Người thực hiện: Đào Thị Thúy Hằng Trường THPT Tam Phước
VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO VIỆC DẠY
TÁC PHẨM THƠ TRUNG ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội ngày càng hiên đại đang biến đổi nhanh- sự bùng nổ thông tin, công nghệ
phát triển như vũ bão- thì không thể nhồi nhét vào đầu học sinh khối lượng kến thức
ngày càng nhiều, đòi hỏi hệ thống giáo dục phải có sự đổi mới trong vệc giáo dục đào
tạo con người nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại. Dạy học bộ môn Ngữ văn cũng
nằm trong sự thay đổi đó.
Các tác phẩm văn chương là sáng tạo tinh thần độc đáo của các nghệ sĩ, mỗi tác
phẩm mang sắc thái riêng. Bởi vậy đòi hỏi người giáo viên phải khéo léo biết vận
dụng các phương pháp dạy học tích cực để truyền tải kiến thức đến với học sinh bằng
con đường ngắn nhất, chính xác nhất. Điều này quả không dễ dàng bởi có những thể
loại tác phẩm nghệ thuật ngôn từ rất khó chẳng hạn như thơ trung đại ở chương trình
ngữ văn lớp 10. Các tác phẩm sáng tác khoảng trên dưới 1000 năm trước, cách xa
chúng ta về thời gian và cả phương thức tư duy nghệ thuật (hàm súc, lời ít, ý nhiều)
và nếu không đặt nó trong bối cảnh lịch sử xã hội, trong mối quan hệ với tư tưởng
tình cảm của chủ thể sáng tạo ra nó thì khó tránh khỏi cách phân tích hời hợt nông
cạn. Bên cạnh đó, thời lượng một tiết học quá ngắn, lượng kiến thức quá nhiều nên
nhiều người thầy chỉ chú trọng đến nội dung chính của bài mà xem nhẹ phương pháp
truyền tải, dẫn đến kết quả bài giảng chưa sâu, thiếu tính thuyết phục, học sinh cảm
nhận mơ hồ dẫn đến không hứng thú khi học văn, đặc biệt là các tác phẩm thơ trung
đại.
Vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào
việc dạy tác phẩm thơ trung đại trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT” với
mục đích nhằm khắc phục phần nào đó những khiếm khuyết trên để gây hứng thú cho
học sinh học văn. Mọi sự cố gắng tìm tòi, nghiên cứu và giảng dạy đều nhằm mục tiêu
cuối cùng là giúp các em biết yêu, biết ghét, biết sống, biết làm người đúng như vai
trò của môn văn “Văn học là nhân học" (Mác Xim - Gorki). Nhưng trình độ có hạn,
lựa chọn các phương pháp dạy học một cách hơp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với
đặc trưng môn học, cấp học, nội dung, tính chất của bài học, đặc điểm và trình độ
học sinh, thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa
phương. Theo đó, vị trí của người thầy là người không phải đứng giữa môn học và
học sinh mà ở cạnh học sinh, như một hướng dẫn viên, kích thích và duy trì hứng
thú học tập của học sinh- thầy chỉ là “chất xúc tác của quá trình dẫn thông tin”.
2. Cơ sở thực tiễn:
a.Thực trạng học văn của học sinh:
Trong thực tiễn giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở nhà trường THPT nói chung, phần văn
học trung đại nói riêng, một bộ phận học sinh có tư tưởng chán hoặc xem nhẹ môn
văn chỉ quan tâm đến các môn thuộc lĩnh vực tự nhiên để thi vào các khối, các
trường Đại học, Cao đẳng mà mình đã chọn. Đa số học sinh chưa phát huy được kĩ
năng tự học, tính sáng tạo, mà chủ yếu thụ động ngồi nghe, ghi chép kiến thức do
thầy truyền đạt tức là dựa vào hoạt động của giáo viên là chính. Các tác phẩm văn
học trung đại trong chương trình ngữ văn lớp 10- khó khăn nhất là xa cách về thời
gian lịch sư, hàng rào ngôn ngữ (văn bản chủ yếu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm và
tìm hiểu thông qua bản dịch. Trong bản dịch có từ ngữ chưa sát với nguyên tác),
khác về tư duy nghệ thuật, cách sử dụng các thi liệu, bút pháp thiên về ước lệ, tượng
trưng.Vì vậy, trong các giờ đọc văn, giáo viên phát vấn chỉ có một vài học sinh có
VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO VIỆC DẠY TÁC PHẨM THƠ TRUNG ĐẠI … - Trang 2
Người thực hiện: Đào Thị Thúy Hằng Trường THPT Tam Phước
tinh thần xây dựng bài từ đầu cho đến cuối tiết học. Còn đa số học học sinh khác
ngồi yên, đặc biệt là đối với học sinh yếu, kém. Khi giáo viên gọi bất kì một học
sinh nào trả lời câu hỏi. Học sinh đó chỉ đứng lên rồi yên lặng mà không có câu trả
lời. Từ đó làm cho giờ học trở nên trầm lắng, ít sôi động.
Chúng ta còn thấy một thực tế khác đó là một số học sinh chưa có kĩ năng viết
như chữ quá xấu, sai lỗi chính tả, không biết dùng từ, đặt câu.
b. Thực trạng dạy văn của giáo viên:
Một số giáo viên trong giờ dạy, chỉ chú trọng công việc khai thác trọng tâm kiến
thức của bài học mà không rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự học và các kĩ năng
sinh tiếp nhận tác phẩm văn chương. Nhằm tạo hứng thú, rèn được các kĩ năng cho
học sinh, trong hoạt động dạy học, tôi đã phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp
sau: Phương pháp vấn đáp, thuyết trình, nêu và giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm,
phương pháp trực quan. Đó chính là những giải pháp nhằm giúp học sinh chủ động,
sáng tạo trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học.
1. Phương pháp vấn đáp:
Giáo viên đặt câu hỏi để học sinh trả lời. Qua đó, học sinh lĩnh hội được nội
dung. Phương pháp này rèn luyện cho học sinh bản lĩnh, tự tin, khả năng diễn đạt tốt
một vấn đề trước đám đông. Muốn thực hiện mục đích trên đòi hỏi giáo viên phải
xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu, nội dung bài học, điều kiện
học tập, xác định được vai trò, chức năng của từng câu hỏi, các yếu tố nối các câu
hỏi. Giáo viên dự kiến các phương án trả lời của học sinh để có thể chủ động đổi
hình thức, cách thức, mức độ hỏi. Giáo viên có thể dẫn dắt học sinh bằng những câu
hỏi phụ, để tránh đơn điệu nhàm chán, tạo hứng thú cho học sinh, tăng tính hấp dẫn
cho giờ học.
2. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:
a. Hoạt động nêu vấn đề của giáo viên:
Giáo viên tổ chức, xây dựng, tạo ra những giả thiết, những dữ kiện và yêu cầu
giải pháp để người đọc đi tìm lời giải. Tức là giáo viên làm xuất hiện bên trong ý
thức của học sinh một mâu thuẫn nhận thức tự giác, một nhu cầu bên trong muốn
giải quyết mâu thuẫn đó.
Giáo viên lập kế hoạch các bước giải, lập kế hoạch cho quá trình đi đến lời
giải, làm cho quá trình đó trở nên thuận lợi, kích thích học sinh nỗ lực, chủ động giải
quyết một phần vấn đề.
Nêu vấn đề được cụ thể hóa bằng những câu hỏi gọi là câu hỏi nêu vấn đề.
Các câu hỏi nêu vấn đề được đặt trong một hệ thống và thống nhất với mục tiêu bài
học. Thông thường giáo viên đưa ra câu hỏi, hỏi dồn hoặc gợi tìm, kết hợp với quan
sát tinh tế và đánh giá chính xác.
Câu hỏi nêu vấn đề có nhiều mức độ: yêu cầu học sinh tái hiện, yêu cầu học
sinh phải tư duy, yêu cầu học sinh cùng một lúc phải vận dụng nhiều năng lực khác
g. Phương pháp dạy học theo trực quan:
Ở phương pháp này, giáo viên chuẩn bị một số hình ảnh liên quan đền bài
học. Lên lớp, thông qua việc quan sát hình ảnh, học sinh rút ra nội dung vấn đề.
Tóm lại, trong hoạt động dạy học giáo viên cần vận dụng nhiều phương pháp
để hướng dẫn học sinh tiếp thu bài học. Mỗi hình thức đều có ưu, nhược điểm riêng.
Giáo viên cần phối hợp các phương pháp một cách phù hợp nhằm đem lại sự hứng
thú cho học sinh trong học tập, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh
trong việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện thêm cho học sinh một số kỹ năng khác
như: Kỹ năng nói, sự tự tin khi trình bày vấn đề trước tập thể.
VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO VIỆC DẠY TÁC PHẨM THƠ TRUNG ĐẠI … - Trang 5
Người thực hiện: Đào Thị Thúy Hằng Trường THPT Tam Phước
QUÁ TRÌNH THỰC NGHIỆM CÁC PHƯƠNG PHÁP
TRONG MỘT SỐ BÀI DẠY CỤ THỂ
1. Bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão (Ngữ văn 10, Tập một)
Để tạo hứng thú, niềm say mê học tập và rèn luyện các kĩ năng cho học sinh,
khi dạy bài Tỏ lòng- Phạm Ngũ Lão, tôi đã phối hợp các phương pháp dạy học tích
cực sau trong một số tình huống cụ thể của bài dạy:
a. Phương pháp vấn đáp tái hiện:
Thông thường phần tiểu dẫn của bài học chỉ giới thiệu khái quát về tác giả và
tác phẩm. Do đó yêu cầu học sinh hoạt động nhanh. Học sinh chỉ chỉ cần quan sát và
đọc là phát hiện ra vấn đề. Để tái hiện kiến thức giáo viên thường đưa ra câu hỏi:
Phần tiểu dẫn giới thiệu những nội dung cơ bản nào ? Hãy trình bày cụ thể từng nội
dung ?
Nếu học sinh không phát hiện được các nội dung giới thiệu trong phần tiểu
dẫn hoặc phát hiện thiếu, chưa chính xác, giáo viên có thể dẫn dắt học sinh bằng câu
hỏi phụ, nhằm định hướng cho học sinh phát hiện chính xác vấn đề như: Phần tiểu
dẫn giới thiệu hai nội dung cơ bản, đó là những nội dung nào ? Giới thiệu cụ thể
từng nội dung ? Hoặc dựa vào phần tiểu dẫn giới thiệu những nét chính về tác giả,
tác phẩm ?
Sử dụng phương pháp này có tác dụng tạo hứng thú cho học sinh trung bình,
+ Nhóm 1: Quan niệm về chí làm trai của Phạm Ngũ Lão là như thế nào ?
Quan niệm như vậy có phải là một cách vinh danh cá nhân không ?
+ Nhóm 2: Nhận xét về chí làm trai của Phạm Ngũ Lão ? Chí làm trai có tác
dụng gì đối với con người xã hội lúc bấy giờ ?
- Mỗi nhóm ghi ý kiến của mình vào bảng phụ. Sau thời gian ấn định, đại diện
nhóm sẽ dùng bảng phụ để trình bày.
- Giáo viên yêu cầu học sinh các nhóm khác nhận xét chéo, bổ sung phần trả lời
của nhóm bạn.
- Giáo viên nhận xét và củng cố lại.
- Khâu cuối cùng giáo viên cho điểm các nhóm, với mục đích khuyến khích sự
tìm tòi của các nhóm.
d. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:
Sau khi đọc hiểu xong phần nội dung và ngệ thuật của tác phẩm, tôi muốn học
sinh đánh giá lại tác phẩm một cách khái quát bằng việc tìm ra ý nghĩa của văn bản.
Sử dụng phương pháp này sẽ tác động mạnh mẽ đến ý thức sáng tạo của học
sinh. Giáo viên đưa ra câu hỏi để tất cả học sinh cùng phải suy nghĩ nhằm tìm ra câu
trả lời cho mình: Suy nghĩ của anh/chị sau khi học xong bài thơ “Tỏ lòng”?
- Yêu cầu học sinh đối thoại trực tiếp với giáo viên.
- Giáo viên gọi 2- 3 học sinh trình bày suy nghĩ của mình.
- Giáo viên yêu cầu các học sinh khác nhận xét câu trả lời của bạn và suy nghĩ
của mình.
- Cuối cùng, cô giáo nhận xét, củng cố lại.
e. Phương pháp trực quan:
VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO VIỆC DẠY TÁC PHẨM THƠ TRUNG ĐẠI … - Trang 7
Người thực hiện: Đào Thị Thúy Hằng Trường THPT Tam Phước
Để củng cố bài học giáo viên cho học sinh xem hình ảnh Phạm Ngũ Lão, hình
ảnh ba quân (chú ý hình ảnh chỉ mang tính minh họa). Giáo viên đưa ra câu hỏi
nhằm củng cố bài học cho học sinh: Em có suy nghĩ gì sau khi xem xong hình ảnh
trên?
- Học sinh quan sát hình sẽ khái quát được nội dung vấn đề nhằm củng cố bài
Người thực hiện: Đào Thị Thúy Hằng Trường THPT Tam Phước
- Sau đó giáo viên nhận xét nội dung, cách thức thuyết trình, trong khi nhận xét
thường có những lời động viên, khích lệ.
c. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:
Dạng câu hỏi này yêu cầu học sinh vừa tái hiện vừa phải tư duy để suy luận.Tôi
chọn hai câu cuối của bài thơ:
Câu hỏi: Em có cảm nhận gì khi đọc hai câu cuối?Tại sao Nguyễn Du lại kết
thúc bài thơ bằng một câu hỏi?
- Học sinh đối thoại trực tiếp.
- Trong trường hợp, học sinh không có câu trả lời, giáo viên sẽ có câu hỏi gợi
mở, nhằm định hướng cho việc trả lời của học sinh như: Câu “Thiên hạ ai người khóc
Tố Như” gợi lên cho em suy nghĩ gì ?
Tại sao đang bàn luận về Tiểu Thanh, kết thúc bài thơ Nguyễn Du lại nói về
mình? Như vậy có mâu thuẫn trong cảm xúc không?
- Giáo viên có thể phát vấn nhiều học sinh, nhằm tìm kiếm nhiều phương án trả
lời khác nhau, để đi đến thống nhất về nội dung.
d. Phương pháp thảo luận nhóm:
Trong bài dạy này, một số câu hỏi thảo luận nhóm tôi đã thực hiện ở nhiều lớp
của nhiều năm học gần đây.
- Thời gian thảo luận là 2 phút. Chia lớp thành 2 nhóm. Mỗi nhóm chuẩn bị bảng
phụ thảo luận hai nội dung: Nhận xét về nghệ thuật của bài thơ? Tác động của bài
thơ trong hoàn cảnh hiện nay?
- Học sinh thảo luận, trình bày ý kiến của nhóm mình lên bảng phụ.
- Sau khi hoàn thành, học sinh 4 nhóm đem treo bảng phụ của mình lên bảng trên
lớp.
- Học sinh nhận xét sản phẩm của nhóm nào đầy đủ, có cần bổ sung thêm gì nữa
không.
- Giáo viên nhận xét, củng cố.
- Chú ý trong các giờ hoạt động nhóm, thành viên trong nhóm phải được nhóm
trưởng cử lên thay phiên nhau trình bày.
SAU KHI THỰC NGHIỆM :
* Khi chưa thực nghiệm:
Lớp Sĩ số Kém Yếu TB Khá Giỏi
10A5 42 3 học sinh
(7.14%)
7 học sinh
(16.6%)
28 học sinh
(66.6%)
4 học sinh
(9.52%)
0
10A7 43 4 học sinh
(9.3%)
9 học sinh
(20.9%)
28 học sinh
(65.1%)
2 học sinh
(4.7%)
0
10A10 41 5 học sinh
(12.2%)
8 học sinh
(19.5%)
28 học sinh
(68.3%)
2 học sinh
(4.9%)
0
* So sánh trước và sau khi thực nghiệm:
Xếp loại bài
kiểm tra
Trước khi thực
nghiệm
Khi thực nghiệm Tỉ lệ
Giỏi 0% 4.76% Tăng 4.76%
Khá 6.3% 23 % Tăng 16.7%
TB 66.7% 61.9% Giảm 4.8%
Yếu 19.0% 10.3% Giảm 8.7%
Kém 9.5% 0% Giảm 9.5%
Từ kết quả quá trình thực nghiệm vận dụng phối hợp các phương pháp dạy
học tích cực vào một bài đọc văn cụ thể tôi nhận thấy kết quả học tập của học sinh
có tiến bộ rõ rệt. Số lượng học sinh hứng thú trong các giờ học tăng hơn, các em tích
cực phát biểu xây dựng bài. Đa số các em đều nắm được những nội dung kiến thức
cơ bản.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ, KHẢ NĂNG ÁP DỤNG.
Dạy ngữ văn là một công việc hết sức khó khăn, dạy phần văn học trung đại
trong chương trình ngữ văn lớp 10 lại càng khó khăn hơn. Bởi vì không phải đơn
giản là nhồi nhét vào đầu học sinh khối lượng kiến thức áp đặt mà dạy học văn là
một quá trình đối thoại giữa học sinh - thầy giáo và tác giả đằng sau văn bản giúp
học sinh giao tiếp vượt thời gian, không gian được phản ánh trong từng tác phẩm.
Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào thực tiễn là một phương pháp dạy
học có tính khoa học và cơ sở thực tiễn vững vàng. Điều đó đã thể hiện rõ quan
điểm dạy học phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học, là cơ sở tiền đề cho
việc đổi mới phương pháp dạy học ở các nhà trường phổ thông hiện nay.
VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO VIỆC DẠY TÁC PHẨM THƠ TRUNG ĐẠI … - Trang 11
Người thực hiện: Đào Thị Thúy Hằng Trường THPT Tam Phước
Để đề tài phát huy hiệu quả cao nhà trường cần tạo điều kiện cho tổ chuyên
môn có thể thường xuyên tổ chức các chuyên đề bàn về phương pháp dạy học, để
4. Lí luận văn học (Phương Lựu, NXB Giáo Dục)
5. Tác phẩm văn học trong nhà trường Phổ Thông một góc nhìn, một cách đọc
(Phan Huy Dũng, NXB Giáo Dục Việt Nam).
6. Phương pháp tiếp nhân tác phẩm văn học ở trường THPT (Nguyễn Thị Thanh
Hương)
7. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn Lớp 10 ( NXB
Giáo dục Việt Nam)
Giáo viên thực hiện
Đào Thị Thúy Hằng
VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO VIỆC DẠY TÁC PHẨM THƠ TRUNG ĐẠI … - Trang 13