Từ hướng tiếp cận thi pháp, vận dụng vào việc
giảng dạy tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong
chương trình trung học phổ thông Đinh Thị Doanh Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Khánh Thành
Năm bảo vệ: 2010 Abstract. Nghiên cứu một số vấn đề dạy học văn theo hướng Thi pháp học và hành
trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu cùng sự biến đổi về thi pháp. Làm rõ thực
trạng giảng dạy tác phẩm Nguyễn Minh Châu ở nhà trường phổ thông và việc vận
dụng thi pháp học trong việc giảng dạy tác phẩm Nguyễn Minh Châu. Tiến hành
thiết kế bài giảng về tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa để đánh giá mức độ khả thi của
đề tài.
Keywords. Phương pháp giảng dạy; Ngữ văn; Tác phẩm văn học; Phổ thông trung
học Content
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Lựa chọn đề tài “Từ hướng tiếp cận thi pháp, vận dụng vào việc giảng dạy tác phẩm
Nguyễn Minh Châu trong chương trình trung học phổ thông” làm công trình nghiên cứu khoa
học phù hợp.
1.4. Nguyễn Minh Châu - một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại nửa sau thế kỷ
XX
Đặc biệt ông là người “mở đường tinh anh và tài năng” người “đi được xa nhất”, đặt
những viên gạch đầu tiên làm nền móng cho công cuộc đổi mới văn học nước nhà. Truyện
ngắn CTNX là TP mới được đưa vào chương trình THPT nên chưa có sự thống nhất về cách
hiểu, cách đánh giá, cách giảng dạy.
Với tất cả những lí do như trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa
học “Từ hướng tiếp cận thi pháp, vận dụng vào việc dạy học tác phẩm Nguyễn Minh Châu
trong chương trình trung học phổ thông” như là một niềm say mê và cũng là một thử thách,
một hướng tìm tòi nhằm nâng cao hiệu quả công tác trong thực tế giảng dạy của bản thân,
đồng thời hi vọng góp một tiếng nói nhỏ bé vào công cuộc đổi mới PPDH văn trong nhà
trường hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Nguyễn Minh Châu là một nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại với một
sự nghiệp văn học đồ sộ. Toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu được in trong
Nguyễn Minh Châu toàn tập (5 tập) do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2001. Đã có rất
nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu, nhiều chuyên luận dày công về tác giả và TP của
Nguyễn Minh Châu. Hầu hết các bài viết về con người và TP của ông được tập hợp trong
Nguyễn Minh Châu – con người và tác phẩm do hai tác giả Tôn Phương Lan và Lại Nguyên
Ân sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn, và Nguyễn Minh Châu – kỉ yếu hội thảo 5 năm ngày
mất của Hội văn học nghệ thuật Nghệ An. Gần đây nhất, tác giả Nguyễn Trọng Hoàn cho ra
mắt cuốn Nguyễn Minh Châu - về tác gia và tác phẩm. Tìm hiểu sâu về phong cách nghệ
thuật Nguyễn Minh Châu, tác giả Tôn Phương Lan có công trình dày dặn và sâu sắc Phong
cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Tri Nguyên tìm đến Những đổi mới về thi pháp
trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975, Nguyễn Văn Hạnh với Nguyễn Minh Châu
những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người, Lã Nguyên tìm hiểu Nguyễn Minh
Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật Ngoài ra còn có nhiều chuyên luận,
bài báo, khoá luận tốt nghiệp của sinh viên, luận văn thạc sĩ của học viên cao học và luận án
tiến sĩ của nghiên cứu sinh về tác gia, TP Nguyễn Minh Châu mà theo chúng tôi có thể lấy
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đổi mới tư duy nghệ thuật của Nguyễn
Minh Châu sau 1975; truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng, CTNX; việc giảng dạy TP Nguyễn
Minh Châu cho HS lớp 12 từ hướng tiếp cận thi pháp.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là đặc trưng thi pháp thể loại, thi pháp tác giả, hành
trình sáng tạo nghệ thuật Nguyễn Minh Châu và sự biến đổi về thi pháp; và từ hướng tiếp cận
thi pháp soạn giáo án thể nghiệm với truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (qua tác phẩm CTNX).
5. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết về thi pháp thể loại, thi pháp tác giả vào việc dạy học TP Nguyễn
Minh Châu trong nhà trường THPT nhằm góp phần đổi mới PPDH Ngữ văn và thực hiện
những nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài mà ngành giáo dục đã đặt ra: không dạy đọc -
chép; không tiêu cực trong thi cử qua đó nhằm giải quyết một số khó khăn mà chương trình,
SGK, và PPDH mới đề ra, giúp cho việc giảng dạy những TP mới được đưa vào nhà trường
được hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn văn trong nhà trường hiện nay.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính
sau đây: phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp
tiếp cận thi pháp học, phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích.
7. Đóng góp của luận văn
- Về lý luận: khẳng định hướng đổi mới đúng đắn, khả thi của PPDH TPVC từ hướng
tiếp cận thi pháp.
- Về thực hành: khảo sát và đánh giá thực trạng dạy học TP Nguyễn Minh Châu ở lớp
12 nhằm hoàn thiện mô hình dạy TPVC từ hướng tiếp cận thi pháp, giúp đồng nghiệp có
thêm tư liệu soạn giảng, nâng cao chất lượng dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nói
riêng, thể truyện ngắn nói riêng.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề dạy học văn theo hướng Thi pháp học và hành trình sáng tạo
của Nguyễn Minh Châu cùng sự biến đổi về thi pháp.
Chương 2. Thực trạng giảng dạy tác phẩm Nguyễn Minh Châu ở nhà trường phổ thông
nhà trường đã có bề dày khoảng 20 năm; SGK Ngữ văn hiện hành chứa đựng rất nhiều tri
thức về Thi pháp học; các đề thi và đáp án môn Ngữ Văn gần đây đã yêu cầu HS chú trọng
phân tích hình thức nghệ thuật. Nhưng Thi pháp học có biến thành thực tiễn sinh động hay
không còn phụ thuộc rất nhiều vào sự vận dụng tích cực của GV và HS trong giờ dạy - học
văn.
1.2. Đổi mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 - một nhà văn “mở đƣờng
tinh anh” và “đi đƣợc xa nhất”
1.2.1 Đổi mới ở quan niệm nghệ thuật và tư duy nghệ thuật
Trước 1975, Nguyễn Minh Châu đặc biệt thành công ở đề tài người lính. Những TP
Cửa sông (tiểu thuyết, 1970); Những vùng trời khác nhau (truyện ngắn, 1970); Dấu chân
người lính (tiểu thuyết, 1972) đã thể hiện cảm xúc mãnh liệt về lịch sử hào hùng, về vẻ đẹp
lộng lẫy chất tráng ca của con người Việt Nam, tâm hồn Việt Nam. Sáng tác của Nguyễn
Minh Châu thời kỳ này vừa mang đặc điểm thi pháp của một giai đoạn văn học vừa thể hiện
những tìm tòi sáng tạo riêng.
Sau 1975, đặc biệt từ những năm 80, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã khác hẳn.
Từ cảm hứng anh hùng cách mạng chuyển sang cảm hứng về thế sự với “nỗi lo âu sao mà lớn
lao và đầy khắc khoải về con người”. Nếu trước đây truyện của Nguyễn Minh Châu chỉ tập
trung vào phía tốt, vào mặt sáng của hiện thực, của lòng người và ông tin vào những điều
chân thật ông mô tả sẽ quyết định sự thuyết phục của nghệ thuật thì nay, truyện của Nguyễn
Minh Châu lại chú ý vào cả mặt tốt, mặt xấu, cả phía sáng, phía tối của cuộc sống con người
để từ đó nhà văn gửi tới người đọc bức thông điệp khẩn thiết: “Xin mọi người hãy tạm ngừng
một phút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn để tự suy ngẫm về chính mình”. Đó cũng là âm
hưởng chủ đạo chi phối toàn bộ giai đoạn “chuyển mình” có tính chất “bước ngoặt”của nhà
văn trước khát vọng đổi mới cả đối tượng lẫn phương thức thể hiện TP.
1.2.2 Những đổi mới trong thi pháp thể loại của Nguyễn Minh Châu
1.2.2.1. Đổi mới về đề tài và phạm vi phản ánh
Truyện ngắn sau 75 của Nguyễn Minh Châu tập trung vào đề tài thế sự, đời thường. Lấy
số phận cá nhân làm khởi điểm, làm mục tiêu hướng tới mà cũng là trung tâm của lăng kính
nghệ thuật đã làm cho trang viết của Nguyễn Minh Châu xác thực, đa dạng và cận nhân tình
hơn. Khi đi sâu vào số phận con người, ông cố gắng khám phá chiều sâu của tâm lý, tình
Về tình huống truyện: Đây cũng là một trong những sáng tạo của nhà văn ở lĩnh vực thi
pháp thể loại, nó ghi đậm phong cách độc đáo của nhà văn. Khảo sát truyện ngắn sau 75 của
Nguyễn Minh Châu, chúng tôi gặp một số dạng tình huống cơ bản sau: tình huống tự nhận
thức (Bến quê, CTNX…); tình huống thắt nút (Phiên chợ Giát…).
1.2.2.4. Những đổi mới về nghệ thuật trần thuật
Những đổi mới của ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Khảo
sát truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu những năm 80, chúng ta thấy ngôn ngữ truyện ngắn
của ông có mấy đặc điểm nổi bật sau: đó là ngôn ngữ văn học được nuôi trong lòng tiếng nói
đời sống; đó là ngôn ngữ tăng cường tính tốc độ, mang lượng thông tin cao, có tính triết luận
sâu sắc.
Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Ở truyện ngắn sau 75,
Nguyễn Minh Châu đã lựa chọn phương thức trần thuật với đa dạng hoá điểm nhìn nghệ
thuật. Trong mỗi truyện ngắn của ông, nhà văn không còn là người phán xét cuối cùng và
người đọc cảm nhận nhân vật bằng chính con người "bên trong" của mình. Điểm nhìn trần
thuật luôn được nhà văn thay đổi để tạo ra hệ thống giá trị khác nhau về cùng một vấn đề một
con người qua đó, nhà văn làm cho hiện thực phản ánh trong TP được đánh giá theo nhiều
cách khác nhau.
Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Giọng điệu trần thuật
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 75 thật phong phú, nó như sự phỏng nhại âm thanh
đa dạng, đa sắc thái của cuộc sống đời thường. Ở truyện này là giọng điệu đùa vui hóm hỉnh, ở
truyện kia lại là giọng chua chát đến xót xa, truyện khác lại là giọng hoài nghi chất vấn đay đả
hoặc từng trải, lọc lõi Song giọng điệu trần thuật chủ đạo làm nên những sáng tác của nhà văn
vẫn là giọng trữ tình, trầm lắng đượm nhiều trắc ẩn, suy tư, day dứt. Chúng ta có thể thấy rõ điều
này ở một số truyện ngắn tiêu biểu của ông mà Bức tranh là truyện thể hiện sự thay đổi sớm
nhất và rõ nhất về giọng điệu trần thuật của nhà văn.
Những đổi mới trong việc xây dựng biểu tượng nghệ thuật và chi tiết nghệ thuật. Trong
các sáng tác của Nguyễn Minh Châu, biểu tượng luôn chiếm một vị trí quan trọng, từ đó “Nó
tạo nên lời ngầm trong truyện của ông” [56]. Đã có nhiều người nghiên cứu về phương diện
này (Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Tri Phương, Tôn Phương Lan …). Nếu trước 75, những
ẩn dụ, những biểu tượng trong các sáng tác của ông thường đơn nghĩa, mang hàm ý ca ngợi
nhà trường phổ thông
2.1.1.1. Những thuận lợi
Về phía tác giả và TP: không có khoảng cách quá lớn giữa nhà văn, TP và bạn đọc
HS về mặt ngôn ngữ, tư duy nghệ thuật, hoàn cảnh và môi trường sống; TP mới, chương
trình, SGK mới, phương pháp dạy học hiện đại sẽ tạo ra những kích thích mạnh mẽ, làm
tăng hứng thú dạy của GV và hứng thú tiếp nhận của HS.
Về phía GV và HS: GV đã được tìm hiểu và từng giảng dạy về tác giả và TP Nguyễn
Minh Châu (nếu là GV lâu năm) hoặc cũng đã được học tập, được nghiên cứu đầy đủ trong
thời gian học tập ở trường đại học; HS lớp 12 là lứa tuổi luôn có nhu cầu bộc lộ, thể hiện và
khẳng định mình, đây là thuận lợi lớn để GV khơi dậy trí tò mò, nhu cầu khám phá, lòng ham
hiểu biết…để phát huy triệt để trí thông minh ở các em.
2.1.1.2. Khó khăn.
Về phía tác giả và TP: Đây là TP tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh
Châu trong sự nghiệp đổi mới của ông, vì thế tiếp cận với những cái mới mẻ, chệch khỏi thói
quen xưa nay vốn không phải là chuyện dễ dàng. TP mới, nằm trong chương trình, SGK mới,
với phương pháp dạy học hiện đại nên chắc chắn sẽ có nhiều bỡ ngỡ. Toàn bộ TP có dung
lượng khá dài, với 90 phút, nếu GV khai thác rộng sẽ không sâu, ngược lại chỉ đi sâu một số
nội dung trọng tâm sẽ dễ phá vỡ tính chỉnh thể của TP và dễ trượt ra khỏi ý đồ nghệ thuật của
nhà văn.
Về phía GV và HS: Tiếp nhận cái mới mà lại là cái mới trong nghệ thuật là cả một
vấn đề nan giải, vì thế GV không thật sự chú tâm và cẩn thận thì dễ dẫn HS đi đến những dị
ứng hoặc phản tiếp nhận.
Từ những khó khăn và thuận lợi trên, chúng tôi thấy, tiếp cận thi pháp học trong giảng
dạy truyện ngắn CTNX có những ưu điểm sau:
- Đây là hướng dạy học phù hợp với đòi hỏi về năng lực con người trong thời điểm hiện
nay và yêu cầu đào tạo của nhà trường hiện đại.
- Phù hợp với yêu cầu của ngành giáo dục và đào tạo trong thời điểm hiện tại cũng như
mai sau: đó là công cuộc đổi mới PPDH, đưa đất nước mau chóng hội nhập với khu vực và
quốc tế.
- GV và HS phải làm việc thực sự, phải hoạt động triệt để trong giờ học.
soạn của HS; phiếu điều tra.
* Thời gian, địa điểm, cách thức khảo nghiệm. Chúng tôi tiến hành khảo nghiệm
trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2010 tại trường THPT Ngô Quyền trên địa bàn
thành phố Nam Định. Dự giờ kết hợp nghiên cứu tài liệu, chúng tôi tiến hành so sánh SGK,
SGV, bài soạn, vở ghi với lượng kiến thức cơ bản cần truyền đạt theo Chuẩn kiến thức Ngữ
văn, sau đó lấy ý kiến của GV và HS rồi đưa ra nhận xét khái quát.
* Phân tích kết quả khảo nghiệm.
Qua việc điều tra, khảo nghiệm về tình hình dạy học truyện ngắn CTNX của Nguyễn
Minh Châu trên các đối tượng GV trực tiếp đứng lớp, HS, cùng những tài liệu có liên quan,
chúng tôi nhận thấy rằng: việc dạy và học của GV và HS hiện nay là chưa thỏa đáng. Để dẫn
đến tình trạng này có lẽ do các nguyên nhân cơ bản sau đây:
- Tư liệu dạy học truyện ngắn CTNX còn chưa chú trọng đến những kiến thức về thi
pháp loại thể, thi pháp tác giả.
- Mặc dù được đào tạo cơ bản, có hệ thống trong các trường sư phạm nhưng đứng trước
một yêu cầu mới - dạy học văn xuôi sau 1975 - GV không phải là không có những khó khăn
(định hướng bài soạn bị ảnh hưởng bởi tâm lý thói quen dạy cũ; GV chưa chú ý đúng mức
đến những cá tính sáng tạo của nhà văn; giờ dạy còn đơn điệu, xa cách với nhận thức thẩm
mỹ của HS, GV chưa có các biện pháp thích hợp với đặc trựng loại thể của TP, chưa sử dụng
linh hoạt các phương pháp dạy học trong một giờ giảng; ngay ở khâu đọc- hiểu, GV cũng
chưa nhận thức đúng vai trò của thao tác quan trọng này).
- Về phía HS có rất nhiều nguyên nhân để lý giải cho tình trạng HS ngày càng sao
nhãng, hờ hững với môn văn trong đó phải kể đến nguyên nhân HS ngày nay đang bị cuốn
hút vào các trò chơi như hoạt hình, điện tử, truyện tranh…Các em chưa xác định được đúng
đắn, nghiêm túc về tầm quan trọng của môn học này, đặc biệt ở các khối lớp tự nhiên. Đó
chính là những rào cản khiến các em không tập trung học.
Từ thực tế dạy - học TP CTNX chúng tôi nhận thấy trách nhiệm và công việc của người
GV vẫn còn khá nặng nề. Để góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy - học văn, chúng tôi đưa
ra những giải pháp thiết thực, thích hợp, để dạy truyện ngắn CTNX theo hướng mới - từ
hướng tiếp cận thi pháp.
2.2. Đề xuất biện pháp vận dụng Thi pháp học trong việc giảng dạy tác phẩm Nguyễn
Đây là hoạt động quan trọng nhất bởi nhờ có nó người đọc mới có thể nhập thân vào TP. Giải
quyết tốt việc này, HS sẽ có năng lực đọc, hứng thú đọc và khả năng tự đọc và tự học suốt
đời. Các bước: B1: Đọc hiểu phần cấu trúc ngôn ngữ của TP. B2: Đọc hiểu tầng cấu trúc hình
tượng thẩm mỹ cuả TP. B3: Đọc hiểu tầng cấu trúc tư tưỏng thẩm mỹ của TP. Có các kiểu
đọc sau: đọc kỹ, đọc sâu, đọc có định hướng mục đích, đọc có sáng tạo - đọc có bổ sung.
Với CTNX, HS phải tìm đọc toàn bộ TP vì đây là một truyện ngắn. Đọc trôi chảy, có sự
diễn cảm. Cần đọc kĩ TP, đọc nhiều lần để nắm được cốt truyện, bước đầu nắm được vấn đề
cuộc sống mà nhà văn đặt ra trong TP thông qua đề tài, chủ đề tư tưởng. Riêng với HS giỏi:
nâng cao hơn là đọc sáng tạo, bổ sung để nhận ra diện mạo dung lượng cuộc sống trong bố
cục, kết cấu TP rồi từ đó phát hiện ra hướng đích tư tưởng trong TP hay viễn cảnh mà nhà
văn muốn dẫn người đọc đi tới. Tri thức khi đọc TP mà HS cần phải nắm được: xác định
được đề tài của TP, xác định được nhân vật chính của truyện, xác định và bước đầu hiểu được
ý nghĩa của những câu văn, đoạn văn tiêu biểu đặc sắc dồn nén thông tin, xác định được
giọng điệu đọc cho khác nhau ở mỗi phần truyện, nhận biết được tình cảm, thái độ, quan
niệm nghệ thuật về con người của nhà văn thể hiện qua bức tranh đời sống trong TP, tthấy
được ý nghĩa luận đề của nó qua phần mở và kết thúc TP.
2.3.2. Sử dụng linh hoạt các dạng câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của HS
Câu hỏi GV đặt ra cho HS phải gây được hứng thú, định hướng cho các em chú ý vào
TP đồng thời đặt ra vấn đề khoa học đòi hỏi các em phải suy nghĩ tìm tòi tự học, phân tích
giải thích và lí giải TP trên cơ sở hiểu biết của bản thân. Trong một giờ dạy học TPVC, GV
nên sử dụng nhiều dạng câu hỏi (câu hỏi tái hiện, câu hỏi gợi mở, câu hỏi phát hiện, câu hỏi
nêu vấn đề…) để kích thích sự sáng tạo của HS và tạo ra một bầu không khí học tập tốt. Hệ
thống câu hỏi này được chúng tôi trình bày cụ thể trong giáo án phần thực nghiệm. Ở đây
chúng tôi xin đề cập đến sâu hơn phần câu hỏi hướng dẫn HS chuẩn bị bài bởi nó có ý nghĩa
rất lớn đến kết quả của giờ học trên lớp. Nội dung công việc chuẩn bị bài ở nhà của HS rất đa
dạng phong phú. Có thể tập đọc tìm hiểu điển cố, từ khó, suy nghĩ về một chi tiết nghệ thuật,
một ý kiến cụ thể có liên quan đến việc tiếp nhận TP … nhưng cơ bản chủ yếu vẫn khơi dậy
hứng thú của HS đối với TP và định hướng HS vào những vấn đề trung tâm của TP mà GV sẽ
cùng HS đi sâu phát hiện, khám phá, đánh giá trên lớp. Muốn khâu chuẩn bị bài ở nhà của HS
được tốt, GV phải có hệ thống câu hỏi tỉ mỉ, công phu để hướng dẫn các em.
nhân vật “tôi”, hình tượng nhân vật người đàn bà).
2.3.6. Khơi gợi để học sinh bình giá
Bình giá văn học là hoạt động cuối cùng, quan trọng nhất trong quá trình tiếp nhận, lĩnh
hội TPVC. Bình giá TPVC gồm các bước: Bước 1: Phát hiện ra cái mới, cái độc đáo riêng
không TP nào có của TP cần bình giá. Bước 2: Phát hiện ra cái hay, cái đẹp của TP để bình
giá. Yêu cầu của bình giá: Lời bình phải tương xứng với đối tượng, mang tầm của đối tượng,
bắt chước được nhịp chảy của mạch văn. Lời bình phải trúng, đúng cái hay trong sáng tác
nghệ thuật. Lời bình phải có cảm xúc.
Từ quan niệm về bình giá ở trên, chúng tôi hướng dẫn HS bình giá truyện ngắn CTNX
trên những bình diện sau: Bình giá cái mới của TP (chính là sự đổi mới trong quan niệm nghệ
thuật của Nguyễn Minh Châu, trước hết là sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con
người qua việc đề cập đến hiện thực cuộc sống của một gia đình ngư dân với những số phận
không bình lặng); bình giá cái hay cái đẹp của TP (bình cái hay, cái đẹp của đề tài, cốt
truyện; bình cái hay, cái đẹp của nhan đề, của những biểu tượng nghệ thuật có sự ám ảnh;
bình cái hay, cái đẹp trong nghệ thuật xây dựng nhân vật; bình giá cái hay cái đẹp của ngôn
ngữ kể chuyện).
2.3.7. Tạo tình huống học tập đối thoại từ mở đầu đến kết thúc giờ dạy
Đây là một biện pháp có ý nghĩa đào tạo và giáo dục rất lớn vì trong tình huống học tập
đối thoại HS không thể học tập theo cách cũ là chỉ cần vận dụng kiến thức của những bài
nghiên cứu của GV mà nó bắt buộc HS học một cách sáng tạo tự chủ . Các hình thức tổ chức,
xây dựng tình huống học tập đối thoại: Hình thức 1: GV định hướng thông qua hệ thống câu
hỏi. Hình thức 2: Xây dựng tình huống học tập trong nhóm. Hình thức 3: tiến hành cho HS
đóng vai tác giả để trao đổi với bạn đọc - HS khác về một số vấn đề xoay quanh nghệ thuật
truyện.
Tóm lại, TPVC là một đề án tiếp nhận, một kết cấu vẫy gọi, một chỉnh thể nghệ thuật
mở… nên không chỉ có một cách hiểu. Để chiếm lĩnh một TP- thế giới nghệ thuật lung linh kì
ảo có hàng nghìn con đường. Khi giảng dạy TPVC nói chung và CTNX nói riêng mỗi GV đều
có quyền lựa chọn và sử dụng linh hoạt mọi phương pháp, biện pháp, cách thức theo đối
tượng HS, sở trường của mình miễn là đến được cái đích cuối cùng: thực hiện tốt mục đích
yêu cầu của bài học.
Chưa đạt
Đạt
Chưa đạt
Đạt
Chưa đạt
Đạt
Chưa đạt
12C47
40
≈
85,1%
7
≈
14,9%
43
≈
91,5%
4
≈
8,5%
35
≈
75,5%
12
≈
24,5%
35
9
≈
18,0%
3.2.6. Đánh giá
Sau khi dạy thực nghiệm, kiểm tra kết quả học tập của HS, chúng tôi sơ bộ có những
đánh giá như sau: Lí thuyết và thực tế luôn có một khoảng cách đáng kể nhưng không phải là
không thể vượt qua. Việc giảng dạy TPVC từ hướng tiếp cận thi pháp là phù hợp với yêu cầu
của xã hội và nhiệm vụ giáo dục của đất nước. Tuy nhiên cũng cần khắc phục một số hạn chế
nhỏ, nhất là vấn đề thời lượng của tiết dạy. Hi vọng với việc phát huy những thế mạnh, khắc
phục, hạn chế những nhược điểm, rút kinh nghiệm sâu sắc để những lần thực nghiệm sau sẽ
thu được những kết quả cao hơn. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Giảng dạy TPVC từ hướng tiếp cận thi pháp đã và đang là một vấn đề thu hút sự quan
tâm chú ý của không chỉ các nhà nghiên cứu phương pháp mà còn của tất cả các GV đứng
lớp hiện nay. Để có thể tiếp nhận và chiếm lĩnh giá trị của TP một cách đúng hướng, khoa
học đòi hỏi chúng ta phải có một số hiểu biết nhất định về đặc điểm của mỗi loại, thể; “tạng
nghệ sĩ” của nhà văn. Đặc biệt, “Giảng dạy TPVH theo loại thể chính là một phương diện lớn
của việc giảng dạy TPVH trong sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, một sự giảng dạy
đi đúng hướng với quy luật và bản chất văn học, đồng thời bảo đảm hiệu quả giáo dục cao
nhất” {14,44}.Vấn đề loại thể văn học trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông đặt ra
không những như một vấn đề tri thức mà chủ yếu còn như một vấn đề phương pháp. Kiểu
dạy học này góp phần làm thay đổi lối tư duy mòn sáo, công thức, do kiểu dạy học giáo điều
trước đây để lại, đồng thời góp phần chống và loại bỏ dần dần lối dạy học đọc- chép trước
đây, để thay vào đó kiểu dạy học phát triển tối đa khả năng tư duy, tính năng động, trí thông
minh và óc sáng tạo của HS. Đây là kiểu dạy học đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu của Bộ
GD-ĐT, của xã hội và của nhân dân với những trường phổ thông nói chung, với môn văn nói
văn nghệ số 9/1990.
7. Phạm Văn Đồng, Dạy văn là một quá trình toàn diện, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, 1973.
8. Nguyến Minh Châu, Nam Cao, Báo văn nghệ số ra ngày 28/7/1987.
9. Nguyễn Viết Chữ, Phương pháp dạy học TPVC theo loại thể, NXB Đại Học Quốc Gia, H, 2001.
10. Trần Thanh Đạm, Vấn đề giảng dạy TPVH theo loại, NXB Giáo dục, H, 1976.
11. Hà Minh Đức (Chủ biên), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, H, 1993.
12. Mai Hương (tuyển chọn, biên soạn), Nguyễn Minh Châu tài năng và sáng tạo nghệ thuật,
NXB Văn hoá - Thông tin, H, 2001.
13. Mai Hương, Nhìn lại văn xuôi 1992, Tạp chí văn học số 3/1993.
14. Nguyễn Thị Lan Hương, Định hướng dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của
Nguyễn Minh Châu, Luận văn thạc sỹ Đại Học Sư Phạm 1, H, 2004.
15. Nguyễn Thị Thanh Hương, Phương pháp tiếp nhận TPVH ở trường PTTH, NXB Giáo
dục, H, 1998.
16. Ngô Thị Thu Hà, Luận văn thạc sỹ, Đại Học Sư Phạm 1, H, 2003.
17. Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con
người, Tạp chí văn học số 3.1993.
18. Nguyễn Thị Thanh Hương, Dạy học văn ở trường phổ thông, NXB Đại Học Quốc Gia, H,
2001.
19. Phan Hồng Hiệp. Luận văn thạc sỹ, Đại Học Sư Phạm 1, H, 2003.
20. Nguyễn Thanh Hùng, Văn học tầm nhìn biến đổi, NXB văn học, H, 1996.
21. Nguyễn Thanh Hùng, Hiểu văn dạy văn, NXB Giáo dục, H, 2001.
22. Nguyễn Thanh Hùng, Đọc và tiếp nhận văn chương, NXB Giáo dục, H, 2001.
23. Nguyễn Trọng Hoàn (giới thiệu và tuyển chọn), Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác
phẩm, NXB Giáo Dục, H, 2004.
24. Nguyễn Thái Hoà, Những vấn đế thi pháp của truyện, NXB Giáo dục, H, 2001.
25. Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới phê bình văn học, NXB khoa học xã hội, H, 1993.
26. Nguyễn Khải, Văn xuôi trước yêu cầu của cuộc sống, Tạp chí Văn nghệ quân đội số
1/1984.
27. Tôn Phương Lan (sưu tầm, giới thiệu), Nguyễn Minh Châu -Trang giấy trước đèn, NXB
Khoa học xã hội, 1994.
48. Bùi Việt Thắng, Kỷ yếu hội thảo 5 năm ngày mất Nguyễn Minh Châu, Hội văn nghệ Nghệ
An, 1995.
49. Trịnh Thu Tuyết, Nguyễn Minh Châu tài năng và tấm lòng, Tạp chí Văn nghệ quân đội số
1/1999.
50. Trần Khánh Thành, Tập bài giảng về thi pháp học cho học viên cao học, Đại Học Quốc
Gia, H, 2010.
51. Ngô Thảo, Đời người, đời văn, NXB Hội nhà văn, H, 2002.
52. Ngọc Trai, Sự khám phá về con người Việ Nam qua truyện ngắn, Tạp chí Văn nghệ quân
đội số 10/1987.
53. Nhiều tác giả, Từ điển văn học tập 1 – NXB Khoa học xã hội, H, 1983.
54. Nhiều tác giả, Từ điển văn học tập 2 – NXB Khoa học xã hội, H, 1984.
55. Nghệ thuật viết truyện ký, NXB Thanh niên, H, 2000.
56. Nguyễn Tri Nguyên, Những đổi mới về thi pháp trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
sau năm 1975 trong cuốn Năm mươi năm Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng tám, NXB
Đaị Học Quốc Gia, H, 1996.
57. Trần Thị Dư Khánh, Phân tích TPVC từ góc độ thi pháp, NXB Giáo dục, H, 1995
58. Giáo trình triết học Mác – Lê nin, NXB Chính trị quốc gia, H, 2005.
59. Ngữ văn 12– Ban Cơ Bản và Nâng Cao (Trần Đình Sử tổng chủ biên), NXB Giáo dục, H,
2006.
60. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Giáo trình tâm lí học đại cương, NXB Đại Học Sư Phạm,
H, 2006.
Các trang Web
61. trang web Dạy và học tích cực của dự án Việt – Bỉ nâng cao chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiểu học và THCS.
62. trang web của chương trình Partners in Learning Phát huy tiềm năng
sáng tạo của Microsoft Việt Nam và Trung tâm Công nghệ thông tin – Bộ Giáo dục và
Đào tạo.