Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hướng
dẫn học sinh đọc hiểu thơ Xuân Quỳnh trong
chương trình Trung học phổ thông
Trần Thị Minh Thanh
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận và phương pháp dạy học; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS. TS Đỗ Việt Hùng
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Trình bày cơ sở lý luận về khái niệm tín hiệu (tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ,
tín hiệu thẩm mỹ, tín hiệu thẩm mỹ trong ngữ cảnh tu từ cụ thể); nguồn ngốc, tính
chất, chức năng của tín hiệu thẩm mỹ. Khảo sát và định hướng khai thác giá trị thẩm
mỹ thơ Xuân Quỳnh trong chương trình trung học phổ thông qua bài Sóng: quan điểm
vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ vào việc khảo sát và định hướng khai thác giá trị
thẩm mỹ trong bài học; khảo sát và định hướng phát hiện tín hiệu thẩm mỹ ở bài thơ
Sóng; khảo sát và định hướng khai thác phương thức cấu tạo tín hiệu thẩm mỹ và giá
trị của nó trong bài Sóng, khảo sát và định hướng khai thác tính chất của tín hiệu thẩm
mỹ trong bài Sóng; khảo sát và định hướng khai thác chức năng của tín hiệu thẩm mỹ
trong bài thơ Sóng. Đề xuất phương pháp, thiết kế giáo án thực nghiệm.
Keywords: Tín hiệu ngôn ngữ; Phương pháp giảng dạy; Thơ; Trung học phổ thông;
Môn ngữ văn; Tín hiệu thẩm mỹ; Ngôn ngữ văn học
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với tư cách là một phương tiện đặc thù nhằm truyền tải những thông tin thẩm mỹ, ngôn
ngữ trong tác phẩm văn chương vừa được sử dụng như những tín hiệu thẩm mỹ, vừa là cái
biểu đạt cho các tín hiệu thẩm mỹ. Đến lượt mình, tác phẩm văn chương cũng chính là tín
Nguyễn Văn Dân, Mai Ngọc Chừ đều thống nhất quan điểm cho rằng: ngôn ngữ trong tác
phẩm văn học là một chỉnh thể thẩm mỹ được cấu tạo lại từ ngôn ngữ chung. Nó được coi
là hệ thống tín hiệu thứ hai, hệ thống hàm nghĩa (biểu nghĩa gián tiếp).
Xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn học, GS Đỗ Hữu Châu trong bài Ngôn ngữ là
một hệ thống tín hiệu cho rằng: tín hiệu thẩm mỹ là “tất cả các yếu tố hiện thực được đưa vào
trong tác phẩm văn học, kể cả những yếu tố hiện thực được xây dựng lại trong tác phẩm khi
nó mang một ý nghĩa khái quát nào đó”. Trong công trình Phân tích Phong cách ngôn ngữ
trong tác phẩm văn học (Ngôn từ - Tác giả - Hình tượng), hai tác giả Đỗ Việt Hùng và
Nguyễn Thị Ngân Hoa đã có cái nhìn bao quát, hệ thống sâu về tín hiệu thẩm mỹ. Xuất phát
từ những vấn đề chung về tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật, các tác giả đã
nghiên cứu sâu về : nguồn gốc, phương thức cấu tạo, tính chất, đặc trưng và các biến thể của
tín hiệu thẩm mỹ.
Các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học xét thấy ngôn ngữ không chỉ tồn tại như một hệ
thống cấu trúc mà còn là một hệ thống hành chức đã phát hiện ra sự khác biệt giữa ý và nghĩa.
Sự phát hiện ấy cho phép các tác giả khám phá ra cấu trúc ngữ nghĩa của lời, từ đó tiến tới tìm
hiểu những suy ý, hàm ý đằng sau lớp nghĩa hiển ngôn.
2.1.3.Từ góc độ Phương pháp giảng dạy Văn
Trong công trình Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường THPT, tác giả Phan
Trọng Luận chú ý người dạy phải bám sát vào các yếu tố giàu giá trị thẩm mỹ như “ các ký
hiệu thẩm mỹ”, “ những hình thức có tính nội dung”.
3
Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong Phương pháp giảng dạy tác phẩm văn chương trong
nhà trường cho rằng tác phẩm văn chương là một cấu trúc nhiều tầng nghĩa. Theo đó, hướng
dẫn học sinh đọc hiểu văn bản văn chương phải chú ý không chỉ đọc “theo dòng”, “trên
dòng”, “trong dòng” mà còn phải đọc “giữa dòng”.
Còn muốn “khắc phục phương pháp suy diễn giản đơn dễ dãi” trong bộ môn giảng văn,
theo GS Trần Đình Sử trong cuốn Đọc văn – học văn, phải chú ý “khám phá cái mã văn hóa
đa dạng đằng sau những hình tượng nghệ thuật”.
2.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu thuộc đề tài hẹp của luận văn
- Phương pháp đối chiếu
4
5. Mẫu khảo sát
Học sinh lớp 12 trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu tín hiệu và tín hiệu thẩm mỹ
- Khảo sát tín hiệu thẩm mỹ và định hướng khai thác giá trị thẩm mỹ trong bài Sóng
- Đề xuất phương pháp, thiết kế giáo án thực nghiệm
- Phân tích kết quả và rút ra kết luận.
7. Vấn đề nghiên cứu
Tín hiệu thẩm mỹ là gì? Tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Xuân Quỳnh ở THPT (bài Sóng ) và
vận dụng nó vào việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ như thế nào?
8. Gỉa thuyết khoa học
Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ vào việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ Sóng là
một hướng tiếp cận có hiệu quả.
9. Đóng góp mới của luận văn
Đưa ra một hướng tiếp cận mới, có hiệu quả mới đối với việc giảng dạy bài thơ “Sóng”
trong chương trình Ngữ văn 12.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính
của luận văn được cấu trúc thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tế
Chương 2: Khảo sát và định hướng khai thác giá trị thẩm mỹ thơ Xuân Quỳnh trong
chương trình Trung học phổ thông qua bài Sóng
Chương 3: Đề xuất phương pháp, thiết kế giáo án thực nghiệm
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ
1.1. Cơ sở lý luận
dung của mỗi tín hiệu ngôn ngữ, ngoài phần hiện thực khách quan, còn có thể gợi ra những
tình cảm, cảm xúc, thái độ, cách đánh giá…đối với sự vật hiện tượng được nói tới (nghĩa biểu
cảm, biểu thái).
Tín hiệu ngôn ngữ có tính hình tuyến, tức là các đơn vị ngôn ngữ bị giới hạn trong một
trật tự thời gian.
1.1.1.3. Tín hiệu thẩm mỹ
* Khái niệm
Tín hiệu thẩm mỹ là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành
nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết,
nhưng sự việc, hiện tượng, những cảm xúc…thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng),
những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn học; các yếu tố của
chất liệu màu sắc với hôi họa; âm thanh, nhịp điệu, tiết tấu với âm nhạc….) được lựa chọn
và sáng tạo trong các tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mỹ.
* Nguồn gốc
Trong thực tế khách quan, mọi sự vật, đối tượng, thực thể đều trở thành tín hiệu nếu hình
thức biểu hiện của nó chứa đựng một nội dung thông tin nhất định. Những tín hiệu này có
nguồn gốc từ hiện thực, từ mẫu gốc của một nền văn hóa. Người ta gọi đó là nguồn gốc tự
nhiên.
Một tín hiệu thẩm mỹ của một nền văn hóa có thể chuyển hóa vào nhiều ngành nghệ
thuật khác nhau qua chất liệu đặc thù của ngành đó. Người ta gọi, đó là tính đẳng cấu của tín
hiệu thẩm mỹ trong các ngành nghệ thuật.
6
Mặt khác, trong quá trình phát triển của các ngành nghệ thuật, do sự giao lưu tiếp xúc
văn hóa, các tín hiệu thẩm mỹ của một nền văn hóa này có thể gia nhập vào một nền văn hóa
khác. Đó là các tín hiệu thứ cấp, phái sinh, tín hiệu nhân tạo.
* Các đơn vị tín hiệu thẩm mỹ
Tín hiệu đơn (tín hiệu cơ sở) là loại tín hiệu tương đương với loại đơn vị hai mặt nhỏ
nhất của ngôn ngữ.
Tín hiệu phức (tín hiệu xây dựng) là loại tín hiệu tương đương với kết cấu ngôn ngữ có
hóa nhân loại.
7
Mỗi tín hiệu thẩm mỹ không phải là cái nhất thành bất biến, nó có tính khả biến. Đó là sự
biến đổi trong mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, sự biến đổi của nó khi được cắt
chiết từ nền văn hóa này sang bứng trồng ở nền văn hóa khác, trong nhiều những thời điểm khác
nhau. Đó là tính lịch sử của tín hiệu thẩm mỹ.
- Tính phi vật thể, phi trực quan
Xuất phát từ những sự vật cụ thể nhưng biểu tượng không phải là bản thân sự vật mà
phải là ý nghĩa gợi ra từ sự vật ấy. Do đó, tín hiệu thẩm mỹ và giá trị thẩm mỹ của nó không
phải là cái tri giác cụ thể và trực tiếp. Tính phi vật thể, phi trực quan của nó đòi hỏi người
tiếp nhận phải có năng lực liên tưởng, tư duy hình tượng và vốn sống, vốn văn hóa.
- Tính hình tuyến
Là đặc điểm mà theo đó, các yếu tố ngôn từ, kéo theo đó là các kiểu cấu trúc sự kiện,
thời gian, không gian qua ngôn từ phải theo một trật tự tuyến tính nhất định. Đây vừa là mặt
mạnh vừa là điểm yếu của ngôn ngữ nghệ thuật.
* Chức năng của tín hiệu thẩm mỹ
- Chức năng biểu hiện
Đối tượng mà tác phẩm văn học biểu hiện không phải là đối tượng mang tính khách
quan mà là đối tượng đã được chủ quan hóa, tinh thần hóa ở các mức độ khác nhau. Cho nên,
cái cốt yếu mà ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện không phải là đặc điểm, thuộc tính, trạng thái
của đời sống mà là toàn bộ thế giới cảm xúc và tri nhận về đời sống ấy của một chủ thể nhất
định, tức là cái cần phải có chứ không phải cái đang có.
- Chức năng tác động
Nghệ thuật luôn tác động đến cảm xúc con người, nhưng đó là những trạng thái cảm
xúc có khả năng thanh lọc những cảm xúc thông thường thành những giá trị tinh thần cần
phải có, xứng đáng được hiển lộ trong thế giới tâm hồn của con người. Đó là những tác động
nhằm hướng vào hệ thống cảm xúc của người đọc tạo nên những thái độ mới, hành vi mới
phù hợp với quan điểm thẩm mỹ mà người viết muốn chuyển đến cho người đọc thông qua
tín hiệu thẩm mỹ.
1.1.2.3. Khả năng nhận thức thẩm mỹ
HS THPT có khả năng nhận thức thẩm mỹ, tức là có những năng lực trí tuệ, tâm hồn,
tâm lý để nhận thức được vẻ đẹp trong tác phẩm nghệ thuật. Theo đó, tư duy ngôn ngữ, tư
duy hình tượng, tư duy đối thoại, tư duy phê phán, tư duy hệ thống cũng phát triển.
1.1.3. Cơ sở Phương pháp Dạy Văn
Trên tinh thần tiếp thu những thành tựu mới của bộ môn Lý thuyết thông tin, Lý
thuyết tiếp nhận, Thi pháp học, Ngôn ngữ học và cả Tâm lý học đã lưu ý người dạy về
bản chất môn Văn cũng như phương pháp dạy Văn. Với quan niêm, văn học là “trò diễn
bằng ngôn từ” (Robert Frest) dạy Văn là “mở nếp gấp” tác phẩm nên đọc hiểu văn bản văn
học phải chú ý cấp độ: đọc trên dòng, đọc trong dòng và đọc giữa dòng.
Tiếp thu những thành tựu của ngành Tâm lý học dạy học, các nhà khoa học phương
pháp chỉ ra rằng: dạy học phải chú ý đến “vùng phát triển gần nhất” (Vưgotxki) hoặc “tầm
đón nhận” của người tiếp nhận. Mục đích của dạy học, do đó, không phải chỉ là truyền thụ
kiến thức mà chủ yếu làm thay đổi hoặc phát triển các quan niệm của người học, qua đó,
người học kiến tạo kiến thức mới đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách cá nhân.
1.2. Cơ sở thực tế
1.2.1. Thực tế chương trình
Chương trình Ngữ Văn hiện nay có đổi mới
Tính tích hợp trước hết giúp cho cái nhìn về văn bản văn chương phong phú hơn khi nó
được đặt trong nhiều mối quan hê mang tính liên ngành. Sau nữa, nó mang đến cho việc khai
thác tác phẩm văn chương tính chất mở và động.
Tính đồng tâm giúp cho học sinh khắc sâu những đơn vị kiến thức cơ bản, rèn kỹ năng tư
duy hệ thống cũng như có thể rút ra những vấn đề kỹ năng, phương pháp nếu được hướng dẫn
9
chu đáo. Những đổi mới về chương trình là những tiền đề quan trọng cho phép chúng tôi lấy
đó làm cơ sở đề xuất một hướng tiếp cận đối với bài Sóng.
1.2.2. Thực tế đối tượng
Học sinh lớp 12, như đã phân tích về mặt tâm lý học ở chương cơ sở lý luận, với những
rung động thẩm mỹ, nhu cầu thẩm mỹ, khả năng nhận thức thẩm mỹ đặc trưng lứa tuổi, chúng
trong điều kiện về thời gian, phạm vi mức độ cần đạt, đơn vị bài học, đặc điểm đối tượng
….của việc giảng dạy, chúng tôi chỉ xin vận dụng một số phần của lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ
và vận dụng ở mức độ nhất định, phù hợp với điều kiện nêu trên của chúng tôi, đó là:
- Các đơn vị tín hiệu thẩm mỹ
10
- Phương thức cấu tạo tín hiệu thẩm mỹ
- Tính chất của tín hiệu thẩm mỹ
- Chức năng của tín hiệu thẩm mỹ
2.2. Khảo sát và định hƣớng phát hiện tín hiệu thẩm mỹ ở bài thơ Sóng
2.2.1. Khảo sát
Bài thơ của Xuân Quỳnh cũng có từ “sóng”, “con sóng” trở đi trở lại trên hầu khắp câu
thơ, khổ thơ (11 lần). Cá biệt có khổ thơ bốn câu thì có tới ba câu chứa “sóng” “Con sóng
dưới lòng sâu/ Con sóng trên mặt nước/ Ôi con sóng nhớ bờ/Ngày đêm không ngủ được”. Đó
là chưa kể đến những câu thơ có những yếu tố ngôn từ không trực tiếp gọi tên nhưng cũng gợi
cho ta về sóng “Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ”; “Dẫu xuôi về phương bắc/Dẫu ngược về
phương nam”; “Con nào chẳng tới bờ/Dù muôn vời cách trở”; “Giữa biển lớn tình yêu/ Để
ngàn năm còn vỗ”. Sự hiện diện với tần số cao như thế của yếu tố ngôn từ đó chính là một
phương tiện để giúp nhà thơ xây dựng hình tượng sóng. Ở đây có thể hiểu những yếu tố ngôn
từ riêng lẻ kia là tín hiệu đơn (tín hiệu cơ sở) cùng nhau để tạo nên tín hiệu phức (tín hiệu xây
dựng). Hình tượng sóng là tín hiệu thẩm mỹ phức, bao trùm và thống ngự toàn thi phẩm, kết
tinh tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ.
2.2.2. Định hướng
Từ sự khảo sát nêu trên, chúng tôi định hướng cho học sinh phát hiện tín hiệu nghệ
thuật này bằng cách hướng dẫn các em tìm hiểu về sự xuất hiện của từ “sóng, con sóng” (có
thể dùng thao tác thống kê). Sau đó, cho các em tìm ra ý nghĩa của sự xuất hiện đó. Khi học
sinh đã nêu được hình tượng sóng, chúng tôi giúp các em nhận thức được, “sóng” chính là
một tín hiệu thẩm mỹ trong bài thơ này. Việc định hướng này bước đầu giúp cho học sinh
thấy được tính chỉnh thể, sự thống nhất của các yếu tố ngôn từ trong một văn bản văn chương,
bước đầu đánh động tư duy hệ thống.
thơ ca trước đó. Và đó là sáng tạo mới mẻ của nhà thơ khi viết về một hình tượng đã quen,
một đề tài đã cũ.
2.4.1.2. Định hướng
Việc định hướng khai thác phần này bắt đầu từ sự khơi gợi của chúng tôi, cụ thể như
sau: Thơ ca viết về tình yêu lứa đôi có xu hướng mượn những hình ảnh ngoại giới như trăng,
sao, mây, gió, núi non, biển cả, con thuyền, bến nước, cây đa, sông suối (có thể minh họa
nhanh bằng một vài dẫn chứng)….mà biểu đạt tâm tình. Vì sao Xuân Quỳnh lại chọn sóng để
trao gửi tâm hồn chị? Bằng cách đó, chúng tôi hi vọng sẽ dễ đưa học sinh thâm nhập vào ý
nghĩa hình tượng, cắt nghĩa được mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu thẩm mỹ, điều đó
cũng có nghĩa là hiểu được nguyên tắc xây dựng hình tượng nghệ thuật trong thơ đồng thời
rèn cho học sinh kỹ năng, tư duy phân tích, tổng hợp.
2.4.2. Tính nhân loại, lịch sử, dân tộc
2.4.2.1. Khảo sát
Nước – cội nguồn của sóng là một siêu mẫu trong văn hóa nhân loại. Sóng có thể coi là
sự phối sinh của nước, sông và biển, do đó đã xuất hiện sớm trong văn hóa và văn học thế
giới cũng như Việt Nam, từ thần thoại, truyền thuyết, ca dao, thơ trung đại, thơ hiện đại. Như
vậy, sóng chẳng những có tính nhân loại, tính dân tộc mà còn có tính lịch sử của nó. Tính lịch
sử ở đây được hiểu như sự hình thành của nó trong dòng chảy thời gian, thời đại, văn hóa
cũng như sự biến đổi của nó trong biến thể (nó có thể tiêu biến hoặc gia tăng thêm một số yếu
tố nội dung nào đó) cũng như sự biến đổi của nó trong sự cảm nhận và biểu đạt riêng của từng
nghệ sĩ. Soi vào đó, có thể thấy, đến thơ Xuân Quỳnh, biểu tượng sóng có nhiều nét mới. Do
đặc tính của nó, trước Xuân Quỳnh thường biểu tượng cho người con trai, Xuân Quỳnh lại
mượn sóng để nói trái tim và tâm hồn người con gái. Sóng trong thơ trước Xuân Quỳnh
thường chỉ được khai thác duy nhất ở tính chất mạnh mẽ, ở trạng thái động của nó, đến thơ
Xuân Quỳnh, sóng mới được khai thác một cách phong phú đến thế. Qua đó, có thể thấy một
tâm hồn phong phú; một cái tôi trữ tình đầy mạnh mẽ, táo bạo. Những nét độc đáo này không
12
chỉ thể hiện khát vọng và nhu cầu bộc bạch mà còn là sự sáng tạo riêng mang giá trị thẩm mỹ
của chủ thể trữ tình đồng thời là yếu tố giúp cho sóng trở thành “bông hoa lạ” trong văn học
2.5.1.1.Khảo sát
Bài thơ của Xuân Quỳnh không phải biểu hiện hình ảnh sóng nước ngoài biển rộng sông
dài của ngoại giới. Những đặc điểm của con sóng tự nhiên ấy chỉ là phương thức để nhà thơ
biểu hiện những cảm xúc của trái tim và tâm hồn người con gái trong tình yêu đôi lứa (tâm
hồn phong phú, tính cách mạnh mẽ, tự thức tâm hồn, tính cách, tình yêu, suy tư trăn trở,
nhung nhớ vô biên, chung thủy sắt son, đinh ninh tin tưởng và khao khát không cùng). “Sóng”
còn biểu hiện một cuộc truy vấn bản thể, là tiếng nói của cái tôi cá nhân đích thực, khao khát
13
kiếm tìm bản thể và khẳng định phái tính. Mức độ khái quát hơn trong chức năng biểu hiện
của tín hiệu thẩm mỹ trong bài thơ chính là về bản thể của tình yêu, của người yêu trong tình
yêu đôi lứa, về mối quan hệ giữa người yêu và tình yêu (tình yêu làm cho con người trở nên
phong phú hơn, nhạy cảm hơn trong tâm hồn; mãnh liệt hơn trong khát vọng, tình yêu làm
cho con người trở nên người hơn trong những trạng thái mang đậm nhân tính ấy).
2.5.1.2. Định hướng
Từ việc khảo sát nêu trên, chúng tôi định hướng cho học sinh hiểu được chức năng biểu
hiện của tín hiệu thẩm mỹ qua câu hỏi phát vấn phân tích ý nghĩa hình tượng sóng. Đây là
phần trọng tâm bài học cũng như trọng tâm của việc vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ. Tuy
nhiên, ẩn dụ sóng là một ẩn dụ bao trùm toàn tác phẩm, khả năng biểu hiện của nó vô cùng
phong phú nên ở phần này, không thể chỉ có một định hướng chung chung như vậy, chúng tôi
phải đi vào những câu hỏi cụ thể cho từng nội dung, trong đó, chú ý mối liên hệ giữa các ngôn
từ, hình ảnh (tín hiệu cơ sở) và tính chỉnh thể hình tượng (tín hiệu xây dựng).
2.5.2. Chức năng tác động
2.5.2.1.Khảo sát
Cái mà sóng tác động đầu tiên là tâm hồn, tình cảm người tiếp nhận. Trước hết, một
cách tự nhiên, nó đưa người đọc nhập vào trong dòng tâm tư của nhân vật trữ tình (lúc dữ dội,
lúc dịu êm; khi suy tư trăn trở; khi bồi hồi nhung nhớ; lúc tin tưởng đinh ninh; khi lo âu xa
vắng; lúc khát khao mãnh liệt). Vưgotxki goi đó là sự “lây lan cảm xúc” mà cái làm “lây lan”
cảm xúc kia chính là tín hiệu thẩm mỹ. Sau nữa là niềm yêu mến sự chân thành, niềm xúc
động trước sự thủy chung, niềm ngưỡng mộ trước bản lĩnh, niềm rung cảm trước sự tin tưởng
riêng lẻ trong hệ thống mà trước hết là thể thơ, nhịp điệu và âm hưởng thơ.
Tính hệ thống của tín hiệu sóng còn thể hiện ở sự chi phối của nó đến sự xuất hiện của
biện pháp tu từ: nghệ thuật điệp ở nhiều cấp độ. Nghệ thuật đó cùng nhịp thơ, âm hưởng thơ
đã khiến cho giọng thơ sôi nổi, nồng nàn tha thiết – tiếng lòng của người trẻ tuổi.
Tính hệ thống của tín hiệu “sóng” còn thể hiện ở vai trò của nó đối với kết cấu hình
tượng. Sóng với tư cách là tín hiệu bao giờ cũng phải có tính hai mặt: mặt biểu hiện là sóng,
mặt được biểu hiện là thế giới tâm hồn của “em”. Bài thơ vì thế, có hai hình tượng, sóng và
em. Nếu trong thơ ca viết về sóng trước Xuân Quỳnh, sóng và nhân vật trữ tình thường tách
bạch thì đến Xuân Quỳnh, hai hình tượng đó có khi song hành, soi chiếu, có khi cộng hưởng
đồng vọng. Đó là một kết cấu mới lạ giúp nhà thơ biểu đạt cái tôi trữ tình vừa chân thành bộc
bạch vừa ý nhị, vừa truyền thống vừa mới mẻ.
Trong mối quan hệ với tác giả, tính hệ thống của tín hiệu thẩm mỹ còn thể hiện vai trò
của nó trong việc soi tỏ sắc diện riêng của thơ Xuân Quỳnh.
Trong mối quan hệ với yếu tố ngoài tác phẩm, tính hệ thống của tín hiệu thẩm mỹ sóng
còn thể hiện ở mối quan hệ của nó với thơ ca trước và cùng thời Xuân Quỳnh khi viết về tình
yêu đôi lứa. Trước Xuân Quỳnh, sóng với tư cách là tín hiệu thẩm mỹ chưa bao giờ là một ẩn
dụ phong phú như thế về tình yêu, về người yêu trong thơ tình yêu đôi lứa. Mặt khác, cùng
thời Xuân Quỳnh, thơ ca viết về tình yêu lứa đôi thường cũng là một phương diện để khẳng
định tình yêu quê hương, đất nước, tình cảm và trách nhiệm công dân. Sóng giúp Xuân
Quỳnh thể hiện một tình yêu lứa đôi thuần túy, một cái tôi cá nhân bản thể tự ý thức sâu sắc.
Nó cho thấy ý thức về cái tôi riêng tư bên cạnh cái ta cộng đồng, báo hiệu nhu cầu mở rộng
quan niệm nghệ thuật về con người mà văn học từ sau 1975 vẫn cho là một trong những vấn
đề quan thiết. Do đó, tín hiệu thẩm mỹ còn là một phương tiện thể hiện tiếng nói riêng, đóng
góp mới của Xuân Quỳnh với thơ ca đương thời.
2.5.3.2. Định hướng
Trước hết, trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc hiểu, chúng tôi luôn phải hướng các
em bám sát các yếu tố ngôn từ. Thao tác này giúp cho các em được rèn luyện để nhạy cảm
hơn về ngôn ngữ và tránh cho việc cảm thụ dễ dãi hời hợt, tránh việc phân tích thơ bị biến
thành diễn xuôi (thuật dựng, tái hiện) ý thơ – một căn bệnh rất hay gặp ở học sinh cấp dưới.
đọc hiểu bằng các phương pháp đã đề xuất: đọc diễn cảm, phát vấn bằng hệ thống câu hỏi,
làm việc nhóm.
3.3.2.4. Các bước lên lớp (ổn định tổ chức, kiểm tra bài cũ và việc chuẩn bị bài mới, dẫn dắt
vào bài mới)
Nội dung cần đạt
Hoạt động của GV và HS
Tiết 1
I. Tác giả
- Vị trí
- Phong cách
Hoạt động 1
GV hướng dẫn học sinh lưu ý những nét
quan trọng về:
16
- vị trí của Xuân Quỳnh trong thơ
kháng chiến chống Mỹ
- phong cách thơ Xuân Quỳnh
để phục vụ cho việc đọc hiểu bài thơ.
II. Tác phẩm
1. Đọc hiểu khái quát
- Xuất xứ
- Hoàn cảnh
- Chủ đề
Hoạt động 2
GV yêu cầu HS bám sát sách giáo khoa, nêu
xuất xứ, hoàn cảnh ra đời bài thơ.
GV có thể định hướng cho học sinh hiểu sâu
bài thơ hơn qua việc nêu vấn đề: Bài thơ ra
lịch sử và chức năng hệ thống của tín hiệu
thẩm mỹ)
- Xuân Quỳnh mượn sóng làm một tín hiệu
nghệ thuật để trao gửi lòng mình bởi lẽ, chị
bắt gặp sóng như gặp chính mình, đã tìm ra
trong hình ảnh sóng những âm vang của nhịp
đập trái tim mình.
- Tuy nhiên, mượn sóng ngoại giới để nói
sóng lòng, Xuân Quỳnh không phải là người
duy nhất. Chỉ có điều, sóng trong thơ ca trước
Hoạt động 4
GV hướng dẫn HS tìm hiểu hình tượng sóng
trong thơ ca tình yêu nói chung để từ đó phát
hiện ra nét mới mẻ của hình tượng sóng trong
thơ Xuân Quỳnh qua những định hướng cụ
thể sau
? Giữa bao nhiêu tín hiệu để biểu đạt tình
yêu, vì sao Xuân Quỳnh lại chọn sóng làm
một tín hiệu nghệ thuật để trao gửi lòng
mình?
? Mượn sóng ngoại giới để biểu hiện sóng
lòng, Xuân Quỳnh không phải là người đầu
17
Xuân Quỳnh, sóng thường biểu đạt cho hình
ảnh chàng trai. Vào thơ Xuân Quỳnh, sóng lại
là hình ảnh của trái tim và tâm hồn người con
gái. Mặt khác, trước Xuân Quỳnh, sóng
dường như mới chỉ được khai thác một đặc
có gì khác với thơ ca trước chị?)
? Với tư cách là một ẩn dụ lớn (một tín hiệu
thẩm mỹ bao trùm) toàn thi phẩm, em thấy
sóng chi phối như thế nào đến các yếu tố
trong hệ thống của chỉnh thể nghệ thuật? (GV
gợi: thể thơ? Nhịp điệu và âm hưởng, giọng
điệu thơ? Biện pháp tu từ nổi bật ?)
Tiết 2
c. Ý nghĩa cụ thể của hình tượng (tín hiệu
thẩm mỹ) sóng
(Chức năng biểu hiện, chức năng tác động
của tín hiệu thẩm mỹ)
- Sự tự thức của sóng về tâm hồn, tính cách
và quy luật tình yêu (K1,2)
- Suy tư về nguồn cội tình yêu (K, 4)
- Nỗi nhớ nhung thao thức (K 5)
- Sự thủy chung (K 6)
- Tin tưởng, đinh ninh ( K7, 8)
- Khát vọng (khổ 9)
- Tổng hợp:
+ Sóng biểu hiện trái tim và tâm hồn người
con gái trong tình yêu.
+ Hành trình của sóng trong tình yêu cũng là
hành trình một cuộc truy vấn bản thể, thể
hiện tiếng nói cá nhân đích thực, khát khao
tìm kiếm bản thể và khẳng định phái tính.
+ Sóng còn thể hiện những sáng tạo độc đáo
Hoạt động 5
Định hướng tìm hiểu ý nghĩa cụ thể của hình
chương.
thế nào trong nghệ thuật biểu hiện ?
? Cảm xúc của em khi đến với hình tượng
sóng ?
? Không chỉ mang đến xúc cảm, sóng còn cho
em nhận thức gì về tình yêu? Về đôi lứa trong
tình yêu và ý nghĩa của tình yêu với mỗi
người? Tất cả những khả năng và sức mạnh
nêu trên của tín hiệu sóng giúp em rút ra được
điều gì khi đọc hiểu một văn bản thơ ?
3. Hƣớng dẫn luyện tập và chuẩn bị bài
mới
a. Luyện tập
b. Chuẩn bị bài mới
Chuẩn bị bài “Đàn ghi ta của Lorca” của
Thanh Thảo. Vào mạng tìm hiểu về
- Lorca
- Thơ siêu thực
- Thơ tượng trưng GV yêu cầu HS ôn luyện qua ba vấn đề trên.
Cách thức: lập dàn ý chi tiết
GV yêu cầu HS chuẩn bị bài mới
58
37
5
Biểu đồ 3.1
19
KÕt qu¶ thùc nghiÖm ®Ò tr¾c nghiÖm
0
5
10
15
20
25
KG TB YK
Loại
S
ố
h
ọ
c sinh
12 §Þa (§èi s¸nh)
12 Sö (Thùc nghiÖm)Bảng 3.2. Kết quả bài kiểm tra tự luận
Lớp
12 chuyên Địa
(đối sánh)
Kết quả thực nghiệm đề tự luận
0
10
20
30
KG TB YK
Loại
Số học sinh
12 Địa (Đối sánh)
12 Sử (Thực nghiệm)3.6. i chiu hai cỏch khai thỏc
3.6.1. im gp g
Qua hai cỏch khai thỏc nờu trờn, cú th thy mt s im gp g sau õy
- Th nht l cỏc n v kin thc c bn. Tuy mc cú khỏc nhau, song c hai cỏch khai
thỏc u chỳ ý bỏm sỏt v lm rừ c cỏc n v kin thc c bn phng din ni dung v
ngh thut th hin.
- Th hai l cỏch khai thỏc. C hai u m bo nguyờn tc phõn tớch vn bn vn chng l
i t hỡnh thc ngh thut n ni dung t tng, tỡnh cm, cm xỳc.
3.6.2. Nột khỏc bit
3.6.2.1. V kin thc
- V sõu v rng ca kin thc. Cỏch khai thỏc c mi ch lm rừ ni dung tr tỡnh. Cỏch
khai thỏc mi cũn ch ra c mt tng ngha mi giỳp bi th cú mt v trớ riờng trong vn
hc ng thi.
- V tớnh h thng ca kin thc. Cỏch khai thỏc c cha chỳ ý n tớnh h thng vn .
Cỏch khai thỏc mi chỳ ý ý ngha tớn hiu vi h thng ngh thut biu hin nờn tớnh h thng
kin thc cao hn.
3.6.2.2. V k nng
bỏ qua.
Dạy Văn, trong nhiệm vụ vừa đưa người học vào thế giới của cái Đẹp vừa dạy họ cách
vào thế giới ấy, càng thấy tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm văn chương mà mình giảng dạy là
điều quan thiết.
Khai thác bài Sóng của Xuân Quỳnh từ việc vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ là một
hướng tiếp cận có hiệu quả tốt.
2. Khuyến nghị
Người dạy Văn phải chú ý đến việc khai thác tín hiệu thẩm mỹ trong việc hướng dẫn HS
đọc hiểu tác phẩm văn chương một cách linh hoạt.
22
Vì không có một khoa học nào tồn tại đơn lẻ nên người dạy Văn hôm nay nên chú ý trau
dồi kiến thức liên ngành, chú ý vận dụng nó vào việc hướng dẫn học sinh khai thác một đơn
vị bài học.
Thứ ba, môn Ngữ Văn nói chung, giảng dạy văn bản văn chương nói riêng, so với các
môn học khác, nó có đặc thù riêng của nó. Nó không chỉ là khoa học mà nó còn là nghệ thuật,
nó không chỉ tác động vào nhận thức trí tuệ mà nó còn lay thức tâm hồn, tình cảm, thanh lọc
thế giới tinh thần người tiếp nhận. Bởi thế, nếu giờ Văn mà không có chất Văn thì không thể
nói là một giờ thành công trọn vẹn.
Cuối cùng, xuất phát từ tín hiệu thẩm mỹ nói riêng, ngôn từ - cái phương tiện biểu hiện
quan trọng bậc nhất của văn chương nói chung, đều có tính phi trực quan, phi vật thể nên sức
gợi của nó, vẻ đẹp của nó lại nằm trong những cái không thể trực giác hóa một cách giản đơn,
dễ dãi. Vì thế, việc sử dụng các giáo cụ trực quan, các phương tiện dạy học phải hết sức thận
trọng, tránh sự phóng chiếu vô lối những hình ảnh minh họa khiến cho bài học không chỉ
phản cảm mà còn phản khoa học và giáo dục nữa.
References
Tài liệu trong nƣớc
1. Lại Nguyên Ân. 150 thuật ngữ văn học. Nxb Đại học Quốc gia, 2004.
2. Lại Nguyên Ân. Thơ Xuân Quỳnh. Nxb Hội nhà văn, 1990
21. Đỗ Việt Hùng. Chuyên đề Ngữ nghĩa học đại cương. Bài giảng SĐH, ĐHGD, 2010.
22. Đỗ Việt Hùng. Ý và nghĩa… Hai quan niệm về ngữ nghĩa học. Tạp chí ngôn ngữ số 16/
2002.
23. Lê Quang Hƣng – Phan Huy Dũng… Tác phẩm văn học 12 – Những vấn đề lịch sử và
thể loại. Nxb Giáo dục, 2008.
24. Nguyễn Thanh Hƣơng. Định hướng tiếp nhận tác phẩm văn chương. Nxb Đại học Sư
phạm, 2004.
25. Phan Trọng Luận. Môn Văn và Tiếng Việt.Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo
viên trung học phổ thông. Bộ GD – ĐT. Vụ giáo viên, 1995.
26. Phan Trọng Luận. Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường THPT. Tài liệu
BDTX chu kỳ 1997 – 2000. Vụ giáo viên, 1997.
27. Đinh Trọng Lạc. Phong cách học Tiếng Việt. Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010.
28. Đinh Trọng Lạc. 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt. Nxb Giáo dục, 2008.
29. Nguyễn Văn Long. Sách giáo viên Văn học 12 ban KHXH. Nxb Giáo dục, 1996.
30. Nguyễn Văn Long. Văn học Việt Nam trong thời đại mới. Nxb Giáo dục, 2003.
31. Trƣơng Thị Nhàn. Một số vấn đề tín hiệu thẩm mỹ và giá trị thẩm mỹ của một số từ chỉ
vật thể nhân tạo trong ca dao Việt Nam. Luận văn SĐH khóa 1986 – 1988, ĐHSP I Hà Nội.
32. Nhiều tác giả. Nâng cao năng lực cho giáo viên THPT về đổi mới phương pháp dạy học.
Viện nghiên cứu Sư phạm, 2005.
33. Nhiều tác giả. Từ điển văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, 2004.
34. Nhiều tác giả. Xuân Quỳnh, tác phẩm và lời bình. Nxb Văn học, 2011.
24
35. Nhiều tác giả. Nhập môn văn học (Hoàng Ngọc Hiến dịch). Trường viết văn Nguyễn Du,
1992.
36. Phạm Hoàng Tài. Tâm lý học đại cương. Đại học Đà Lạt, 2011.
37. Trần Nho Thìn. Phân tích tác phẩm Ngữ văn 12. Nxb Giáo dục, 2008.
38. Đinh Thị Kim Thoa. Chuyên đề Tâm lý học dạy học. Bài giảng SĐH - ĐHGD, 2010.
39. Lƣu Khánh Thơ – Đông Mai. Xuân Quỳnh, thơ và đời. Nxb Văn hóa, 2003.
40. Nguyễn Văn Tùng (tuyển chọn). Tác phẩm trong nhà trường – những vấn đề trao đổi.