dạy học các bài lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong chương trình ngữ văn thpt - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGÔ HOÀNG MAI DẠY HỌC CÁC BÀI LÍ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO
TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ TRONG CHƢƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN THPT Chuyên ngành : Lí luận và phƣơng pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số : 60.14.10

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Lê A
THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1

TIẾP 45
2.1.1.Mục tiêu về tri thức 47
2.1.2. Mục tiêu về kĩ năng 48
2.1.3. Mục tiêu về thái độ 49
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

3
2.2. NỘI DUNG DẠY HỌC CÁC BÀI LÍ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO
TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 50
2.2.1. Quan điểm giao tiếp với việc lựa chọn các tri thức lí thuyết hoạt động
giao tiếp bằng ngôn ngữ 50
2.2.2. Quan điểm giao tiếp với việc xác định các kĩ năng sử dụng tiếng Việt
cần rèn luyện cho học sinh 54
2.3. XÁC ĐỊNH VÀ LỰA CHỌN CÁC PHƢƠNG PHÁP VÀ HÌNH
THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC BÀI LÍ THUYẾT HOẠT ĐỘNG
GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 59
2.3.1. Định hướng chung về dạy học các bài lí thuyết hoạt động giao tiếp
bằng ngôn ngữ theo hướng giao tiếp 59
2.3.2. Lựa chọn các phương pháp dạy học 62
2.3.3. Lựa chọn các hình thức dạy học 70
2.4. KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 77
2.4.1. Quan điểm kiểm tra đánh giá mới 77
2.4.2. Nội dung kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học các bài lí thuyết hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp 79
2.4.3. Hình thức kiểm tra, đánh giá 82
2.4.4. Xử lý kết quả kiểm tra, đánh giá 84
CHƢƠNG 3 86
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 86
3.1. MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 86
3.2. ĐỐI TƢỢNG VÀ ĐỊA BÀN THỰC NGHIỆM 87

hƣớng vào giao tiếp nhƣng học sinh không biết giao tiếp là gì, các nhân tố
giao tiếp có chi phối, ảnh hƣởng và chế định lẫn nhau nhƣ thế nào ?…. Vậy
các bài lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ cung cấp cho các em
những lí thuyết cơ sở để học các bài về tiếng Việt theo định hƣớng giao tiếp,
để sử dụng tiếng Việt tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn và tác động trực tiếp đến
hiệu quả và chất lƣợng dạy học Tiếng Việt ở trƣờng phổ thông.
1.3. Năm học 2006 – 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã áp dụng thay
sách giáo khoa bậc THPT trên toàn quốc, nó phản ánh phân môn Tiếng Việt
hiện hành đã đáp ứng các yêu cầu kinh tế, xã hội, phƣơng pháp dạy học …để
tiếng Việt trở thành công cụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội và giáo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

5
dục. Việc dạy tiếng Việt phải nhằm vào cả hai chức năng của ngôn ngữ (công
cụ của tƣ duy và công cụ của giao tiếp), phải chú trọng vào cả bốn kĩ năng
(nghe, nói, đọc, viết), phải hƣớng vào sự giao tiếp và sử dụng phƣơng pháp
giao tiếp. Các bài lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ lần đầu tiên
đƣợc đƣa vào chƣơng trình, lại rất nặng về lí thuyết nên gây khó khăn các em
trong quá trình tiếp nhận. Những bài này có tính chất khái quát, trừu tƣợng
cao nên dễ rơi vào hiện tƣợng quá tải, giáo viên sa đà vào dạy lí thuyết thuần
tuý, đậm tính hàn lâm, kinh viện. Do đó, việc nghiên cứu phƣơng pháp nhằm
gỡ bỏ những khó khăn trên là hết sức cần thiết.
1.4. Sự thay đổi chƣơng trình và sách giáo khoa hiện hành đòi hỏi phải
có những phƣơng pháp dạy học phù hợp. Tình hình thực tế cho thấy cả giáo
viên và học sinh đều lung túng, khó khăn khi dạy và học các bài lí thuyết hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Vì vậy, cần có những công trình khoa học
nghiên cứu về phƣơng pháp tổ chức dạy học những bài này để giúp giáo viên
đổi mới phƣơng pháp dạy học.
Xuất phát từ những quan điểm nói trên và thông qua thực tiễn dạy học,
chúng tôi chọn đề tài cho luận văn của mình là: “Dạy học các bài lí thuyết

trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về giao tiếp, giúp các em có kĩ
năng, kĩ xảo sử dụng tiếng Việt trong việc lựa chọn lời nói, câu văn của mình.
Nhƣ chúng ta đã biết, từ năm học 2006 – 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo
thực hiện chƣơng trình thay sách giáo khoa THPT trên toàn quốc. Các bài lí
thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ đã đƣợc chú trọng hơn. Chúng tôi
có so sánh sau để thấy rõ điều vừa khẳng định: Số tiết dành cho nội dung hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong sách giáo khoa cải cách là 3/66 tiết Tiếng
Việt trong chƣơng trình THPT (chiếm khoảng 4,54%); còn với sách giáo khoa
hiện hành, thời lƣợng đã đƣợc tăng lên là 6/60 tiết Tiếng Việt trong chƣơng
trình Ngữ văn THPT (chiếm 10%).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

7
3.1. Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt
Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là vấn đề đƣợc nhiều ngƣời
quan tâm:
Theo tác giả Lê A, “quan điểm giao tiếp là quan điểm cơ bản nhất trong
việc tổ chức dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông” [35, 5]
Nhóm tác giả cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt khẳng định một
nguyên tắc đặc thù của phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt là hƣớng vào hoạt
động giao tiếp, xuất phát từ quan điểm giao tiếp nhƣ sau: “Ngôn ngữ là hệ
thống hoạt động chức năng, tách khỏi hoạt động chức năng thì nó không còn
sức sống, sẽ trở thành một hệ thống khô cứng….Muốn hình thành các kĩ năng
và kĩ xảo ngôn ngữ, học sinh phải trực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp.
Việc lĩnh hội lời nói của người khác, sản sinh ra các lời nói đúng và hay vừa
là phương tiện đồng thời vừa là mục đích của bộ môn Tiếng Việt ở nhà
trường phổ thông.
…Phương hướng tốt nhất để dạy các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động
hành chức là phải tìm mọi cách hướng học sinh vào hoạt động nói
năng….Học tiếng Việt , học sinh không phải chủ yếu chỉ nghiên cứu về nó mà

trường phổ thông, tác giả Lý Toàn Thắng cho rằng “trong dạy học tiếng Việt,
dù là dạy phần gì, cần phải quán triệt quan điểm “hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ”, luôn luôn cần phải xuất phát từ hoạt động giao tiếp để định hướng
việc dạy về từ, về câu; nhằm tới việc rèn luyện những kĩ năng dùng từ, đặt câu;
chú trọng việc thực hành, tạo lập các sản phẩm giao tiếp (câu văn, đoạn văn,
lời văn) với những thao tác như xây dựng câu, rút gọn câu….” [32, 46].
Tác giả Nguyễn Trí đã đƣa ra nhận định về dạy học tiếng Việt theo quan
điểm giao tiếp sau khi dày công nghiên cứu và khảo sát vấn đề dạy tiếng mẹ
đẻ của nhiều nƣớc trên thế giới rằng dạy ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

9
đó dạy cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là xu hƣớng chung của việc dạy
tiếng mẹ đẻ của nhiều nƣớc trên thế giới và dạy ngôn ngữ ở dạng nói, viết
trong giao tiếp và để giao tiếp là xu hƣớng hiện đại trong việc dạy tiếng mẹ đẻ
mà nhiều nƣớc đang phấn đấu để thực hiện. Nguyễn Trí khẳng định “Tóm lại,
chương trình dạy tiếng mẹ đẻ của các nước trên thế giới đều xây dựng theo
phương hướng lấy giao tiếp làm môi trường và phương pháp học tập, lấy việc
phục vụ giao tiếp làm nhiệm vụ và mục đích. Chương tình nào cũng dạy cả
ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong đó ngôn ngữ viết là trọng tâm. Theo xu
hướng này, chương trình nào cũng coi trọng cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc,
viết nhưng không quên nền tảng của nó là các kiến thức ngôn ngữ. Chương
trình nào cũng chú ý rèn luyện các kĩ năng bộ phận khi nghe, nói, đọc, viết
đồng thời chú ý rèn luyện tổng hợp các kĩ năng đó trong quá trình sử dụng
lời nói để giao tiếp. Từ đó dần dần tạo nên sự chuyển hoá về chất, biến các kĩ
năng nghe, nói, đọc, viết thành năng lực lời nói cá nhân”.
Ngoài ra, có một số bài nghiên cứu về quan điểm giao tiếp trong các tạp
chí chuyên ngành, các sách bồi dƣỡng giáo viên đều cho thấy sự phù hợp của
quan điểm này đối với dạy học Tiếng Việt. Rõ ràng có mối quan hệ rất chặt
chẽ giữa học và hành, giữa biết và làm, gắn những cái học đƣợc vào thực tiễn

Sách giáo khoa và sách bài tập Ngữ văn tạo điều kiện cho học sinh đƣợc
thực hành, đƣợc làm, đƣợc giao tiếp thể hiện qua việc dành phần lớn thời
lƣợng cho luyện tập, thực hành dù đây là các bài thiên về hình thành tri thức
mới. Nội dung luyện tập trong sách giáo khoa và sách bài tập khá đa dạng và
phong phú giúp ngƣời học nâng cao cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.
Tuy nhiên, định hƣớng tổ chức dạy học các bài lí thuyết hoạt động giao
tiếp bằng ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp mới đƣợc thể hiện một cách
chung chung và khái quát, không có định hƣớng cụ thể cho việc chiếm lĩnh
từng vấn đề lí thuyết theo yêu cầu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

11
Mặc dù quan điểm giao tiếp là một quan điểm dạy học tiến bộ, cần
đƣợc quán triệt trong quá trình dạy học đặc biệt là dạy học Tiếng Việt ở
trƣờng phổ thông và đƣợc các nhà giáo dục đánh giá cao, song có lẽ việc ứng
dụng vào thực tế nhƣ thế nào cho thích hợp là điều không đơn giản, đặc biệt
đối với đại đa số giáo viên Ngữ văn phổ thông, sự hiểu biết về quan điểm giao
tiếp không nhiều, cụm từ quan điểm giao tiếp chỉ xuất hiện một vài lần trong
các tài liệu bồi dƣỡng, hƣớng dẫn thực hiện chƣơng trình sách giáo khoa ở ba
đợt tập huấn thay sách lớp 10, 11, 12 vừa qua. Hơn nữa, việc nghiên cứu và
vận dụng quan điểm giao tiếp vào từng tiết học, từng bài học mà cụ thể ở đây
là các bài lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và đối tƣợng học sinh
một cách phù hợp vẫn chƣa nhận đƣợc quan tâm thoả đáng của các nhà
nghiên cứu và đội ngũ giáo viên trực tiếp đứng trên bục giảng.
Có thể khẳng định, nghiên cứu về phƣơng pháp dạy học để có thể vận
dụng có hiệu quả nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ đáp ứng
đƣợc yêu cầu của đất nƣớc, khu vực và thế giới đã và đang đƣợc các nhà giáo
dục quan tâm nghiên cứu. Mỗi quan điểm, phƣơng pháp dạy học đều có những
ƣu thế riêng và đƣợc vận dụng khác nhau đối với từng môn học, từng giờ học để
có thể tạo ra một môi trƣờng học tập phát huy tính tích cực của học sinh.

tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Tiếng Việt, đặc biệt là
hình thành, hoàn thiện và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt vào giao tiếp
cho học sinh THPT.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi thực hiện những phƣơng pháp nghiên
cứu sau:
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu lí thuyết chung về giao tiếp và hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

13
6.2. Phƣơng pháp thống kê, phân tích
Thống kê nhằm xử lí số liệu hiệu quả, chính xác. Phân tích nhằm tìm
hiểu sự chi phối của các nhân tố giao tiếp trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ và hai quá trình của hoạt động giao tiếp.
6.3. Phƣơng pháp nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Kinh nghiệm kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT về
các bài lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.
6.4. Phƣơng pháp hệ thống
Xây dựng hệ thống bài tập mẫu để rèn luyện cho học sinh hình thành kĩ
năng giao tiếp phù hợp, hiệu quả.
6.5. Phƣơng pháp điều tra, khảo sát
Điều tra, thăm dò ý kiến giáo viên và học sinh về thuận lợi và khó khăn
khi dạy học các bài lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, về hứng thú
của học sinh và hiệu quả giờ học các bài này.
6.6. Phƣơng pháp thực nghiệm
Phƣơng pháp này có vị trí quan trọng với khoa học giáo dục và công tác
nghiên cứu. Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành thiết kế giáo án thực
nghiệm cho các bài thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn nhằm xác định

các bài lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp.
- Kiểm tra, đánh giá việc dạy học các bài lí thuyết hoạt động giao tiếp
bằng ngôn ngữ.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chƣơng này nhằm kiểm tra, đánh giá khả năng thực thi, hiệu quả của đề
xuất trong luận văn với các bƣớc:
- Thiết kế bốn giáo án thực nghiệm cho hai bài trong phạm vi nghiên
cứu của luận văn.
- Tổ chức thực nghiệm.
- Đánh giá kết quả thực nghiệm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

15
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC CÁC BÀI LÍ
THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ TRONG
CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT

1.1. GIAO TIẾP VÀ HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ
1.1.1 Khái niệm về giao tiếp và hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Trong cuộc sống, con ngƣời luôn cần trao đổi, sẻ chia, bày tỏ với nhau
những vấn đề của cuộc sống và của bản thân. Khi có ít nhất hai ngƣời thực
hiện những hành động trên với nhau thì giữa họ diễn ra một hoạt động giao
tiếp (gọi tắt là giao tiếp). Có thể nói, giao tiếp là một nhu cầu tất yếu của loài
ngƣời.
Theo Từ điển giải thích Thuật ngữ ngôn ngữ học, giao tiếp là “sự thông
báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thông giải mã nào đó” [37] .
Con ngƣời có thể thực hiện hoạt động giao tiếp bằng nhiều cách thức,

có thể tiếp tục xây dựng đƣợc quan hệ thân hữu. Chức năng tạo lập quan hệ
còn bao hàm cả tác dụng phá vỡ quan hệ, sự phá vỡ này có thể do những
ngƣời tham gia giao tiếp cố tình tạo ra hoặc vô tình dẫn đến do lỡ lời, “sảy
miệng”. Nhiều ngƣời trong chúng ta không biết đến chức năng này của giao
tiếp song sự thật nó rất cần cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
* Chức năng giải trí: Cuộc sống hiện đại với bộn bề lo toan, căng thẳng,
nếu không có những phút giải trí, thƣ giãn, con ngƣời sẽ bị suy kiệt cả thể xác
lẫn tinh thần. Nói cách khác, giải trí là một nhu cầu không thể thiếu của con
ngƣời. Chúng ta có nhiều cách thƣ giãn nhƣ đi picnic, xem phim, chơi thể
thao… nhƣng giao tiếp là phƣơng thức giải trí dễ thực hiện và đỡ “tốn kém”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

17
hơn cả nhƣ nói chuyện phiếm, tán gẫu với bạn bè, kể những câu chuyện, đọc
những bài thơ hài hƣớc mà mình sƣu tầm đƣợc… nếu không lạm dụng đều có
tác dụng làm cho chúng ta thƣ giãn, giải toả stress.
* Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp con ngƣời tự biểu hiện mình
một cách có ý thức hoặc không có ý thức. Con ngƣời thể hiện tình cảm, sở
thích, khuynh hƣớng, tâm hồn, nguồn gốc địa phƣơng, văn hoá của bản thân
trong lời nói của họ. Vì thế, tục ngữ Việt Nam có câu “Vàng thì thử lửa, thử
than/ Chim khôn thử tiếng, ngƣời ngoan thử lời” với ý nói rằng muốn đánh
giá một ngƣời là lịch sự, có văn hoá hay thô tục, vô văn hoá, ta cần để ý đến
lời ăn, tiếng nói của họ.
* Chức năng hành động: Hành động là chức năng thông qua giao tiếp
mà ngƣời ta thúc đẩy nhau hành động. Trong giao tiếp, không chỉ ngƣời nghe,
ngƣời đọc hành động mà cả ngƣời nói, ngƣời viết cũng phải hành động dƣới
sự thúc đẩy của hoạt động giao tiếp. Chức năng này còn thể hiện ở chỗ, qua
cuộc giao tiếp, những ngƣời tham gia giao tiếp có thể thay đổi về nhận thức,
tình cảm, mức độ của những thay đổi đó sẽ tác động đến hành động của họ.
1.1.3. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp

chỉnh lời nói của mình cho phù hợp với ngƣời nghe (đọc).
* Hoàn cảnh giao tiếp:
Hoàn cảnh giao tiếp là môi trƣờng diễn ra hoạt động giao tiếp, bao gồm
hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp .
Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm toàn bộ hoàn cảnh địa lí, xã hội, lịch
sử, văn hoá, kinh tế, tôn giáo … mà các nhân vật giao tiếp tồn tại và thực hiện
cuộc giao tiếp. Hoàn cảnh giao tiếp rộng không ảnh hƣởng trực tiếp đến hoạt
động giao tiếp, tức không để lại dấu vết, biểu hiện cụ thể trong mỗi cuộc giao
tiếp nhƣng là cơ sở quan trọng để một phát ngôn phát ra đƣợc coi là bình thƣờng.
Ví dụ : Anh Hƣng đi ô tô rất đúng luật: luôn đi bên trái đƣờng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

19
Phát ngôn trên ở nƣớc Anh thì hoàn toàn đúng nhƣng ở Việt Nam thì lại
là sai.
Muốn hoạt động giao tiếp diễn ra một cách bình thƣờng, giữa các nhân
vật giao tiếp phải có vốn hiểu biết chung, tƣơng đƣơng nhau về hoàn cảnh
giao tiếp rộng, nếu không thì một phát ngôn chứa các từ ngữ có ý nghĩa rõ
ràng, cụ thể vẫn có thể trở nên không hiểu đƣợc, có thể bị rơi vào tình cảnh
“ông nói gà, bà nói vịt”, thậm chí không có đủ phƣơng tiện ngôn ngữ để diễn
đạt nhƣ câu chuyện cƣời dân gian Việt Nam – “Yết thị”. Ngƣợc lại, nếu có
hoàn cảnh giao tiếp rộng tƣơng đƣơng nhau, các nhân vật giao tiếp có thể
lƣợc bỏ những yếu tố không cần thiết trong phát ngôn .
Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là không gian, thời gian cụ thể diễn ra cuộc
giao tiếp. Nó ảnh hƣởng trực tiếp nội dung và hình thức giao tiếp, quyết định
các nhân vật giao tiếp cần và phải nói cái gì.
Còn có sự phân biệt hoàn cảnh giao tiếp có tính nghi thức (quy thức) là
hoàn cảnh giao tiếp trang trọng, nghiêm túc, mang tính quy ƣớc nhƣ hội nghị,
hội thảo, giờ học, các văn bản hành chính,văn bản báo chí… và hoàn cảnh
không mang tính nghi thức là hoàn cảnh cho phép nhân vật giao tiếp chuyện

dụng ngôn ngữ vào giao tiếp nhƣ thế nào, có đạt đến chất lƣợng và hiệu quả
của hoạt động giao tiếp hay không phụ thuộc vào các nhân tố giao tiếp và
trình độ hiểu biết cũng nhƣ khả năng sử dụng ngôn ngữ của mỗi ngƣời.
* Mục đích giao tiếp :
Mỗi hoạt động của con ngƣời đều nhằm một hoặc nhiều mục đích nào
đó . Trong hoạt động giao tiếp, những mục đích đó đƣợc gọi là mục đích giao
tiếp hay đích giao tiếp.
Giao tiếp có thể nhằm vào một hoặc nhiều đích khác nhau ứng với mỗi
hoàn cảnh giao tiếp nhất định. Theo Bùi Minh Toán có thể khái quát thành
những mục đích chính nhƣ sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

21
Mục đích thông tin hay mục đích nhận thức: Nhằm truyền đạt những
nhận thức, hiểu biết, kinh nghiệm của ngƣời nói (viết) tới ngƣời nghe (đọc).
Hoặc các nhân vật giao tiếp cùng trao đổi thông tin về một đối tƣợng nào đó
để nâng cao nhận thức của mình.
Mục đích bộc lộ và khơi gợi cảm xúc: Nhằm bộc lộ tình cảm, thái độ
của các nhân vật giao tiếp với nhau hoặc với vấn đề đƣợc nói tới. Nhằm xác
lập, củng cố, biến đổi những mối quan hệ của những nhân vật giao tiếp, hoặc
khơi gợi ở ngƣời nghe (đọc) một cảm xúc nào đó.
Mục đích tác động hay mục đích hành động: Nhằm tác động đến ngƣời
nghe (đọc) để họ thực hiện những hành động mà ngƣời nói (viết) mong muốn.
Ngoài ra, có thể kể đến một số đích giao tiếp khác nhƣ: Đích tạo lập,
duy trì, phá vỡ quan hệ; đích giải trí….
Với cuộc giao tiếp có nhiều đích có đích chính và đích phụ (đích thứ
yếu). Các nhân vật giao tiếp nên xác định đâu là đích chính để dựa vào đó mà
thực hiện giao tiếp.
Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nếu đạt đƣợc đích giao tiếp
thì cuộc giao tiếp đạt hiệu quả, hoặc một phần hoặc hoàn toàn. Ngƣợc lại, nếu

Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, quá trình này còn đƣợc gọi là
quá trình sản sinh lời nói. Quá trình sản sinh lời nói là một hoạt động và cấu
trúc của nó gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau là định hƣớng, lập chƣơng trình,
hiện thực hoá chƣơng trình và kiểm tra kết quả. Cấu trúc này là một cấu trúc
động, phụ thuộc vào thời gian của quá trình. Trong giáo trình Phương pháp
dạy học tiếng Việt ở tiểu học ΙΙ có dẫn lời giải thích của A.N. Lêônchiep về
cấu trúc động đó nhƣ sau: “Để giao tiếp được trọn vẹn, về mặt nguyên tắc,
con người cần nắm được hàng loạt những kĩ năng. Một là anh ta phải biết
định hướng nhanh chóng và đúng đắn những điều kiện giao tiếp. Hai là anh
ta cần biết lập đúng chương trình lời nói của mình, lựa chọn nội dung hoạt
Ngƣời nói
(ngƣời viết)
Văn bản
(ngôn bản)
Ngƣời nghe
(ngƣời đọc)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

23
động giao tiếp một cách đúng đắn. Ba là anh ta cần phải tìm được những
phương tiện hợp lí truyền đạt nội dung đó. Bốn là anh ta cần phải đảm bảo
mối liên hệ qua lại. Nếu như một mắt xích nào đó của hoạt động giao tiếp bị
phá huỷ thì người ta không thể đạt được kết quả mong đợi. Kết quả đó sẽ
không có hiệu quả”.
Có thể hiểu bốn giai đoạn của quá trình tạo lập văn bản hay sản sinh lời
nói nhƣ sau:
Định hướng giao tiếp chính là xác định cụ thể các nhân tố giao tiếp, ý đồ
giao tiếp, lựa chọn đề tài và phƣơng hƣớng cơ bản để triển khai đề tài giao tiếp.
Lập chương trình là việc tìm ý bằng quan sát hoặc tƣởng tƣợng từ các
nhân tố đƣợc xác định theo định hƣớng, nó còn là sự sắp xếp các ý theo trình tự

đọc (gồm hai hình thức chủ yếu là đọc thành tiếng và đọc thầm).
1.1.5. Các dạng của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Cho đến nay, ngôn ngữ với tƣ cách là phƣơng tiện giao tiếp của con
ngƣời tồn tại dƣới hai dạng là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ nói
ra đời trƣớc ngôn ngữ viết, mỗi dạng đều có những ƣu thế riêng. Ngôn ngữ
nói là ngôn ngữ âm thanh, lời nói trong giao tiếp hằng ngày; rất đa dạng về
ngữ điệu; từ ngữ, câu đƣợc sử dụng rất đa dạng. Ngôn ngữ viết đƣợc thực
hiện bằng chữ viết nên có những ƣu thế nhƣ ngôn ngữ đƣợc lựa chọn, thay
thế, gọt giũa nên có thể đạt tính chính xác cao; đến đƣợc với đông đảo ngƣời
đọc trong thời gian lâu dài; sự lĩnh hội văn bản của ngƣời đọc cũng thấu đáo
hơn do có điều kiện đọc lại, phân tích kĩ càng.
Với những ƣu thế riêng và không thể thay thế của ngôn ngữ nói và ngôn
ngữ viết, hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ hiện nay gồm giao tiếp dƣới
dạng nói và giao tiếp dƣới dạng viết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

25
Tóm lại, giao tiếp bằng ngôn ngữ đƣợc chia làm hai dạng là giao tiếp
miệng (giao tiếp đƣợc thực hiện bằng lời nói) và giao tiếp viết (giao tiếp bằng
văn tự). Giao tiếp miệng là “sự giao tiếp được thực hiện bằng lời nói nhờ sự
hoạt động của bộ máy phát âm”, còn giao tiếp viết là “sự giao tiếp được thực
hiện nhờ việc thể hiện các ký hiệu đồ hoạ chung cho những người tham gia
giao tiếp trên một bề mặt nào đó (thường trên giấy)” [37]. Trong hai dạng
trên, giao tiếp miệng là cơ sở.
1.2. DẠY HỌC TIẾNG VIỆT THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
1.2.1. Quan niệm về dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Quan điểm giao tiếp là một trong những quan điểm dạy học Ngữ văn,
đặc biệt là dạy tiếng Việt. Nội dung của quan điểm này là: “Dạy tiếng Việt là
dạy hoạt động giao tiếp, trong giao tiếp, bằng giao tiếp để hướng tới trang bị
cho học sinh năng lực hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt” [2]. Dạy học tiếng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status