1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ HƯƠNG MAI
DẠY HỌC PHẦN ĐỌC THÊM
CÁC TÁC PHẨM TỰ SỰ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12
THEO HƯỚNG TỰ HỌC HƯỚNG DẪN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 601410
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Khánh Thành
HÀ NỘI – 2012
5
Môc lôc
Lời cảm ơn
i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt (xếp theo A B C )
ii
Danh mục các bảng
vi
MỞ ĐẦU trang
1
1. Lý do chọn đề tài.
1
2. Lịch sử vấn đề.
4
1.2.3. Tự học có hướng dẫn.
1.2.4. Vai trò của tự học.
1.2.5. Năng lực tự học.
1.2.5.1. Khái niệm năng lực tự học.
1.2.5.2. Một số năng lực tự học cần bồi dưỡng và phát triển cho học
9
9
10
11
11
12
16
16
18
18
18
18
19
20
21
21
22
6
sinh.
1.2.6. Những kĩ năng tự học cơ bản.
1.3. Cơ sở lí luận về loại tác phẩm tự sự.
1.3.1. Định nghĩa Tự sự
1.3.2. Đặc trưng của thể loại tự sự.
1.4. Khảo sát phần Đọc thêm môn Ngữ văn.
26
26
26
28
28
29
29
29
29
33
33
37
37
37
42
42
43
45
46
46
46
46
47
47
1. Kết luận
2. Khuyến nghị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1 : Phiếu tham khảo ý kiến giáo viên
Phụ lục 2 : Phiếu thu thập ý kiến học sinh
49
50
50
50
50
52
61
61
65
66
66
66
66
66
66
67
67
74
84
tạo trong quá trình học tập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.3. Phần Đọc thêm và Tự học có hướng dẫn của môn Ngữ văn chiếm một vị
trí quan trọng trong việc giúp học sinh hoàn chỉnh thêm kiến thức về mặt loại
thể và làm phong phú hơn kiến thức văn học. Đồng thời, nó còn giúp học sinh
rèn năng lực đọc hiểu văn bản và kỹ năng tự học, tự nghiên cứu.
1.4. Hướng dẫn học sinh tự học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của học sinh vừa đảm bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa
phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS. Tác động dạy của GV là bên ngoài,
chỉ có tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS.
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Dạy học phần đọc
5
thêm các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự
học có hướng dẫn”.
2. Lịch sử vấn đề.
2.1. Tự học trong nhà trường nói chung.
Vấn đề tự học của HS – SV đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan
tâm ở nhiều góc độ khác nhau. Tại Hà Nội năm 1998, một cuộc hội thảo khoa
học với tiêu đề “Nghiên cứu tự học – tự đào tạo” đã được tổ chức với sự tham
gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều GS đầu ngành. Trong cuộc hội thảo này,
nội dung các bài viết, các bài phát biểu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tự
học và yêu cầu các cấp ngành phải chăm lo xây dựng phong trào tự học toàn
dân. Tạp chí nghiên cứu Giáo dục số 2 năm 1998 đã đặc biệt quan tâm đăng
tải một số bài viết tiêu biểu trong hội thảo: “Tự học – chìa khoá vàng của giáo
dục” của GS. Phan Trọng Luận, “Vì năng lực tự học sáng tạo của HS” của
Nguyễn Nghĩa Dân…Bên cạnh đó, một số cuốn sách cũng được xuất hiện như
“Tôi tự học” – Nguyễn Duy Cần, “Tự học là một nhu cầu của thời đại” –
Nguyễn Hiến Lê, “Luận bàn và kinh nghiệm tự học” – GS. Nguyễn Cảnh
Toàn Đặc biệt, trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học còn cho ra mắt bạn
- Đề xuất PPDH phần đọc thêm các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ
văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn .
- Hiện thực hóa PPDH phần đọc thêm các tác phẩm tự sự trong chương trình
Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn bằng hoạt động tổ chức dạy
học.
- Thiết kế giáo án thể nghiệm và kiểm chứng về mức độ đạt được của đề tài.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng.
Đối tượng mà đề tài hướng tới là PPDH phần đọc thêm các tác phẩm tự sự
trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn.
4.2. Phạm vi khảo sát.
7
-Trích đoạn tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn của nhà văn Ma Văn Kháng;
tác phẩm Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải (SGK Ngữ văn 12,
Ban cơ bản).
- Đối tượng khảo sát: GV và HS hai trường THPT Mạc Đĩnh Chi và Hải An,
thành phố Hải Phòng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp : điều tra, khảo sát, so sánh và thực
nghiệm sư phạm.
6. Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục, phụ
lục, danh mục viết tắt, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Đề xuất phương pháp dạy học phần đọc thêm các tác phẩm
tự sự.
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm.
CHƢƠNG 1
lượng kiến thức truyền đạt cho HS. Hai quan niệm cuối thiên về chất lượng.
Trọng điểm của việc dạy là thay đổi cách nhìn, cách dùng kiến thức. Việc dạy
của GV nhằm làm cho việc học được dễ dàng hơn.
1.1.3. Phương pháp dạy học tích cực.
1.1.3.1.Quan niệm về PPDH nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn,
được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ
động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa
trái với tiêu cực.
9
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động
nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của
người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người
dạy. Khơi dậy và phát huy tính tích cực của người học là một trong những
nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục hiện đại, nhằm đào tạo những con
người năng động góp phần phát triển xã hội.
1.1.3.2. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực.
a, Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
Trong PPDH tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng
thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập
do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều
mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo
viên sắp đặt. Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri
thức mà còn hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho từng
học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của
cộng đồng.
b, Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt
trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh.
1.2. Cơ sở lý luận về tự học.
1.2.1. Khái niệm tự học.
Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự
chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống, bằng hành động
của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định.
1.2.2. Các hình thức tự học.
1.2.2.1. Tự học hoàn toàn (Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc
lập không có sách và sự hướng dẫn của giáo viên)
11
Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học. Tới trình độ tự
học này người học không thầy, không sách mà chỉ cọ sát với thực tiễn vẫn có
thể tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình.
1.2.2.2. Tự học có sách nhưng không có giáo viên bên cạnh.
Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:
Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:
Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn:
1.2.2.3. Tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên.
Tự học của người học theo hình thức này liên quan trực tiếp với yêu cầu
của giáo viên, được giáo viên định hướng về nội dung, phương pháp tự học để
người học thực hiện. Như vậy ở hình thức tự học thứ ba này quá trình tự học
của HS có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của
nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học của giáo
viên và quá trình tự học của HS.
1.2.3. Tự học có hướng dẫn.
Tự học là một hình thức học. Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục
đích, nội dung và phương pháp phù hợp. Hình thức tự học có hướng dẫn vừa
phải đảm bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc
quả của hứng thú, tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu.
1.2.5. Năng lực tự học.
1.2.5.1. Khái niệm năng lực tự học.
Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng
kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao.
1.2.5.2. Một số năng lực tự học cần bồi dưỡng và phát triển cho học sinh.
* Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề.
Năng lực này đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so
sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống
trên cơ sở lí luận và hiểu biết sẵn có của mình; phát hiện ra những khó khăn,
mâu thuẫn xung đột, những điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung,
các bế tắc, nghịch lí cần khai thông, làm sáng tỏ…
13
* Năng lực giải quyết vấn đề.
Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác
định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía
cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị và kết luận.
* Năng lực xác định kết luận đúng.
Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết
luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề. Năng lực này bao gồm các khả
năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề
mới hoặc áp dụng
( nếu cần thiết).
* Năng lực vận dụng kiến thức.
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở ngay chính
trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là học sinh vận dụng kiến thức đã học để nhận
thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có nghiên
cứu, khám phá, thu nhận thêm những kiến thức mới.
* Năng lực đánh giá và tự đánh giá.
1.3.2. Đặc trưng của thể loại tự sự.
- Tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó thông qua
các sự kiện, hệ thống sự kiện.
- Tác phẩm tự sự có khả năng phản ánh hiện thực một cách rộng lớn, bao
quát.
- Tác phẩm tự sự luôn luôn có hình tượng người trần thuật. Người trần thuật
có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức: khi thì tác giả ẩn mình sau những nhân
vật tưởng tượng, khi thì nhân danh chính bản thân mình mà kể chuyện với
ngôi thứ nhất. Nhưng dù dưới hình thức nào, người trần thuật cũng làm nhiệm
vụ tường thuật, kể chuyện để phân tích, nghiên cứu, khêu gợi, bình luận, cắt
nghĩa những quan hệ phức tạp giữa nhân vật và nhân vật, giữa nhân vật và
hoàn cảnh
15
- Hình thức tự sự dựa vào các kiểu kết cấu cốt truyện khác nhau. Có kiểu
triển khai rõ rệt các biến động của sự kiện, có kiểu nhấn chìm dòng biến cố
vào những đoạn mô tả , thể hiện tâm lý, hoặc bàn luận.
- Tác phẩm tự sự có thể viết bằng văn xuôi hoặc văn vần. Dung lượng tác
phẩm không hạn chế, từ các truyện rất ngắn đến các thiên sử thi, tiểu thuyết
trường thiên.
- Tự sự chia ra Tự sự dân gian gồm các thể loại thần thoại, truyền thuyết, cổ
tích, ngụ ngôn, truyện cười và Tự sự cổ trung đại - hiện đại gồm các thể loại
truyền kì, tiểu thuyết, truyện vừa, kí.
1.4. Khảo sát phần Đọc thêm môn Ngữ văn.
1.4.1. Vị trí của phần Đọc thêm môn Ngữ văn ở nhà trường THPT.
Môn Ngữ văn THPT chia làm ba phân môn nhỏ:Văn học( gồm các tác
phẩm hoặc trích đoạn tác phẩm văn học); Làm văn( Các kĩ năng, thao tác làm
văn ) và Tiếng Việt. Ở mỗi phân môn đều có các bài Đọc thêm nhằm củng cố
kiến thức cho học sinh. Những văn bản đọc thêm do đó đều là những văn bản
được chọn lựa rất kỹ càng, nội dung, nghệ thuật đều có thể được coi là tiêu
thế kỉ XX là nền văn học của chế độ mới, vận động, phát triển dưới sự lãnh
đạo của Đảng.
Văn học Việt Nam sau 1975 vận động theo xu hướng dân chủ hóa, đổi
mới quan niệm về nhà văn, về văn học và quan niệm nghệ thuật về con người
, phát huy cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn với những
tìm tòi, thể nghiệm mới, thể hiện con người ở nhiều phương diện của đời
sống, kể cả đời sống tâm linh.
2- Chương trình Ngữ văn lớp 12 Ban cơ bản chỉ trích học 11 văn bản tự
sự trong đó dạy chính thức 7 văn bản : Người lái đò sông Đà ( trích)- Nguyễn
Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông- (trích)- Hoàng Phủ Ngọc Tường, Vợ
chồng A Phủ ( trích)- Tô Hoài, Vợ nhặt – Kim Lân, Rừng xà nu – (trích) -
Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình – (trích) –Nguyễn Thi,
Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu; và đọc thêm bốn văn bản:
17
Những ngày đầu của nước Việt Nam mới - (trích) - Võ Nguyên Giáp, Bắt sấu
rừng U Minh Hạ - Sơn Nam, Mùa lá rụng trong vườn ( trích)- Ma Văn
Kháng, Một người Hà Nội ( trích)- Nguyễn Khải.
Tỷ lệ các bài đọc thêm là 4/11 chiếm 36 %. Điều đó cho thấy số lượng
các bài đọc thêm chiếm tỷ lệ đáng kể trong chương trình giảng dạy ngữ văn
lớp 12, từ đó cho thấy ý đồ của nhóm biên soạn SGK và tầm quan trọng của
phần Đọc thêm.
1.5.3. Thực trạng dạy – học phần Đọc thêm môn Ngữ văn THPT.
1.5.3.1. Thực trạng dạy phần đọc thêm môn Ngữ văn THPT.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng dạy, có một bộ phận không nhỏ
giáo viên còn vướng mắc, lúng túng trong cách thức dạy học ngữ văn nói
chung và những bài đọc thêm nói riêng. Thực tế hiện nay đang tồn tại hai
khuynh hướng, hai cách dạy các bài đọc thêm như sau:
- Cách 1: Để học sinh tự hoạt động thông qua hình thức giáo viên nêu
một số câu hỏi trong sách giáo khoa- trò trả lời.
* Nhận xét : Thời gian dành cho văn bản đọc thêm không nhiều. Trong
khoảng thời gian đó, GV phải đảm bảo đủ các hoạt động lên lớp, phải khắc
sâu kiến thức trọng tâm bài học, đặc trưng thể loại. Vậy nên, GV dù cố gắng
đến thế nào cũng rất khó để lưu lại trong tâm trí HS những hiểu biết cơ bản về
các tác phẩm này. Vì thế, việc HS tự học là rất cần thiết.
1.5.3.4. Điều tra thực trạng tự học phần Đọc thêm của học sinh THPT lớp 12.
Chúng tôi đã tham khảo ý kiến của 550 học sinh lớp 12 THPT Mạc
Đĩnh Chi và trường THPT Hải An – Hải Phòng về một số vấn đề và thu được
kết quả sau :
- Đa số học sinh cho biết phần Đọc thêm không được kiểm tra nên bỏ qua
không cần học, không tự học, số lượng này chiếm hơn 60 %.
- Một số học sinh có đọc tác phẩm, tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật nhưng
rất sơ sài. Số này chiếm khoảng 18 %.
19
- Một số học sinh khá hứng thú với các tác phẩm Đọc thêm nhưng chỉ dừng
lại ở việc đọc văn bản trong sách giáo khoa, chưa biết cách tự học. Số này
chiếm tỉ lệ 17 %.
Điều tra cho thấy học sinh còn rất thụ động và chưa có cách tự học hiệu
quả.
1.5.3.5. Kết luận chung.
Chiếm một vị trí không nhỏ trong chương trình Ngữ văn 12, các văn
bản đọc thêm là một phần quan trọng để học sinh nắm bắt được những đặc
điểm và khuynh hướng chính của giai đoạn văn học từ sau 1945 đến nay.
Có thể thấy rằng, mỗi văn bản đọc thêm không chỉ làm giàu thêm kiến
thức Ngữ văn và đời sống tâm hồn cho học sinh, mà còn giúp học sinh rèn
những kỹ năng tự học quan trọng nếu được nhìn nhận và phát huy đúng.
Nhưng nếu chúng ta không coi trọng, yếu tố hướng dẫn của thầy và kỹ năng
tự học của trò không thực hiện được hoặc nếu có thì cũng mờ nhạt.
Những kết quả thăm dò trên đây là cơ sở, là định hướng cho chúng tôi
chiều “đọc- chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm
trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực
Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan với động cơ học tập.
Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và
tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh ra nếp
tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo và ngược lại.
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái, chủ
động, tự giác tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những
điều chưa biết dựa trên những cái đã biết. Sáng tạo vận dụng kiến thức đã học
vào thực tế cuộc sống …
2.1.1.2. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên cứu.
Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học, tự nghiên
cứu. Điều quan trọng là phải giúp người học biết cách khai thác, lựa chọn tìm
kiếm thông tin bằng cách hình thành thói quen tự học, tự nghiên cứu. Khi
người học có phương pháp, thói quen, ý chí tự học thì sẽ ham học, thích học,
21
đó là điều kiện tốt để khơi dậy nội lực, khả năng vốn có của mỗi cá nhân, kết
quả học tập sẽ nâng cao. Thói quen tự học được thể hiện ở mọi nơi, mọi lúc,
học trên lớp, học ở nhà, học trong thư viện và học ngoài thực tiễn cuộc sống,
thông qua các phương tiện: tài liệu, sách báo, truyền hình, phim ảnh, internet,
thực tiễn, thày cô giáo và những người xung quanh.
2.1.2. Dạy đọc- hiểu các văn bản đọc thêm theo đặc trưng loại thể.
Con đường hiệu quả nhất để đi khám phá, thâm nhập chiếm lĩnh các
văn bản là con đường đi từ đặc trưng thể loại. Vì thế, người GV trên cơ sở
những hiểu biết của mình về thể loại hướng dẫn HS khám phá tiếp nhận giá trị
tư tưởng của tác phẩm từ góc độ này. Có như vậy, dạy học phần đọc thêm
mới đảm bảo sự toàn diện khi chiếm lĩnh tác phẩm là chiếm lĩnh cả nội dung
và hình thức, không thiên về nội dung cũng không thiên về hình thức nghệ
thuật.
dựng một phương pháp tự học - một văn hóa đọc, làm cơ sở cho quá trình học
văn trong nhà trường và sau này vào đời cho học sinh.
Nhận rõ vai trò của yếu tố hướng dẫn, để thầy làm tốt nhiệm vụ của
mình trong vai trò này đối với học sinh, giúp các em "tự học" tốt hơn, có hiệu
quả hơn.
Thấy được các mối quan hệ biện chứng của hai yếu tố "tự học" và "hướng
dẫn". Nếu người giáo viên hướng dẫn tốt tất yếu học sinh sẽ tự học tốt, ngược
lại nếu hướng dẫn có hạn chế, kết quả tự học sẽ không cao.
2.2.2. Hướng dẫn tự học phần đọc thêm tác phẩm tự sự trong chương trình
12 THPT.
Luận văn này muốn đề cập đến vai trò hướng dẫn của giáo viên trong
việc tổ chức một giờ Đọc thêm nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh.
Giáo viên phải đưa ra những hướng dẫn, những yêu cầu cụ thể để học sinh
làm việc.
2.2.2.1. Hướng dẫn học sinh tự làm việc với sách giáo khoa( SGK).
* Quan niệm về SGK:
23
SGK là một công cụ không thể thiếu trong quá trình tự học của HS.
Việc sử dụng SGK có hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc nắm vững
kiến thức nói chung và phát huy tính tích cực tự giác của HS.
* Hướng dẫn HS sử dụng SGK trong phần Đọc thêm để chuẩn bị bài trước
khi đến lớp (soạn bài).
Để sử dụng SGK học tập đạt kết quả tốt, người GV cần đề ra những
nhiệm vụ học tập cụ thể cho HS đối với việc đọc hiểu văn bản đọc thêm.
- Hướng dẫn HS tự đọc văn bản và trả lời các câu hỏi.
+ Đọc văn bản.
+ Trả lời các câu hỏi trong SGK:
2.2.2.2. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản qua hệ thống câu hỏi.
Hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc thêm cần phải được định hướng theo