo mặc, cho họ biết mọi tri thức nhân
đạo trên đời. Cần phải suy xét cẩn thận trong từng tình huống cụ thể thì giải pháp
cho những cảnh đời ngang trái kia mới trở nên thiết thực, hữu hiệu.
2.2. Hướng dẫn học sinh phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa:
Nguyễn Minh Châu quan tâm tiếp cận đời sống góc độ thế sự. Tác phẩm thể
hiện tinh thần nhân bản sâu sắc của nhà văn: quan tâm tới đời sống và số phận của
những con người sống quanh mình; nhạy cảm trước nỗi khổ đau, bất hạnh của
những con người nghệ sĩ đối với con người và cuộc sống.
- Nêu xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm.
- Tóm tắt tác phẩm
- Phân tích:
+ Ý nghĩa nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa (nghĩa tường minh và hàm ẩn)
+ Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh ( phát hiện thứ nhất đầy thơ
mộng, phát hiện thứ hai đầy nghịch lí)
Trang 18
Qua hai phát hiện của người nghệ sĩ, nhà văn chỉ ra: cuộc đời chứa đựng
nhiều nghịch lí, mâu thuẫn; không thể đánh giá con người, cuộc sống ở dáng vẻ
bên ngoài mà phải đi sâu tìm hiểu, phát hiện bản chất bên trong.
+ Câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện:
Đó là câu chuyện về cuộc đời nhiều kì ẩn và éo le của một người đàn bà
hàng chài nghèo khổ, lam lũ. Câu chuyện đã giúp nghệ sĩ Phùng hiểu:
. Người đàn bà hàng chài:
Bề ngoài, đó là một người đàn bà nhẫn nhục, cam chịu, bị chồng hành hạ,
đánh đập “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, nhưng vẫn gắn bó với
người chồng vũ phu ấy.
Nguồn gốc mọi sự chịu đựng, hi sinh là tình thương đối với những đứa con
“…đám đàn bà hàng chài (…) để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà
nào cũng trên dưới chục đứa… phải sống cho con chứ không thể sống cho
mình…”
Trong triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc

đơn giản trong cách nhìn nhận suy nghĩ.
Qua câu chuyện về cuộc đời của người đàn bà hàng chài và cách ứng xử của
các nhân vật, nhà văn muốn gửi đến người đọc thông điệp: đừng nhìn cuộc đời,
con người một cách đơn giản, phiến diện mà phải đánh giá sự việc, hiện tượng
trong các mối quan hệ đa diện nhiều chiều.
+ Những đặc sắc về nghệ thuật của truyện
Tình huống truyện độc đáo, có ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống.
Tác giả lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn thích hợp, làm cho câu chuyện trở nên
gần gũi, chân thực và có sức thuyết phục.
Ngôn ngữ nhân vật sinh động, phù hợp với tính cách. Lời văn giản dị sâu
sắc, đa nghĩa.
Từ việc hướng dẫn học sinh phân tích nội dung và nghệ thuật giáo viên còn
hướng dẫn học sinh rút ra ý nghĩa văn bản: Chiếc thuyền ngoài xa thể hiện
những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về nghệ thuật và cuộc đời: nghệ
thuật chân chính phải luôn luôn gắn với cuộc đời, vì cuộc đời, người nghệ sĩ
Trang 20
cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách toàn diện, sâu sắc. Tác
phẩm cũng rung lên hồi chuông báo động về tình trạng bạo lực gia đình và hậu
quả khôn lường của nó.
Chiếc thuyền ngoài xa là những suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời sống
của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Sự thật nghiệt ngã trong tác phẩm khơi gợi người
cầm bút nên nhìn kĩ vào những gì ẩn sau vẻ đẹp bên ngoài để nhớ tới trách nhiệm
của người nghệ sĩ trước cuộc sống, trước con người.
Trong quá trình phân tích tác phẩm tự sự giáo viên lồng ghép liên hệ thực tế có
liên quan đến các vấn đề mà tác giả đã đề cập trong tác phẩm.
Như tác phẩm trên tôi dẫn dắt học sinh tìm hiểu thêm những vấn đề cuộc sống:
Cách nhìn nhận, đánh giá con người và cuộc sống.
Nạn bạo hành gia đình, tìm nguyên nhân, hướng giải quyết và cách ứng xử
hợp lí. Để từ đó, học sinh rút ra cho mình bài học cho bản thân về vốn sống.
3.2. Trong giờ làm văn:

- Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân đã thể hiện thành công hình tượng
những con người Việt Nam lương thiện, trong tai họa đói kém khủng khiếp do thực
dân, phát xít gây ra, đã cưu mang, đùm bọc nhau và hi vọng, trông chờ vào sức
mạnh giải phóng dân tộc của cuộc cách mạng do giai cấp công – nông lãnh đạo.
- Trong truyện ngắn này, nhà văn đã xây dựng được một tình huống truyện
rất độc đáo. Đó là tình huống “nhặt” vợ.
♦ Thân bài:
- Tóm tắt tình huống “nhăt” vợ
Tràng là một chàng trai sống ở xóm ngụ cư nghèo, mà lại xấu xí, dở hơi,
tưởng không thể nào lấy được vợ. Thế mà Tràng lại “nhặt” được vợ nhờ
mấy câu bông đùa “tầm phơ tầm phào”, nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ
tỉnh.
Tình huống truyện diễn ra ở một khoảnh khắc đặc biệt: nạn đói khủng khiếp
năm 1945 đang đe dọa cuộc sống từng con người trong mỗi gia đình, mỗi
hàng xóm.
Tình huống Tràng “nhặt” được vợ đã làm cho mọi người vô cùng ngạc
nhiên: trẻ con xóm ngụ cư ngạc nhiên; người lớn cũng ngạc nhiên; mẹ của
Trang 22
Tràng cũng ngạc nhiên; bản thân anh Tràng cũng không ngờ được, cứ “ngỡ
ngàng như không phải”.
Thật đúng là một tình huống éo le, giàu kịch tính, rất độc đáo.
- Nhận xét về thái độ của nhà văn
+ Đối với con người
. Kim Lân rất thông cảm với nỗi đau của người lao động. Ông thực sự xót
xa, ái ngại trước cảnh con người bị đói khổ, rẻ rúng và bị cái chết vây giăng,
đồng thời hết lòng khẳng định, đề cao con người; thể hiện niềm tin mãnh liệt
vào người lao động ( nhân vật Tràng, bà cụ Tứ, cô vợ nhặt).
. Như vậy, đối với con người, nhà văn Kim Lân có một cái nhìn nhân đạo
sâu sắc. Ở đây, cái nhìn nhân đạo có sự kết hợp hài hòa giữa tư tưởng nhân
đạo cổ truyền và tư tưởng nhân đạo hiện đại (tư tưởng nhân đạo cộng sản

chuyển ý rất quan trọng, đảm bảo cho ý văn liền mạch, thống nhất và nhuần
nhuyễn.
Câu chuyển ý có chức năng khép lại ý đã viết xong và mở ra một ý mới, nên
cần diễn đạt khéo léo.
Chẳng hạn, sau khi phân tích thân phận và cảnh ngộ khốn khổ của Mị, để
chuyển sang phân tích diễn biến tâm trạng và sức sống tiềm tàng của Mị khi mùa
xuân đến, có thể chuyển ý như sau:
“Một nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” (Sê
khốp). Tấm lòng nhân đạo khiến Tô Hoài không thể nhẫn tâm dìm mãi cuộc đời Mị
trong cái tăm tối, khôn cùng của một kiếp trâu, kiếp ngựa, kiếp rùa, mà còn thôi
thúc nhà văn thiết tha hướng về phía ánh sáng, phía sự sống tiềm tàng nơi tâm
hồn Mị”.
Bên cạnh đó, cần phải chú ý đến dẫn chứng hợp lí, bình dẫn chứng tinh tế.
Bài văn điểm cao không chỉ cần đủ ý, với các đoạn văn được xây dựng chặt chẽ,
diễn đạt khéo léo, mà còn có các dẫn chứng được trích dẫn chính xác, tiêu biểu, có
chọn lọc, giàu sức thuyết phục, góp phần làm sáng tỏ và nổi bật hơn hệ thống ý của
bài văn
Không thể làm văn không có dẫn chứng, tuy vậy, không nên lạm dụng dẫn
chứng, mà phải sử dụng một cách hợp lí, có chừng mực.
Trang 24
Bài văn không phải là sự liệt kê các dẫn chứng, hay liệt kê các chi tiết, hình
ảnh từ tác phẩm. Cần tránh việc biến bài văn thành nơi kể lại tác phẩm một cách dở
hơn nhiều so với những gì tác giả từng viết trong tác phẩm.
Trước khi nêu dẫn chứng, cần có lời dẫn, nghĩa là một lời giới thiệu khéo léo
về dẫn chứng. Lời dẫn này nên kết hợp với lời bình, với cảm nhận của các em về
dẫn chứng, để làm nổi bật ý của bài văn.
Có thể giới thiệu dẫn chứng như sau: Mị nhận ra âm thanh tiếng sáo gọi bạn
yêu khi tiếng sáo còn ở rất xa: “Đầu núi đã lấp ló có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi
chơi”, nhưng cũng có thể giới thiệu hay hơn, khéo léo và tinh tế hơn khi viết: Khi
tiếng sáo gọi bạn yêu “lấp ló” ở “đầu núi” cũng là khi khát vọng tình yêu, hạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status