Vận dụng lý thuyết hoạt động giao tiếp vào dạy học tập làm văn lớp 6 trung học cơ sở - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN NGỌC MAI

VẬN DỤNG LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP
VÀO DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 6 TRUNG HỌC CƠ SỞ LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHAM NGỮ VĂN Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐỖ VIỆT HÙNG
HÀ NỘI - 2011


16
1.1.3.Các nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp
20
1.1.4. Giao tiếp và việc dạy - học làm văn để giao tiếp
24
1.2. Cơ sở thực tiễn
30
1.2.1.Tập làm văn và vai trò của môn Tập làm văn trong dạy học Ngữ
văn Trung học cơ sở

30
1.2.2.Đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh 6 Trung học
cơ sở

31
1.2.3.Đặc điểm của môn Tập làm văn 6
32
1.2.4. Thực trạng dạy học môn Tập làm văn ở trường Trung học cơ sở
hiện nay

33
Chƣơng 2: DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 6 TRUNG HỌC CƠ
SỞ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

36
2.1. Vấn đề dạy học Tập làm văn ở Trung học cơ sở theo quan điểm
giao tiếp

36
2.2. Các dạng bài Tập làm văn lớp 6 Trung học cơ sở và hướng tiếp

3.1.5. Phương pháp thực nghiệm
73
3.1.6.Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
73
3.2.Nội dung thực nghiệm
74
3.2.1.Chuẩn bị thực nghiệm
74
3.2.2.Tiến hành thực nghiệm
74
3.2.3.Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm
90
3.3.Kết quả thực nghiệm
92
3.3.1.Đánh giá về hiệu quả giờ học
92
3.3.2. Đánh giá qua bài làm của học sinh
96
Tiểu kết chương 3
101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
102
1. Kết luận
102
2. Khuyến nghị
103
TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
P PHỤ LỤC


phương pháp giao tiếp. Trong dạy học nói chung và dạy làm văn nói riêng,
phương pháp giao tiếp ngày càng được thể hiện dưới những hình thức đa dạng
khác nhau. Kết quả của một giờ làm văn không phải chỉ cho học sinh nm
được nội dung bài học theo lý thuyết suông mà còn phải biết ứng dụng vào 2
các hoạt động giao tiếp trong thực tế đời sống. Vì vậy, kể từ khi quan điểm
giao tiếp được đưa vào trong phương pháp dạy học thì kết quả dạy làm văn đã
đạt được những bước tiến đáng kể so với trước đó. Chúng tôi nhận thấy rằng
phương pháp giao tiếp đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy và học làm
văn. Phương pháp giao tiếp sẽ phát huy được khả năng sử dụng ngôn ngữ cho
học sinh, phát huy tư duy sáng tạo, đồng thời tạo sự hứng thú cho học sinh
trong các giờ học làm văn. Chúng tôi suy nghĩ rằng đổi mới phương pháp dạy
học làm văn đang là vấn đề cần thiết. Hiện nay, chúng ta đã khẳng định tính
ưu việt của phương pháp giao tiếp trong việc dạy làm văn nhưng việc dạy và
học làm văn ở trường phổ thông vẫn còn hạn chế. Phần lớn giáo viên đều
nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp
nhưng lại không nm được lý thuyết về giao tiếp, chưa tổ chức được những
hình thức giao tiếp, chưa nhận thức được đầy đủ về tầm quan trọng, hiệu quả
của phương pháp này, đặc biệt là trong dạy làm văn. Điều này đã làm hạn chế
rất nhiều đến kết quả dạy và học làm văn.
Trước thực trạng đó, chúng tôi chọn đề tài “Vận dụng lý thuyết hoạt
động giao tiếp vào dạy học Tập làm văn lớp 6 Trung học cơ sở”. Ở đề tài
này, chúng tôi đề ra những phương pháp dạy làm văn theo quan điểm giao
tiếp nhằm mục đích giúp cho việc dạy và học làm văn ở phổ thông đạt được
chất lượng tốt hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Những năm gần đây nhất là từ sau cải cách giáo dục, phương pháp dạy
học chính là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Trong những phương pháp đó thì

Chúng ta cần ý thức cho học sinh biết rằng mục đích cuối cùng của một bài
làm văn là phải giúp cho học sinh tổ chức được những ngôn bản theo mục đích
giao tiếp đã đề ra.
Trong sách “Những thủ thuật trong dạy học - các chiến lược
nghiên
cứu và lý thuyết về dạy học dành cho các giảng viên Đại học và
Cao đẳng”
Wilbrt J.Mckeachie đã dựa trên quan điểm thực tiễn của
phương pháp dạy
học hiện nay mà cho rằng “Theo chương trình dạy tiếng Pháp phải dựa trên việc
thực hành ngôn ngữ trong và ngoài lớp học tiếng Pháp học sinh phải luôn luôn
được đặt vào tình huống giao tiếp” [24, tr.14]. Ở một đoạn khác, tác giả đặc biệt
nhấn mạnh “cơ bản là phải đặt học sinh trong một tình huống giao tiếp làm sản 4
sinh hoặc thông hiểu lời nói” [24, tr.14]. Điều đó có nghĩa là việc dạy học theo
quan điểm giao tiếp được áp dụng rộng rãi ở tất cả các môn học. Để có thể
hướng quá trình dạy học vào hoạt động giao tiếp thì người giáo viên cần thiết
phải tạo ra những tình huống có vấn đề để học sinh tham gia vào hoạt động
giao tiếp. Tình huống là một điều kiện quan trọng để sản sinh ra hoạt động giao
tiếp, không có tình huống thì học sinh không thể giao tiếp. Đây là nhận định có
ý nghĩa quan trọng để người giáo viên có thể tổ chức quá trình dạy học tiếng
Việt, làm văn đạt hiệu quả cao.
Trần Đình Chung khi bàn về quan điểm dạy học làm văn trong sách
“Mấy
vấn đề về giảng dạy môn phương pháp dạy học Ngữ văn trong
chương
trình Cao đẳng Sư phạm mới” có nói “Với phân môn Tập làm văn, quan
điểm dạy học tích hợp càng thể hiện tính tích cực của nó khi hiện thực hóa

khả năng nói và viết ngôn bản của học sinh sẽ bị hạn chế” [23, tr. 8]. Điều đó
có nghĩa là mục đích cuối cùng của môn Làm văn là giúp cho học sinh có thể
sử dụng thành thạo ngôn ngữ vào trong hoạt động giao tiếp, học làm văn tốt sẽ
giúp cho học sinh có kĩ năng nói và viết thành thạo hơn
Trong sách “Phương pháp dạy học Tiếng việt” khi bàn về lý thuyết giao
tiếp bằng ngôn ngữ, Lê A đã nói “Làm văn chính là làm các loại văn bản để
giao tiếp. Không có nhu cầu giao tiếp thì không ai lại nói và viết thành văn
bản” [1, tr. 193]. Mỗi người đều có những nhu cầu khác nhau. Chính nhu cầu là
động lực giúp cho con người hành động. Cho nên để tạo ra được những văn bản
thì người ta cần phải có nhu cầu giao tiếp. Ở một đoạn khác tác giả càng nhấn
mạnh vai trò của hoạt động giao tiếp “Việc làm văn có quan hệ với một lý
thuyết khác bên cạnh lý thuyết về văn bản. Đó là lý thuyết giao tiếp bằng ngôn
ngữ hay nói gọn hơn là lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ” [1, tr. 193]. Điều đó có
nghĩa là lý thuyết giao tiếp đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy và học
làm văn. Chính nhu cầu giao tiếp là nguyên nhân sản sinh ra văn bản. Từ đó 6
cho thấy để sản sinh ra những văn bản có giá trị giao tiếp thì người dạy và học
phải tham gia vào hoạt động giao tiếp bằng các lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ.
Năm 2006, trên Tạp chí giáo dục số 138, Phan Thị Thủy trong bài viết
“Dạy làm văn ở Trung học cơ sở theo quan điểm giao tiếp” có nói “Dạy làm
văn theo quan điểm giao tiếp cho học sinh Trung học cơ sở là phát huy vai trò
độc lập, sáng tạo, chủ động suy nghĩ của học sinh trong việc học làm văn. Tính
chủ động, sáng tạo này được thể hiện rõ thông qua dấu ấn chủ quan của các em
trong việc tạo lập văn bản” [21, tr. 27]. Một bài làm văn trở nên sinh động khi
nó bộc lộ được tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của học sinh. Muốn đạt được điều
này cần phải phát huy tư duy, sáng tạo của mỗi học sinh. Cho nên chúng ta
cần hướng học sinh vào hoạt động giao tiếp. Chính hoạt động giao tiếp là điều
kiện cần thiết để học sinh bộc lộ tư duy sáng tạo của mình. Ở quan điểm này,

4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau
- Phương pháp dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp, người viết chỉ tập
trung vào những phương pháp nhằm tạo ra hoạt động giao tiếp trong quá trình dạy
học.
- Phương pháp dạy học Tập làm văn lớp 6, bài: “Luyện tập xây dựng
bài tự sự - Kể chuyện đời thƣờng”. Đề tài sẽ thiết kế và thực nghiệm trên bài
giảng theo phương pháp truyền thống và phương pháp vận dụng lý thuyết hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này thể hiện các nhiệm vụ sau
- Nghiên cứu lý thuyết giao tiếp: tập trung các nhân tố chi phối quá trình
giao tiếp bằng ngôn ngữ như: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung
giao tiếp, phương tiện giao tiếp, mục đích giao tiếp. Từ đó giúp giáo viên có cách
ra đề làm văn theo quan điểm giao tiếp, hình thức viết một bài làm văn.
- Nghiên cứu nội dung, kiểu loại văn bản, mục tiêu, phương pháp dạy làm
văn lớp 6.
- Vận dụng thiết kế một số bài Tập làm văn lớp 6 theo quan điểm giao 8
tiếp, thực nghiệm so sánh dạy học theo phương pháp cũ và phương pháp mới.
- Đề xuất những giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả dạy làm văn
theo quan điểm vận dụng lý thuyết giao tiếp.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thực nghiệm
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham

trẻ chưa ý thức được một cách đầy đủ về sự vật đang gọi tên. Chẳng hạn
trẻ gọi tên cái bánh thì trẻ chỉ biết đó là thứ có thể ăn được chứ không ý thức
được hết là nó làm từ nguyên liệu gì, cách thức làm ra sao. Mặc dù vậy ta
cũng phải công nhận một điều rằng lúc này hoạt động giao tiếp ở thể chủ
động của trẻ đang dần dần được hình thành. Dù chưa được hình thành một
cách hoàn chỉnh nhất nhưng đây là tiền đề, là cơ sở quan trọng để tiến hành
những hoạt động giao tiếp sau này. Tiếp đó là tư duy của trẻ được tích lũy,
từ tuổi thơ ngôn ngữ của trẻ cũng được hình thành mà ngôn ngữ và tư duy
là hai nhân tố giao tiếp giúp con người ứng xử được với hoàn cảnh, tồn tại 10
với hoàn cảnh sống. Ngôn ngữ là phương tiện dùng để diễn tả những tư
tưởng, tình cảm, cảm xúc của con người. Chẳng hạn câu “Tôi rất muốn
cùng bạn đi du lịch khp nơi”. Qua câu nói này thì người nói muốn truyền
đạt đến người nghe hai vấn đề. Thứ nhất nói về ước muốn của bản thân là
được đi du lịch, thứ hai là tác động tình cảm đến người nghe muốn người
nghe chấp nhận là cùng đi du lịch với mình. Qua đây còn thể hiện tình cảm,
cảm xúc của người nói. Như vậy để diễn đạt được nội dung của câu nói trên
thì ta cần phải biết ngôn ngữ tương ứng đồng thời phải có tư duy để có thể
sử dụng vốn ngôn ngữ phù hợp với nội dung diễn đạt để không những
truyền đạt được ước muốn của bản thân mà còn phải tạo được tác dụng
thuyết phục người nghe. Có thể nói ngôn ngữ và tư duy là hai nhân tố quan
trọng để thực hiện quá trình giao tiếp và hai nhân tố này có quan hệ mật
thiết với nhau cùng hỗ trợ cho nhau để thực hiện giao tiếp. Đây cũng là yếu
tố quan trọng để phân biệt con người và loài vật bởi vì giao tiếp của loài vật
là do bản năng chứ không phải là hoạt động có ý thức như con người.
Giao tiếp là phương thức tồn tại phát triển của xã hội. Xã hội là một
tập thể có quan hệ với nhau về nhiều mặt: quan hệ họ hàng, quan hệ đồng
nghiệp, quan hệ thầy trò… Các mối quan hệ này là lí do để con người có

thường xuyên trong cuộc sống của con người cho nên để có thể tồn tại thì
con người cần phải thực hiện hoạt động giao tiếp với tự nhiên, đồng thời
hoạt động giao tiếp này sẽ giúp cho con người hình thành ý thức và năng
lực nhằm để cải tạo tự nhiên phục vụ cho cuộc sống của mình.
Song song với giao tiếp tự nhiên thì con người luôn giao tiếp với xã
hội. Giao tiếp trong xã hội mang tính chất đa dạng, phong phú, con
người có thể giao tiếp trong mọi hoàn cảnh: trong một gia đình cha mẹ giao
tiếp với con cái về những sinh hoạt hàng ngày, các đồng nghiệp giao tiếp
với nhau về công việc hoặc là độc giả có thể giao tiếp với các vấn đề xã hội 12
qua báo chí, sách vở. Con người còn có khả năng giao tiếp với người xưa.
Qua những tác phẩm của người xưa để lại ta biết được tâm tư, tình cảm,
nguyện vọng của họ và hiện thực xã hội thời đó. Ví dụ như đọc Truyện
Kiều của Nguyễn Du ta biết được những bất công ngang trái đang đè nặng
lên người phụ nữ đồng thời còn thấy được tấm lòng nhân đạo của tác giả.
Không những chỉ giao tiếp với người xưa mà con người còn có thể giao tiếp
với cả thế hệ mai sau như những tác phẩm trong hiện tại bấy giờ có thể
truyền đến cho người đọc ở cả tương lai.
Con người giao tiếp ở mọi nơi, học tập được nhiều điều nhưng quan
trọng nhất là giao tiếp trong trường học, ở đó con người được mở rộng những
hiểu biết mang tính lí luận, khoa học. Ta thấy rằng ngay từ những câu ca
dao, tục ngữ mà ta được học trong nhà trường đã có tác dụng định hướng
cho con người vào hoạt động giao tiếp.
Ví dụ:

Học ăn học nói, học gói học mở.
Chỉ ra việc ta phải học hỏi mọi thứ trong cuộc sống, trong đó có việc
học cách nói năng tức là học cách giao tiếp trong đời sống xã hội. Hay là

hoạt động giao tiếp này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
nhưng tất cả đều nhằm mục đích là cung cấp, trao đổi thông tin. Cho nên có
thể nói trường học là môi trường giao tiếp quan trọng nhất của con người vì
ở đây con người không chỉ học được những kiến thức mà còn hoàn thiện
được nhân cách của bản thân mình thông qua hoạt động giao tiếp. Tóm lại,
con người có thể giao tiếp mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh vượt cả không
gian và thời gian.
14
1.1.1.2. Hai phương tiện giao tiếp cơ bản của con người
Phạm vi giao tiếp của con người rất rộng, phương tiện giao tiếp cũng
hết sức đa dạng. Theo các nhà kí hiệu học ngôn ngữ thì phương tiện giao
tiếp chia thành hai nhóm đó là ngôn ngữ và các yếu tố không bằng ngôn
ngữ gọi là các yếu tố phi ngôn ngữ.
Yếu tố phi ngôn ngữ, một phương tiện giao tiếp không thể thiếu trong
giao tiếp: các yếu tố phi ngôn ngữ rất đa dạng, phong phú gn liền với cuộc
sống của con người chúng ta. Có những ngữ cảnh thuộc giới tự nhiên mang
tính khách quan như mây đen, cơn gió lạnh, sấm chớp… những yếu tố này
không lệ thuộc nhiều vào con người. Có những yếu tố do con người tổ chức
thực hiện: động tác vỗ về, ôm ấp con của bà mẹ, các cử chỉ liếc mt,
khoát tay, gật đầu. Những kí hiệu: đèn đường (đèn đỏ báo hiệu xe phải dừng,
đèn xanh báo hiệu cho xe chạy…), kí hiệu toán học, các hình vẽ trong các
thùng hàng hóa. Tất cả các phương tiện này đều gn bó mật thiết, đều phục
vụ cho lợi ích của con người. Những phương tiện phi ngôn ngữ giúp cho
hoạt động giao tiếp trở nên sinh động, hấp dẫn hơn. Người giao tiếp không
chỉ nm được nội dung giao tiếp mà còn có thể gợi liên tưởng tăng tính
biểu cảm cho nội dung truyền đạt. Mặc dù vị trí của nó là không nhỏ trong
việc hỗ trợ ngôn ngữ để lột tả nội dung, sc thái. Nhưng đôi lúc các

muốn thực hiện hoạt động giao tiếp còn cần phải có tư duy và ngôn ngữ. Có
thể nói không có ngôn ngữ sẽ không có tư duy, ngược lại, nếu không có tư
duy thì ngôn ngữ cũng không thể phát triển. Nhờ có ngôn ngữ mà hoạt động
tư duy mới có thể chuyển hóa những thứ thuộc về tinh thần ra vật chất làm
cho người khác dễ tiếp nhận, ngôn ngữ vừa thực hiện chức năng giao tiếp
vừa thực hiện chức năng tư duy. Hai chức năng này lại có quan hệ mật thiết
với nhau. Điều này giúp cho ngôn ngữ trở thành một phương tiện giao tiếp
có nhiều điểm khác biệt so với các phương tiện giao tiếp khác trong đời 16
sống xã hội. Nói về giao tiếp, người ta cho rằng con người còn có thể giao
tiếp với người xưa và cả thế hệ mai sau. Để có thể thực hiện chức năng này
thì hoạt động giao tiếp cần phải có chức năng lưu trữ và ngôn ngữ chính là
phương tiện để thực hiện chức năng này. Con người giao tiếp với người xưa
hay cả với thế hệ mai sau chủ yếu thông qua sách, báo… được ghi chép
bằng ngôn ngữ. Nếu không có ngôn ngữ thì người đi sau không hiểu những
gì mà người đi trước đã làm cũng như người đi trước không thể truyền lại
những kinh nghiệm, những hiểu biết cho người đời sau. Ngôn ngữ chính là
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.
Bất cứ cuộc giao tiếp nào, con người không những phải truyền đạt được
nội dung giao tiếp mà còn phải đạt được cái hay, cái đẹp trong giao tiếp.
Chính sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của ngôn ngữ là điều kiện để hoạt
động giao tiếp đạt tính thẩm mĩ. Trong hoạt động giao tiếp con người phải
lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp với hiệu quả thẩm mĩ. Quá trình tiếp xúc
với môn Tiếng Việt và các môn học khác, con người được trang bị hoàn
chỉnh một hệ thống ngôn ngữ hóa làm phương tiện giao tiếp để giao tiếp,
học tập. Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những tri thức về ngôn ngữ,
quy tc sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao
tiếp… Và khi tiếp xúc với các môn học khác sẽ làm cho hệ thống ngôn ngữ

người nghe phải lí giải các yếu tố ngôn ngữ này. Kết thúc quá trình này
cũng là kết thúc quá trình giao tiếp. Văn bản trong hoạt động giao tiếp được
tồn tại ở hai dạng là nói và viết.
Văn bản nói: là các yếu tố ngôn ngữ được sp xếp thành một chuỗi tạo
nên lời nói trong giao tiếp. Tiếp nhận văn bản nói là tiếp nhận âm thanh
bằng thính giác. Văn bản nói thường được dùng trong sinh hoạt hằng ngày,
văn bản nói thường có các đặc điểm sau:
Kèm theo ngữ điệu (lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh…) Tùy theo
từng nội dung muốn truyền đạt mà người nói sẽ có sự thay đổi ngữ điệu 18
cho phù hợp. Sự thay đổi ngữ điệu này sẽ có tác động rất lớn đến nội dung mà
người nói muốn truyền đạt đến người nghe. Ngữ điệu làm cho lời nói trở nên
sinh động, hấp dẫn, gợi hình ảnh. Sự biến đổi của ngữ điệu sẽ làm thay đổi cảm
xúc, ý nghĩa của lời nói. Thậm chí có khi sự thay đổi ngữ điệu sẽ làm cho nội
dung giao tiếp mang ý nghĩa trái ngược lại. Cho nên, khi sử dụng ngữ điệu phải
đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng.
Sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ: cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, … hỗ trợ để
truyền đạt nội dung. Trong một số trường hợp nhất định chính nhờ những

yếu tố này mà người nghe sẽ hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền
đạt một cách chính xác và đầy đủ nhất.
Từ ngữ được sử dụng đa dạng, phong phú, có cả khẩu ngữ, tiếng
lóng, tiếng địa phương, thán từ…chêm xen. Về câu thường sử dụng những
câu ngn ngọn, câu đặc biệt, câu tỉnh lược. Điều này làm cho văn bản nói
được tạo ra một cách liền mạch sẽ giúp người nghe dễ hiểu, dễ tiếp nhận.
Nhìn chung văn bản nói là văn bản nảy sinh tức thời, không có điều
kiện gọt giũa nên đôi khi có những yếu tố dư thừa cho nên người nói phải
biết lựa chọn những nội dung thông tin cho phù hợp với quá trình giao tiếp.

ngày càng đa dạng. Nếu trước đây người ta chỉ giao tiếp với nhau về những
vấn đề trong sinh hoạt hàng ngày thì ngày nay người ta đã biết giao tiếp
những vấn đề về thiên nhiên, vũ trụ, những vấn đề mang tầm thế giới…Ta
phải nhận thấy rằng xã hội càng ngày càng phát triển đã cung cấp cho con
người những phương tiện, nội dung giao tiếp ngày càng đa dạng, phong phú
hơn bởi vì mỗi thời đại lịch sử khác nhau thì quan niệm về cái đẹp, cái hay
của con người cũng khác nhau.
Người hiện tại giao tiếp với quá khứ và có tham vọng giao tiếp với cả
hậu thế. Lời nói thông thường có tính chất tức thời “lời nói gió thoảng” bởi
vì lời nói ra không thể lưu giữ lại được, người nghe chỉ có thể tiếp nhận
được ngay lúc đó còn việc có nhớ hay không thì không thể biết trước được.
Nhưng lời văn, lời thơ thì sao? Lời văn, lời thơ có tham vọng là lời của 20
muôn đời. Khi viết ra một tác phẩm thì người viết không những muốn cho
người đương thời tiếp nhận mà còn muốn truyền đạt đến cả người hậu thế.
Bất kì một sáng tác nào thì bao giờ cũng phản ánh hiện thực và bộc lộ tâm
tư, tình cảm của tác giả. Cho nên mỗi sáng tác đều có tham vọng lưu truyền
ở đời. Chẳng hạn dù cách ngày nay đã mấy trăm năm thì Truyện Kiều của
Nguyễn Du vẫn thấm đẫm trong lòng người đọc. Nhc đến văn học là người
ta nhc ngay đến Truyện Kiều của Nguyễn Du. Và giá trị nhân đạo, hiện
thực mà tác phẩm để lại cho chúng ta không thể phủ nhận được. Mỗi một
tác phẩm khi được viết ra thì tác giả đều muốn truyền đạt đến người tiếp
nhận một ý nghĩa nào đó. Và ý nghĩa này được người tiếp nhận thông qua
ngôn ngữ.
Giao tiếp được coi là một hiện tượng xã hội, giao tiếp là cách thức,
hoạt động để tiếp nhận các thông tin của đời sống, để trao đổi mọi tư tưởng,
tình cảm giữa người và người trong mọi mặt của đời sống.
1.1.3. Các nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp

nhiều đến hoạt động giao tiếp. Những người có vai vế, địa vị xã hội càng
cao thì lời nói càng có giá trị, càng có sức thuyết phục. Cùng một nội dung,
nhưng người này nói lại không có sức thuyết phục hơn người khác. Từ
những đặc điểm trên ta thấy rằng nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng,
đó là nhân tố để lại dấu ấn đậm nét nhất trong việc lựa chọn nội dung và
cách thức trình bày một văn bản. Là một người giáo viên phải nm rõ đặc
điểm học sinh lớp mình để tổ chức ngôn ngữ giảng dạy theo quan điểm giao
tiếp cho phù hợp với từng đối tượng. Đồng thời phải tạo được vị thế cho
bản thân để tăng sức thuyết phục cho lời nói khi truyền đạt đến học sinh.
1.1.3.2.Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp ở đây là hiện thực được nói đến trong cuộc giao
tiếp. Nội dung là tình cảm, sự hiểu biết của con người được đưa vào nội
dung lời nói của người tham gia giao tiếp. Người ta không thể nói những gì 22
mà người ta không biết. Hiện thực được nói đến sẽ tạo nên chủ đề, đề tài
của cuộc giao tiếp. Nội dung giao tiếp ở đây có thể thuộc về quá khứ, hiện
tại và cả tương lai. Nội dung giao tiếp được tồn tại trong suốt quá trình giao
tiếp, không ai lại nói những điều mà không chứa đựng được nội dung nào.
Điều quan trọng để cuộc giao tiếp có thể diễn ra là cả người phát và người
nhận phải cùng hướng về một nội dung giao tiếp. Không thể người này nói
một nơi người khác lại hiểu một nẻo. Chẳng hạn khi A hỏi B “Sao hôm qua
không đi học ?” B trả lời “Hôm nay trời đẹp quá”. Đó là vi phạm về nguyên
tc của hoạt động giao tiếp. Vì thế, cuộc giao tiếp xem như thất bại. Tóm
lại, để có thể thực hiện hoạt động giao tiếp thì những người tham gia giao
tiếp phải nm rõ về nội dung giao tiếp, cùng hướng về một nội dung giao
tiếp nhất định.
1.1.3.3.Mục đích giao tiếp
B. Tômasepxki đã nói “ Mục đích của giao tiếp thông thường là biểu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status