Dạy học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫ - Pdf 25


6
Môc lôc

Lời cảm ơn
i
Danh mục các chữ viết tắt
ii
Danh mục các bảng
iii
3.1. Mục đích
3
3.2. Nhiệm vụ
3
5. Phương pháp nghiên cứu
4
6. Cấu trúc luận văn
4
1.1.1. Học trên lớp
5
1.1.2. Thảo luận tập thể
6
1.1.3. Học tập ở nhà hay tự học
6
1.2.1. Hoạt động tự học
6
1.2.1.1. Khái niệm tự học
6
1.2.1.2. Vai trò của tự học
8
1.2.1.3. Các năng lực tự học cần bồi dưỡng và phát triển cho học sinh

3
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
5
1.1. Các hình thức tổ chức dạy học
5
1.2. Hoạt động tự học và hình thức dạy tự học có hướng dẫn
6
1.3. Thể loại thơ trữ tình và hoạt động đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình
trong chương trình Ngữ văn bậc THPT
20

7
1.3.1.2. Sự phân chia loại thể
21
1.3.2. Thể loại thơ trữ tình
24
1.3.2.1. Định nghĩa
24
1.3.2.2. Những đặc điểm cơ bản của thơ trữ tình
25
1.3.3. Hoạt động đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn
bậc THPT
26
1.3.3.1. Hoạt động đọc - hiểu văn bản văn học trong môn Ngữ văn bậc
THPT
26
1.3.3.2. Dạy đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình theo đặc trưng loại thể
28
3.1. Về nguyên tắc
54

31
2.1. Vị trí của phần đọc thêm trong chương trình Ngữ văn bậc THPT
31
2.2. Những thuận lợi, khó khăn khi dạy- học phần đọc thêm các tác
phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12
37
2.2.1. Khảo sát văn bản thơ trữ tình phần đọc thêm trong chương trình Ngữ
văn lớp 12
37
2.2.1.1. Tính trữ tình và chủ thể trữ tình
37
2 .2.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ thơ
40
2.2.2. Khảo sát tư liệu dạy - học
43
2.2.3. Khảo sát về đối tượng dạy và học
51
Chương 3: Đề xuất một số phương pháp dạy - học phần đọc thêm các
tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12
54

8
3.3.1.1. Hướng dẫn học sinh tự làm việc với SGK
73
3.3.1.2. Hướng dẫn học sinh thu thập, chọn lọc, sắp xếp tư liệu có liên quan
tới các văn bản đọc thêm
80
3.3.2. Hoạt động tạo tâm thế
82
3.3.3. Hoạt động đọc - hiểu trên lớp

109
Phụ lục 1
109
Phụ lục 2
113
Phụ lục 3
114
Phụ lục 4
115
Phụ lục 5
116
Phụ lục 6
117
Phụ lục 7
118

4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNTT

Mô hình dạy HS tự học
Bảng 2.1.

Số lượng các văn bản đọc thêm trong SGK Văn học
(chỉnh lí hợp nhất năm 2000) và SGK Ngữ văn
Bảng 2.3.
Bảng tổng hợp kết quả khảo sát GV
Bảng 2.4.
Tổng hợp kết quả khảo sát HS
Bảng 3.1.
Hệ thống kết quả hoạt động tri giác, hình tượng ngôn ngữ
Bảng 3.2.
Kết quả làm bài trắc nghiệm của HS sau giờ học
không áp dụng phương pháp dạy học tác phẩm trữ tình
phần đọc thêm theo hướng tự học có hướng dẫn
Bảng 3.3
Kết quả làm bài trắc nghiệm của HS sau khi học
giờ học áp dụng phương pháp dạy học tác phẩm trữ tình
phần đọc thêm theo hướng tự học có hướng dẫn.
Bảng 3.4.
Ý kiến của GV sau khi dự giờ thực nghiệm
Bảng 3.5.
Ý kiến của HS sau khi dự giờ thực nghiệm


góp phần tạo nên diện mạo nền văn học dân tộc. Với chương trình Ngữ văn lớp 12,
bên cạnh 5 tác phẩm thơ được đưa vào giảng dạy chính khóa còn có 5 tác phẩm
được trích đọc trong phần đọc thêm không chỉ góp phần làm giàu kiến thức văn học
cho học sinh mà còn còn có một vị trí quan trọng trong việc rèn kĩ năng, phương
pháp tự đọc - hiểu một văn bản văn học, hình thành nên một "văn hóa đọc" cho các

10
em. Tuy nhiên, dung lượng thời gian giảng dạy trên lớp dành cho các tác phẩm này
rất hạn chế chỉ là một phần đan xen thêm trong quá trình giảng dạy chính khóa tạo
ra nhiều khó khăn cho hoạt động dạy học. Làm thế nào để phát huy được khả năng
tự học, tự đọc- hiểu các văn bản thơ trữ tình trong phần đọc thêm theo đúng yêu cầu
đặc trưng loại thể là vấn đề rất nhiều GV trăn trở.
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài Phương pháp dạy học phần đọc thêm
các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học
có hướng dẫn.
2. Lịch sử vấn đề.
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học nói chung và dạy tác phẩm thơ trữ tình
nói riêng đã được nghiên cứu từ lâu, có thể kể tới những công trình như: Cuốn sách
Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông của V.Anhikonski khẳng định
"HS là độc giả tác phẩm văn học" và "quá trình đọc các tác phẩm văn học là một
quá trình sáng tạo". Tác giả cuốn giáo trình Phương pháp luận dạy văn học do Zla-
Rezzia chủ biên, đã đặt phương pháp tập đọc sáng tạo ở vị trí hàng đầu như là
phương pháp đặc biệt nhất đối với văn học nhằm phát triển cảm thụ nghệ thuật, hình
thành những thể nghiệm nghệ thuật, những khuynh hướng và năng khiếu nghệ thuật
cho học sinh bằng phương diện nghệ thuật. Cuốn Phương pháp dạy học văn của các
tác giả Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt đã
trang bị cho GV những kiến thức vững chắc có hệ thống về phương pháp luận bộ
môn. Cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể của các tác giả Trần
Thanh Đạm, Huỳnh Lí, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn và Đàm Gia Cẩn - Nxb Giáo
dục, 1971, đã giúp GV thuận tiện hơn khi tiếp cận tác phẩm văn học từ đặc trưng

3.1. Mục đích.
Từ việc tìm hiểu đặc trưng thể loại cùng các phương pháp dạy học tích cực,
trên cơ sở thực tế giảng dạy phần đọc thêm, luận văn đề xuất một số phương pháp
dạy học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12
theo hướng tự học có hướng dẫn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy các
bài đọc thêm nói riêng và rèn năng lực tự học, tự nghiên cứu trong bộ môn Ngữ văn
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
- Khảo sát về việc dạy - học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình trong chương
trình Ngữ văn lớp 12.

12
- Đề xuất những phương pháp dạy học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình
trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn.
- Hiện thực hóa các phương pháp dạy học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình
trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn bằng các giáo
án thể nghiệm.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tƣợng.
Đối tượng mà đề tài hướng tới là những phương pháp dạy học phần đọc thêm
các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có
hướng dẫn.
4.2. Phạm vi khảo sát.
- Văn bản thơ Bên kia sông Đuống (trích) của Hoàng Cầm, Đất nước của Nguyễn
Đình Thi, Dọn về làng của Nông Quốc Chấn, Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên,
Đò lèn của Nguyễn Duy, Bác ơi! của Tố Hữu - SGK Ngữ văn lớp 12.
- Đối tượng khảo sát:
+ GV và HS trường THPT Ngô Quyền - quận Lê Chân, Hải Phòng.
+ GV và HS trường THPT Thái Phiên - quận Ngô Quyền, Hải Phòng.

1778) với những luận điểm và những phát kiến mới về giáo dục đã xây dựng thêm
một số hình thức tổ chức dạy học mới như dạy học qua thí nghiệm, thực hành. Đến
cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, với sự phát triển của một số trường phái giáo dục
mới như "Nhà trường mới" ở Mĩ, phái "Nhi đồng học" ở Nga, các phái này chủ
trương trẻ em vốn có khả năng nhận thức tốt và năng lực trí tuệ ở dạng tiềm năng.
Nhiệm vụ dạy học là khơi dậy, tạo điều kiện để chúng có dịp bộc lộ và phát triển.
Chính vì vậy các hình thức tổ chức dạy học như ngoại khóa, tham quan rất phát
triển. Đến nay sự phát triển của các hình thức tổ chức dạy học ngày một đa dạng
phong phú, đặc biệt với công nghệ thông tin phát triển, dạy học càng ngày càng có
nhiều hình thức tổ chức phong phú, đa dạng, linh hoạt nhưng tựu chung lại là các
hình thức tổ chức dạy học cơ bản sau:
1.1.1. Học trên lớp.
Giờ học trên lớp là hình thức tổ chức dạy học tương đối thông dụng và phổ
biến hơn cả. Với hình thức này, GV tiến hành dạy cho một số lượng HS nhất định
có cùng trình độ, ở một địa điểm, một không gian và trong một khoảng thời gian

14
nhất định, thực hiện một đơn vị bài học nhất định nhằm thực hiện một số mục tiêu
dạy học cụ thể.
1.1.2. Thảo luận tập thể.
Thảo luận tập thể là một hình thức tổ chức dạy học trong đó GV tổ chức cho
HS thảo luận, trao đổi với nhau về một chủ đề có liên quan đến nội dung học tập
nào đó. Thông qua sự trao đổi, tranh luận tập thể, có sự cọ sát ý kiến của nhiều
người mà HS rút ra kết luận cần thiết.
Thông qua thảo luận tập thể, mỗi HS được đóng góp những ý kiến, kinh
nghiệm đã có, những suy nghĩ sáng tạo của mỗi thành viên vào việc học tập chung
của lớp.
Hình thức thảo luận tập thể có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả dạy học. Việc mọi thành viên trong tập thể lớp tham gia vào thảo luận cho phép
mỗi thành viên được nói lên suy nghĩ của mình. Đây chính là một yêu cầu của dạy

khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động
cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có
chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý
muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết
nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình" [26, tr.407].
- Theo tác giả Lê Khánh Bằng thì tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực
trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định.
- Theo tiến sĩ Võ Quang Phúc thì tự học là một bộ phận của học, nó cũng được hình
thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ
thống tương tác của hoạt động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc
về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản
ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất
định trong hoàn cảnh nhất định với nồng độ học tập nhất định.
Từ các quan điểm về tự học nêu trên, có thể thấy: Tự học là quá trình cá
nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào
đó trong cuộc sống, bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất
định.
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu, SGK, sách báo các loại, nghe
radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan, giao tiếp với những người
có học, với các chuyên gia và những hoạt động thực tiễn trong những lĩnh vực khác
nhau. Người học phải biết tự lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan

16
trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần
thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo,
biết cách làm việc trong thư viện Đối với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự
làm các bài tập chuyên môn, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa
khác. Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao.
1.2.1.2. Vai trò của tự học.
Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi con

đúng mục tiêu giáo dục qui định.
Tự học của HS THPT còn có một vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới
giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo ở trường phổ thông. Với lối dạy "nhồi
nhét" trong các nhà trường phổ thông hiện nay, HS khó có thể có thời gian tự học và
tự học có hiệu quả. Trong quá trình dạy học nói chung, GV luôn giữ một vai trò
quan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn,
chỉ đạo hoạt động học tập của HS. Nhưng thực tế cho thấy rằng, dù GV có kiến thức
uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng học sinh không
chịu đầu tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát
với tri thức, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch và phương pháp học
tập hợp lý, không tự giác tích cực trong học tập thì việc học tập không đạt kết quả
cao được. Đổi mới phương pháp để phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của
người học là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các nhà trường phổ
thông hiện nay. Nhờ có tự học và chỉ bằng con đường tự học, người học mới có thể
nắm vững tri thức, thông hiểu tri thức, bổ sung và hoàn thiện tri thức cũng như hình
thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng. Và như vậy hoạt động tự học sẽ quyết định
chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường nói chung và đặc biệt là đối với giai
đoạn CNH- HĐH hiện nay. Trong "Tự học- chìa khoá vàng của giáo dục" đăng trên
tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 2-1998, Giáo sư Phan Trọng Luận đã khẳng định
"Tự học là một chìa khoá vàng cần được mài sáng thêm trong giai đoạn công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước sang thế kỷ XXI. Cũng có thể nghĩ rằng tự học
là con đường dân chủ hoá xã hội hoá giáo dục và khoa học một cách có hiệu lực
nhằm phát huy tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên cộng đồng trong sự
nghiệp đi nhanh đón đầu lên đỉnh cao công nghệ hiện đại" [17].
Tóm lại, tự học chính là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng định khả năng
của mình. Nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người. Tuy
nhiên hoạt động tự học của HS không thể đạt tới hiệu quả cao nhất nếu không có sự

18
hướng dẫn, chỉ dạy của GV. Chính vì vậy, "Trong nhà trường điều chủ yếu không


19
ngày càng phát triển. Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả
thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các
khía cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị và kết luận.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều HS thu thập được một khối lượng thông tin
phong phú nhưng không biết cách xử lí để tìm ra con đường đạt được mục tiêu.
Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của GV ngay từ những hoạt
động đầu của giải quyết vấn đề.
Nếu nói rằng trong dạy học, quan trọng nhất là dạy cho HS cách học, thì
trong đó cần coi trọng dạy cho HS kĩ thuật giải quyết vấn đề. Với kĩ thuật này, HS
có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để
lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình. Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là
công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy học cho HS phương
pháp tự học.
* Năng lực xác định những kết luận đúng.
Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận
đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội
sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân HS có năng lực này.
Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình
thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết). Trên thực tế có
rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên HS có thể đi
chệch ra khỏi vấn đề chính đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu. Vì
vậy hướng dẫn cho HS kĩ thuật xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng
so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề. Các quyết định phải được dựa
trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu.
* Năng lực vận dụng kiến thức (hoặc tự thu nhận thức kiến thức mới).
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong
thực tiễn cuộc sống, hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo
thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có nghiên cứu, khám phá,

nghiên cứu khoa học, hay nói cách khác, đó là sự rèn luyện năng lực tự học, tự
nghiên cứu. Cũng chính việc học như vậy, đòi hỏi việc dạy học không phải là
truyền thụ kiến thức làm sẵn cho HS mà người GV phải đặt mình vào vị trí người
hướng dẫn HS nghiên cứu.
1.2.1.4. Hệ thống kỹ năng tự học.

21
Tuỳ theo môn học mà HS có những kĩ năng tự học phù hợp. Một cách chung
nhất, HS cần phải được rèn luyện các kĩ năng tự học cơ bản sau:
- Biết đọc, nghiên cứu giáo trình và tài liệu học tập, chọn ra những tri thức cơ bản
chủ yếu, sắp xếp hệ thống hoá theo trình tự hợp lí, khoa học.
- Biết và phát huy được những thuận lợi, hạn chế những mặt non yếu của bản thân
trong quá trình học ở lớp, ở nhà, ở thư viện, ở phòng thí nghiệm,
- Biết vận dụng các lợi thế và khắc phục các khó khăn, thích nghi với điều kiện học
tập (cơ sở vật chất, phương tiện học tập, thời gian học tập ).
- Biết sử dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp học tập cho phép để đạt hiệu
quả học tập cao.
- Biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kì, cả năm,
- Biết và sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo luận,
tranh luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập và xử lí thông tin.
- Biết sử dụng các phương tiện học tập, đặc biệt là công nghệ thông tin.
- Biết phân tích, đánh giá và sử dụng các thông tin.
- Biết kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của bản thân và bạn học.
- Biết vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.
1.2.1.5. Chu trình tự học của HS.
Chu trình tự học của HS là một chu trình 3 thời:
Thời (1): Tự nghiên cứu.
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định
hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (mới - đối với người học) và tạo
ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân.

đánh giá
- Tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV.
Trong quá trình học tập trên lớp, người thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất
xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức. Trò với vai trò là chủ
thể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá
trình học tập. Mối quan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ giữa Nội lực và
Ngoại lực, Ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất xúc tác thúc đẩy Nội
lực phát triển.

23
Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không giáp mặt với thầy, nhưng
dưới sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động tự sắp xếp kế hoạch huy động mọi trí tuệ và kỹ năng của bản thân để
hoàn những yêu cầu do GV đề ra. Tự học của người học theo hình thức này liên
quan trực tiếp với yêu cầu của GV, được GV định hướng về nội dung, phương pháp
tự học để người học thực hiện. Như vậy ở hình thức tự học thứ ba này quá trình tự
học của HS có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của nhiều
yếu tố, trong đó có yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học của GV và quá trình
tự học của HS.
1.2.2. Dạy tự học có hướng dẫn.
1.2.2.1. Một số quan niệm về dạy cách học.
Một số quan niệm về việc dạy học:
- Dạy là truyền đạt thông tin: Theo quan niệm này thì việc dạy học là việc lấy thầy
làm trung tâm, GV truyền cho HS càng nhiều thông tin càng tốt và GV không quan
tâm tới việc HS nắm bắt được bao nhiêu % kiến thức từ nguồn thông tin dồi dào đó.
- Dạy là truyền đạt kiến thức và thái độ đối với kiến thức đó: Theo quan niệm này
thì việc dạy học là việc lấy thầy làm trung tâm nhưng có nhấn mạnh việc phát triển
ở HS. Theo cách học này HS có khả năng xử lý tài liệu và áp dụng được kiến thức,
biết sử dụng thông tin một cách hữu hiệu
- Dạy là giúp cho người học được học tập dễ dàng: Theo quan niệm này, việc dạy

làm cho HS biết học, biết hỏi do đó sẽ hiểu và biết hành, biết biến quá trình đào tạo
thành quá trình tự đào tạo. Sự học của HS sẽ dựa vào việc dạy của GV nhưng nó
cũng là quá trình tự giác, tích cực và tự lực của HS.
1.2.2.2. Dạy tự học có hướng dẫn.
Theo Luật Giáo dục, học từ xa, vừa học vừa làm, tự học có hướng dẫn thuộc
phương thức giáo dục không chính quy, trong các hình thức giáo dục này, người
học chủ yếu phải tự học bằng SGK, bằng các loại học liệu, bằng kế hoạch và các
điều kiện, phương tiện của mình để đạt được một mục tiêu hay một chương trình
đào tạo. Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên
ngoài và hoạt động bên trong. Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS tự
phát triển, chỉ có tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân
HS. Hình thức dạy tự học có hướng dẫn là quà trình giúp đỡ, hình thành cho người

25
học có được phương pháp, cách thức tự học, tự nghiên cứu hợp lí, hiệu quả, qua đó
giúp HS không ngừng nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu.
Tự học là một hình thức học. Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục đích,
nội dung và phương pháp phù hợp. Hình thức dạy tự học có hướng dẫn vừa phải
đảm bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm
nhận thức của HS. Dạy HS tự học là GV dạy HS học tập hiệu quả bằng phương
pháp tự học. Đầu tiên GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS tích cực tham gia.
Sau đó GV hướng dẫn HS tự tiến hành các hoạt động nhận thức nhằm hình thành và
phát triển các kĩ năng tự học cho HS.
Sau đây chúng ta hãy tìm hiểu về một số mô hình dạy học
- Mô hình 1- Dạy kiến thức: Truyền thụ một chiều; GV dạy- HS ghi nhớ. Tri thức
của HS là sự nhớ lại, lặp lại, học thuộc lòng.
- Mô hình 2- Dạy cách học: Hợp tác 2 chiều, GV hướng dẫn- HS tự học. Tri thức là
do HS tự tìm ra với sự hợp tác của các bạn và sự hướng dẫn của GV.
Bảng 1.1. Một số mô hình dạy học
Mô hình dạy - học truyền thụ

- HS tự lực hoạt động, áp dụng những phương pháp nhận thức đã biết để thích nghi
với môi trường, vượt qua khó khăn, giải quyết những vấn đề nêu ra. Trong quá trình
giải quyết nhiệm vụ có thể trao đổi với các bạn bè hay thảo luận chung cả lớp dưới
sự hướng dẫn của GV để xác định tính đúng đắn của những thông tin mới tìm ra.
Phương hướng chung của việc tổ chức hoạt động cho HS tự học là quan tâm
và tạo mọi điều kiện để người học trở thành chủ thể hoạt động trong giờ học. Xây
dựng những điều kiện nâng cao được tính tự giác, tính tích cực của HS. Phát triển
dần dần tính sáng tạo của HS, nâng cao tính độc lập của HS, cho HS thường xuyên
tập luyện giải quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn.
Để tìm hiểu thêm về cách dạy HS tự học, ngay sau đây chúng ta sẽ nghiên
cứu về quy trình dạy tự học của một tình huống sư phạm. Trong tình huống đó GV
là tác nhân có vai trò như người đạo diễn hướng dẫn điều khiển các hoạt động theo
đúng mục tiêu và phương hướng hoạt động, hướng dẫn HS hình thành và phát triển
các kĩ năng tự học tự nghiên cứu, vai trò của GV còn thể hiện rõ ở khâu cuối cùng
là đưa ra những ý kiến phản hồi để giúp HS hoàn thành sản phẩm của quá trình tự
học. Kết quả học tập của HS có tốt hay không, sự tự học của HS có hiệu quả hay
không chủ yếu là do HS nhưng kết quả đó còn nói lên được rằng người GV đó có
dạy học tốt hay không. Ta có thể hình dung giống như khi làm một bộ phim, để có
được một bộ phim hay đòi hỏi rất nhiều yếu tố trong đó diễn viên phải hợp tác tích
cực hiệu quả với đạo diễn và diễn xuất giỏi nhưng nếu người đạo diễn tồi thì bộ
phim đó không thể nào hay được. Từ đó ta thấy để HS tự học tốt, vai trò của GV rất
là quan trọng. HS là chủ thể mọi hoạt động học tập, hình thành và phát triển các kĩ
năng để tiếp cận tri thức (cách thu nhận thông tin, xử lý thông tin, tiếp nhận các tình
huống có vấn đề, xây dựng các giải pháp và giải quyết vấn đề, tự kiểm tra đánh giá,
tiếp nhận thông tin phản hồi, sửa sai, kết luận và rút kinh nghiệm ). Tri thức được
xem là sản phẩm học, sản phẩm của cá nhân ban đầu có thể có nhiều sai sót, nhưng
sau khi tiếp nhân thông tin phản hồi sự xây dựng góp ý từ GV và bạn bè thì sản
phẩm (tri thức) đấy dần dần hoàn thiện hơn và cuối cùng HS thu được sản phẩm -
đó chính là tri thức khoa học mới.


Sản phẩm học của cá
nhân ban đầu có thể sai
sót.
Tự thể hiện - hợp tác
Tổ chức - trọng tài
Sản phẩm học
Tự trình bày sản phẩm, tự thể hiện
Tham gia tranh luận. Ghi lại ý
kiến tranh luận, kết luận. Kết luận
cuộc tranh luận
Tổ chức trao đổi: HS-
HS, HS- GV
Điều khiển cuộc tranh
luận theo khách đúng
mục tiêu, kết luận.
Sản phẩm học mang tính
hợp tác xã hội, khách
quan hơn sản phẩm cá
nhân ban đầu.

Tự kiểm tra- tự điểu chỉnh
Cố vấn
Tri thức khoa học mới
Tự so sánh đối chiếu, tự kiểm tra
sản phẩm, giúp đỡ HS tự kiểm tra
đánh giá sản phẩm. Tự đánh giá,
kết luận.
Tự sửa sai, tự điều chỉnh.
Hoàn chỉnh sản phẩm.
Giúp HS tự rút kinh

hoạt động thực tiễn của con người. Điều này đặc biệt được chú ý trong nhà trường
của các nước phát triển.
1.3. Thể loại thơ trữ tình và hoạt động đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình trong
chƣơng trình Ngữ văn bậc THPT.
1.3.1. Quan niệm về loại thể và việc phân chia loại thể.
1.3.1.1. Quan niệm về loại thể.
Loại thể văn học (người phương Tây gọi là “genre”, người Trung Quốc gọi
là “thể tài”) là một hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học
nào cũng có một hình thể, có một “thể” cấu tạo, thể thức ngôn từ nhất định.
Loại thể văn học hình thành trong quá trình lịch sử văn học cụ thể. Lúc đầu
còn thô sơ, chưa trọn vẹn, qua quá trình vận dụng lặp đi lặp lại, các thể loại mới
định hình và hoàn thiện, trở thành những mẫu mực nhất định. Các mẫu mực đó một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status