BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
THÁI THỊ HOÀNG HÀ
DẠY HỌC TÁC GIẢ, TÁC PHẨM THƠ MỚI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
THÁI THỊ HOÀNG HÀ
DẠY HỌC TÁC GIẢ, TÁC PHẨM THƠ MỚI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ THỊ HỒ QUANG
NGHỆ AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS. Lê Thị Hồ
Quang, người đã định hướng cho tôi trong việc lựa chọn đề tài, đồng thời đã
tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin được chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ
văn, Đại học Vinh, đặc biệt là thầy cô trong ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô
giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu, lại thường có dung lượng nhỏ bé, ngắn
gọn, dễ cảm, dễ thuộc. Thơ đòi hỏi sự tiếp nhận dựa trên những tri thức cụ
thể, những kinh nghiệm và cả những khám phá mang tính trực giác. Dạy học
văn chương, đặc biệt với thể loại thơ, là một hoạt động đòi hỏi sự nỗ lực
không ngừng của giáo viên và học sinh.
1.2. Thơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói
chung thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Ngay khi vừa ra đời, nó đã nhanh
chóng khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc; bên cạnh đó
Thơ mới cũng là hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới
phê bình, nghiên cứu và độc giả qua từng thời kỳ lịch sử xã hội. Trải qua một
lịch sử đầy thăng trầm, Thơ mới đã được thống nhất nhìn nhận là cuộc cách
mạng thi ca lớn trong lịch sử văn học Việt Nam. Thơ mới là sản phẩm của
văn hóa dân tộc, kết quả của quá trình nền văn hóa Việt Nam truyền thống
phải duy tân để vượt lên mình, khẳng định mình trong cuộc tiếp xúc Đông -
Tây, cuộc Âu hóa có tính đặc thù của thế giới hiện đại.
1.3. Trong phần Đọc văn của chương trình Ngữ văn THPT hiện hành,
Thơ mới có một vị trí, ý nghĩa khá quan trọng. Song việc dạy học tác giả, tác
phẩm Thơ mới cũng đang đặt ra không ít thách thức với cả giáo viên lẫn học
sinh. Do vậy, việc dạy đọc - hiểu loại văn bản này rất xứng đáng có được một
sự đầu tư, tìm hiểu kĩ lưỡng hơn. Những tìm tòi, nghiên cứu về phương pháp
dạy đọc - hiểu tác giả, tác phẩm Thơ mới nếu thành công, sẽ góp phần thiết
6
thực vào việc đổi mới phương pháp và nâng cao hiệu quả dạy học văn trong
nhà trường phổ thông ở nước ta hiện nay.
1.4. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay chưa có công
trình nào tập trung đi sâu tìm hiểu về vấn đề dạy học tác giả, tác phẩm Thơ
mới. Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn Dạy học tác giả, tác phẩm Thơ mới
trong chương trình Ngữ văn THPT làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề phương pháp dạy học văn nói chung và dạy học tác giả, tác
nghiên cứu này cho rằng: ‘‘Vì thơ ngắn hơn thể loại khác (tự sự, kịch) nên các tác
giả có thể thể hiện cảm xúc về con người, cuộc sống, thiên nhiên… tập trung hơn
thông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua dòng thơ,
qua vần điệu, tiết tấu…[42].
Tác giả cũng đưa ra quy trình hướng dẫn, phân tích thơ trong nhà trường
theo các bước sau:
- Bước 1: Phân tích tiêu đề bài thơ và giọng điệu chủ đạo của tác phẩm
- Bước 2: Đọc và quan sát bước đầu để nắm chắc bài thơ
- Bước 3: Xác định chủ đề bài thơ
- Bước 4: xác định hình tượng thơ và âm điệu chủ đạo
- Bước 5: Nghiên cứu các cấp độ hình tượng của bài thơ [42]
Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Dư Khánh trong cuốn Thi pháp học và vấn
đề giảng dạy văn học trong nhà trường đã chỉ ra một số yếu tố thi pháp thơ và gợi
dẫn phân tích văn bản thơ từ góc nhìn thi pháp học: ‘‘ Nếu nói văn học phản ánh
hiện thực thì hiện thực trong thơ trữ tình chủ yếu là hiện thực tâm hồn của chính
nhà thơ, người tạo ra văn bản. Đây là sự khác biệt căn bản giữa phương thức tự sự
và trữ tình: tự sự chủ yếu là kể chuyện ngoài đời (khách thể), trữ tình chủ yếu để
bày tỏ, bộc lộ cảm xúc của chủ thể. (…). Đối với thơ trữ tình, một thể loại mang
8
tính chủ quan đậm nét, giàu nhạc tính, và có sự tham dự đáng kể của yếu tố vô
thức, thì vấn đề cảm thụ, vấn đề đọc, nhất là đọc thành tiếng phải được quan tâm
trước nhất trong dạy và học văn. Quá trình ấy cũng phù hợp với quy luật nhận
thức có tính biện chứng trong nhận thức nói chung [45,99].
Về các công trình, bài viết bàn về vấn đề phương pháp dạy học Thơ
mới trong nhà trường THPT. Trước tiên, phải kể đến bài viết Văn chương
lãng mạn và việc dạy học một số tác phẩm văn chương lãng mạn trong SKG
môn Văn cải cách ở trường THPT của tác giả Hoàng Thị Nghĩa (đăng trong
Kỉ yếu hội thảo khoa học về SGK Tiếng Việt và văn học THPT cải cách, khoa
Ngữ văn, Đại học Cần Thơ, năm 1992). Ở bài viết này tác giả đã đề xuất một
số định hướng cách dạy các tác phẩm Thơ mới trong chương trình như Vội
sinh, phát huy tính độc lập sáng tạo trong tiếp nhận nhưng không để học sinh
thoát ly hình tượng [20].
Bài viết Thơ mới lãng mạn và nhà trường phổ thông Việt Nam (2012)
của tác giả Đỗ Ngọc Thống cũng định hướng đọc hiểu văn bản Thơ mới theo
thể loại: “Thơ mới có một phong cách riêng, có tư tưởng và những đặc trưng
thi pháp nổi bật, vì thế nó cần có một cách đọc, cách giải mã phù hợp. Dạy
đọc hiểu văn bản Thơ mới trong nhà trường chính là giúp HS biết cách giả
mã, biết cách đọc đúng Thơ mới thông qua bài thơ cụ thể, tiêu biểu, để từ đó
người đọc biết tự đọc, tự khám phá các bài Thơ mới khác” [65].
Ngoài ra, có thể kể đến các sách tham khảo, hướng dẫn dạy học văn
như: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11 của Nguyễn Văn Đường; Để học tốt;
Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường, Kỹ năng đọc hiểu văn bản
Ngữ văn của Nguyễn Kim Phong v.v. Tuy nhiên, tất cả những công trình này
đều mới chỉ dừng lại ở việc khám phá, phân tích một tác phẩm cụ thể chứ
chưa đưa ra được phương pháp chung nhất cho việc dạy đọc hiểu tác giả , tác
phẩm Thơ mới trong nhà trường phổ thông hiện nay.
10
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo
bổ ích cho rất nhiều giáo viên, học sinh. Dù chưa trực tiếp bàn sâu vào vấn đề
dạy đọc hiểu tác giả, tác phẩm Thơ mới trong chương trình THPT nhưng
những công trình này đã đem lại những gợi ý vô cùng quý giá giúp chúng tôi
thực hiện đề tài của mình.
3. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là vấn đề dạy đọc hiểu tác giả,
tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn THPT.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu việc dạy học tác giả, tác phẩm Thơ mới trong chương trình
Ngữ văn THPT hiện nay.
- Đề xuất những định hướng có tính khả thi về việc dạy học tác giả, tác
những bất cập và nâng cao chất lượng dạy học Thơ mới trong nhà trường
phổ thông hiện nay.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc dạy đọc hiểu tác giả, tác phẩm
Thơ mới trong chương trình Ngữ văn THPT
Chương 2: Tổ chức dạy học tác giả, tác phẩm Thơ mới trong chương
trình Ngữ văn THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
12
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Giới thuyết về Thơ mới
Thơ mới trước hết là tên gọi của một phong trào thơ Việt Nam hiện
đại xuất hiện vào đầu thế kỉ XX. Thơ mới là một thuật ngữ mang tính quy
ước. Phan Khôi là người đầu tiên tạm dùng từ thơ mới để chỉ loại thơ mà
ông muốn đề xướng với mục đích “đem ý thật có trong tâm khảm tả ra
bằng những câu có vần mà không phải bó buộc với những niêm luật gì
hết”. Loại thơ mới này dĩ nhiên là đối lập và khác biệt với thơ cũ - một khái
niệm cũng lần đầu tiên xuất hiện theo logic của tư duy phân loại, dùng để
chỉ lối thơ được viết theo nhãn quan cổ điển và hình thức luật Đường
khuôn sáo trước đó.
Với tư cách một phong trào thơ hiện đại, Thơ mới hình thành từ 1932 và
phát triển mạnh mẽ đến Cách mạng tháng Tám 1945. Chỉ trong hơn mười
năm tồn tại, nó đã hình thành nên một đội ngũ sáng tác đông đảo, với nhiều
phong cách sáng tạo độc đáo và một số lượng tác phẩm đồ sộ, trong đó có
nhiều tác phẩm đạt đến đỉnh cao chất lượng, xứng đáng là mẫu mực thi ca của
một thời. Hoài Thanh, trong Thi nhân Việt Nam, đã khẳng định: “Tôi quyết
rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú
Với sự thức tỉnh ý thức cá nhân, Thơ mới đã góp phần làm phong phú
tâm hồn con người, mở ra những thế giới mênh mông của ý thức và vô thức
và muôn vàn cung bậc đầy hương sắc của cảm xúc trữ tình, đem lại sinh khí
mới cho thơ ca Việt Nam. Xuất hiện vào đầu thế kỉ XX, trong hoàn cảnh xã
hội Việt Nam phong kiến thuộc địa, Thơ mới chịu tác động rõ nét của nền thơ
hiện đại phương Tây, đặc biệt là thơ ca hiện đại Pháp. Vào thời điểm này, ở
14
phương Tây, trào lưu thơ lãng mạn đã đi qua, thơ tượng trưng cũng đã bắt đầu
lắng xuống và thơ siêu thực đang là hướng tìm kiếm, thử nghiệm mới. Nhiều
nhà phê bình, nghiên cứu (Hoài Thanh, Phan Cự Đệ, Đỗ Đức Hiểu, Lê Đình
Kỵ, Hà Minh Đức ) đã chỉ ra những dấu ấn ảnh hưởng đậm nét của thơ Pháp
vào Thơ mới khá cụ thể, nhất là dấu ấn của V. Hugo, Lamartine, Ch.
Baudelaire, P. Verlaine trong sáng tác của Phạm Huy Thông, Xuân Diệu,
Huy Cận, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương v.v. (Tất nhiên, hình thành và phát
triển trong cái nôi văn hoá chung của khu vực, phong trào thơ này cũng thu
nhận những ảnh hưởng to lớn của nền thơ vĩ đại Trung Hoa với những đỉnh
cao như thơ Đường, thơ Tống Điều này đã dẫn đến sự đa dạng trong các
khuynh hướng tìm kiếm, sáng tạo nghệ thuật của Thơ mới).
Tóm lại, nói tới Thơ mới trước hết là nói tới một phong trào thơ Việt
Nam hiện đại xuất hiện đầu thế kỉ XX. Đồng thời, nói tới thơ mới, còn có
nghĩa là nói tới một loại hình thơ hiện đại đã được xác lập từ trong phong trào
Thơ mới 1932 - 1945 và đến nay vẫn còn để lại những tác động, ảnh hưởng rõ
nét tới sự phát triển của thơ trữ tình Việt Nam.
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học tác giả, tác phẩm
Thơ mới trong chương trình Ngữ văn THPT
1.2.1. Cơ sở lý luận
1.2.1.1. Những thành tựu trong nghiên cứu Thơ mới
Với hơn 80 tuổi đời, Thơ mới có một lịch sử tiếp nhận khá phong phú.
Hầu như tất cả các khía cạnh của Thơ mới đều được các nhà nghiên cứu đề
cập với số lượng công trình hết sức đồ sộ. Tuy nhiên, Thơ mới sau khi ra đời
tố xấu về tư tưởng” [55,122].
Bị chi phối bởi nhãn quan chính trị, các ý kiến đó cơ bản nhìn nội dung
Thơ mới, cái tôi trữ tình cá nhân trong Thơ mới ở góc độ phê phán. Khi đã bị
16
kết án về tư tưởng như thế thì Thơ mới khó lòng trở thành đối tượng khoa học
được quan tâm nghiên cứu.
Sau 1975, đặc biệt sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986),
dưới cái nhìn đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, Thơ mới cũng được quan tâm,
đánh giá một cách khách quan và khoa học hơn.
Cùng với nhiều hội thảo cấp quốc gia, các công trình, chuyên luận, các
luận án, luận văn khoa học… nghiên cứu về Thơ mới với những nhận thức,
đánh giá mới, đầy đặn và sâu sắc, liên tục xuất hiện. Xin dẫn ra đây một số
công trình tiêu biểu: Con mắt thơ (Đỗ Lai Thúy); Thơ Xuân Diệu trước Cách
mạng tháng Tám 1945 (Lí Hoài Thu); Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời
kì trước 1945 (Lê Quang Hưng); Nguyễn Bính, thi sĩ của đồng quê (Hà Minh
Đức); Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932-1945
(Lê Tiến Dũng); Giọng điệu trong thơ trữ tình (Nguyễn Đăng Điệp); Thơ
mới, bình minh thơ Việt Nam hiện đại (Nguyễn Quốc Tuý); Thế giới nghệ
thuật thơ Hàn Mặc Tử (Chu Văn Sơn); Ba đỉnh cao Thơ mới: Xuân Diệu -
Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử (Chu Văn Sơn); Thi pháp thơ Huy Cận (Trần
Khánh Thành); Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên (Hồ Thế Hà); Nguyễn
Bính, hành trình sáng tạo thi ca (Đoàn Đức Phương), Kết cấu thơ trữ tình
(nhìn từ góc độ loại hình) (Phan Huy Dũng); Thơ tình Xuân Diệu (Lưu Khánh
Thơ); v.v.
Đây là những chuyên luận, luận án nghiên cứu sâu về nhiều vấn đề nội
dung, hình thức và phong cách nghệ thuật Thơ mới. Còn có thể kể đến rất
nhiều các công trình - tuyển tập, tập hợp nghiên cứu về các tác giả Thơ mới,
chẳng hạn: Xuân Diệu, về tác gia và tác phẩm (Nhóm tác giả), Nguyễn Bính,
về tác gia và tác phẩm (nhóm tác giả), Tế Hanh, về tác gia và tác phẩm
(nhóm tác giả), Hàn Mặc Tử, về tác gia và tác phẩm (nhóm tác giả), Hàn
18
một tiền đề quan trọng tạo nên những đổi mới tích cực trong việc dạy học
Thơ mới trong nhà trường phổ thông hiện nay.
1.2.1.2. Những đổi mới trong quan niệm dạy văn
Có thể thấy trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy
học đang là vấn đề cấp thiết và được xã hội quan tâm ; trước hết là đổi mới
chương trình và sách giáo khoa, trong đó có đổi mới chương trình và sách
giáo khoa Ngữ văn. Đổi mới dạy học Ngữ văn bắt đầu khi mà hệ thống tri
thức và phương pháp dạy học không còn phù hợp với thực tiễn dạy học và
nhu cầu của xã hội. Trong lịch sử dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, nếu
chỉ tính từ cải cách giáo dục (1980) đến nay đã có ba lần thay đổi. Lần thứ
nhất thay đổi chương trình và sách giáo khoa cấp THPT năm 1989, lần thứ
hai thay đổi chương trình và sách giáo khoa cấp THPT theo hướng phân ban
thí điểm năm 1993 và lần thứ ba là sau năm 2000 (chương trình hiện hành).
Trong ba lần thay đổi đó thì lầ thứ ba tạo nên sự thay đổi rất lớn về quan niệm
dạy học Ngữ văn. Từ quan niệm dạy văn nặng về tuyền truyền giáo dục chính
trị, tư tưởng chuyển sang quan niệm giờ văn phải thực sự là giờ văn, dạy văn
trước hết là dạy tác phẩm văn chương. Người khởi xướng quan niệm này là
Nguyễn Đăng Mạnh. Tuy nhiên phải đến lần biên soạn chương trình Ngữ văn
THPT năm 2002 thì quan niệm dạy văn trước hết là dạy đọc văn, hình thành
và rèn luyện phương pháp, cách thức đọc hiểu văn bản mới thực sự trở nên rõ
nét và nhất quán. Người chủ trương và góp phần quan trọng trong việc khẳng
định quan niệm này là Trần Đình Sử.
Hiện nay quan niệm dạy văn là dạy đọc văn, giờ văn là giờ hướng dẫn
học sinh đọc hiểu văn bản là xu hướng dạy văn đúng đắn và đã cập nhật xu
thế dạy học hiện đại của các nước có nền giáo dục phát triển. Bởi một trong
ba lĩnh vực mà PISA (chương trình đánh giá học sinh quốc tế) do OECD tổ
chức là đọc hiểu. OECD tuyên bố: ‘‘Đọc hiểu không chỉ còn là một yêu cầu
của suốt thời kỳ tuổi thơ trong nhà trường phổ thông, mà nó còn là nhân tố
19
nhà trường chỉ có thể định danh là môn đọc văn” [53, 4].
Sự thay đổi về mặt bản chất của hoạt động tìm hiểu văn bản của môn
Ngữ văn qua tên gọi đọc hiểu được thể hiện qua nội hàm của khái niệm
“đọc” và “hiểu” trong quan niệm về dạy học hiện nay. “Đọc” không đơn
thuần chỉ là sự chuyển kí hiệu chữ viết thành kí hiệu âm thanh và hoạt động
đọc không phải được thực hiện một cách sơ sài, chiếu lệ và cứng nhắc như
trước. “Đọc” hiện nay được quan niệm là một hoạt động tinh thần của độc
giả gắn liền với những yếu tố rất riêng của từng cá nhân như nhu cầu, tâm
thế đọc, kinh nghiệm đọc, trực giác, tưởng tượng, xúc cảm, nếm trải trong
khi đọc. “Đọc còn là hành động mang tính chất tâm lí, một hoạt động tinh
thần của độc giả bộc lộ rõ ràng năng lực văn hoá của từng người” [38,29] và
“đọc không phải chỉ là tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình thức
tỉnh cảm xúc, quá trình tri giác và nhuần thấm tín hiệu để giải mã ngôn ngữ,
mã nghệ thuật, mã văn hoá đồng thời với việc huy động vốn sống, kinh
nghiệm cá nhân người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và tư tưởng
vốn có của tác phẩm” [29, 143]. “Đọc” còn là một hoạt động nhận thức bao
gồm trong đó sự tìm kiếm, bồi bổ, làm mới tri thức nhằm phát triển trí tuệ.
Mỗi người đọc tuỳ vào trình độ, kĩ năng, kinh nghiệm đọc sẽ thu nhận được
những lượng thông tin khác nhau để phát triển trí tuệ: “Việc đọc phải có tác
dụng biến đổi và hoàn thiện tư duy người đọc, ý thức người đọc, thế giới nội
tâm của họ và do đó phải ảnh hưởng đến hành vi, trình độ văn hoá của người
đọc trong lao động, sinh hoạt và hoạt động xã hội” [29, 143]. Bên cạnh
những quan niệm mới về “đọc” ở trên thì lí thuyết tiếp nhận văn học hiện đại
đã mang lại những nhận thức mới về “đọc” trong dạy học hiện nay. Lí thuyết
tiếp nhận văn học đã chỉ ra vai trò của người đọc đó là người đồng sáng tạo,
lấp khoảng trống trong văn bản, hoàn thành quá trính sáng tạo, sáng tác, giao
tế. Nói đến vai trò này của độc giả cùng nghĩa với việc nói đến tính sáng tạo
21
trong tiếp nhận văn học. Lí thuyết tiếp nhận văn học hiện đại đã phân biệt
văn bản và tác phẩm. Sự phân biệt này là cần thiết vì lâu nay người ta ngộ
vừa hiểu đúng thực chất của việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực
chủ thể của học sinh” [41,34].
1.2.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.2.1. Những đổi mới trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ
văn THPT hiện nay
Một thời gian khá dài, trong chương trình môn văn phổ thông trung
học, Thơ mới nói riêng và văn học lãng mạn nói chung chỉ được trình bày sơ
lược ở phần khái quát văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Từ sau đại hội
Đảng lần thứ VI, cũng như nhiều sự đổi mới trong đời sống xã hội ở nhiều
lĩnh vực, chương trình môn Văn trung học phổ thông cũng đã có cách điều
chỉnh cho phù hợp với cách nhìn mới, với tình hình thực tế của văn học nước
nhà. Với nhu cầu bức thiết đổi mới phương pháp dạy học như hiện nay thì
việc đổi mới chương trình và SGK là hết sức cần thiết và cần có sự đổi mới
theo nguyên tắc tích hợp.
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế
trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây
dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Quan điểm tích hợp
được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và
quá trình dạy học. Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm
nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm
chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại. Ở đây,
nguyên tắc tích hợp cần được hiểu toàn diện và phải quán triệt trong toàn bộ
môn học, đọc văn đến làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy
học ; quán triệt mọi yếu tố của hoạt động học tập, tích hợp trong chương trình,
tích hợp trong SGK, tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và
23
tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh, tích hợp trong các sách đọc
thêm, tham khảo.
Ngay từ tổ chức nội dung chương trình cũng như SGK Ngữ văn, các
nhà biên soạn đã bám sát quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo, đồng
giai đoạn.
Ở hai bộ sách giáo khoa lớp 11 chương trình hiện hành Trung học phổ
thông (do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành theo quyết định số 47/2002 QĐ-
Bộ giáo dục và Đào tạo ngày 19/11/2002) được xuất bản tháng 7/2004. Giữa
hai bộ sách mới cũng có sự khác biệt nhỏ về một số tác giả và tác phẩm thơ
mới đưa vào chương trình như sau:
Bộ sách thứ nhất do Phan Trọng Luận làm Tổng chủ biên gồm các bài:
1. Vội vàng của Xuân Diệu
2. Tràng giang của Huy Cận
3. Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc tử
4. Tương tư của Nguyễn Bính (đọc thêm)
5. Chiều xuân của Anh Thơ (đọc thêm)
Bộ sách thứ hai do Trần Đình Sử làm Tổng chủ biên gồm các bài:
1. Vội vàng của Xuân Diệu
2. Xuân Diệu
3. Đọc thêm: - Đây mùa thu tới
- Thơ duyên
4. Đây thôn Vĩ dạ của Hàn Mặc Tử
5. Tràng giang của Huy Cận
6. Tương tư của Nguyễn Bính
7. Đọc thêm: - Tống biệt hành của Thâm Tâm
- Chiều xuân của Anh Thơ
25