Hng dn hc sinh c hiu bi c thờm vn
hc trong chng trỡnh trung hc ph thong
inh Th Lan Anh
Trng i hc Giỏo dc
Lun vn ThS ngnh: Lớ lun v phng phỏp dy hc; Mó s: 60 14 10
Ngi hng dn: GS.TS. Nguyn Thanh Hựng
Nm bo v: 2012
Abstract: Lun vn tỡm hiu c s lý thuyt khoa hc ca c hiu v vai trũ quan
trng ca c hiu i vi vic nõng cao hiu qu dy hc cỏc bi c thờm vn
hc. xut mt s gii phỏp thớch hp nõng cao hiu qu dy hc c hiu bi
c thờm vn hc.
Keywords: Vn hc; Phng phỏp ging dy; K nng c hiu; Ph thụng trung
hc
Content
1. Lớ do chn ti
1.1. T yờu cu bc thit phi i mi phng phỏp dy hc
Quan im dy hc hin i ó chi phi mt cỏch ton din tt c cỏc khõu, cỏc phng
din ca quỏ trỡnh dy hc. Ct lừi ca i mi dy v hc l hng ti phỏt huy tớnh tớch
cc, ch ng, sỏng to ca ngi hc, chng li thúi quen th ng ca hc sinh, chuyn
t cỏch dy truyn th mt chiu sang dy v hc tớch cc. Phng phỏp dy hc mi cũn
thc hin phng chõm dy hc thy v trũ cựng c hc tp v tip tc phỏt trin
nhm xõy dng mt xó hi hc tp, hỡnh thnh nng lc t hc, hc thng xuyờn, hc
sut i theo phng chõm ca Unesco ra Hc bit, hc lm, hc cựng
chung sng, hc t khng nh mỡnh.
1.2. T mc tiờu ca dy hc Ng vn trong nh trng hin nay
Với ch-ơng trình sách giáo khoa ngữ văn THPT mới việc Dạy văn thực chất là dạy cho
học sinh ph-ơng pháp đọc. T tng coi hc sinh l bn c sỏng to trong dy hc ng
vn l mt s thay i c bn trong chin lc dy hc ng vn nh trng ph thụng
đã thu hút sự quan tâm và nghiên cứu của các nhà giáo dục hàng đầu như K.Goodman (
1970); A. Pugh ( 1978); P.Arson ( 1984 ), L. Baker A.Brown (1984) ; U. Frith ( 1985 ),
M. Adams ( 1990 )…
Ở Việt Nam, tài liệu dịch đầu tiên đề cập đến vấn đề này phải kể đến hai tập “Phương
pháp dạy học văn ở trường phổ thông” của V.A.Nhinconxki và giáo trình phương pháp
luận dạy văn do I. Rez chủ biên.
Ở nước ta trong những năm gần đây đọc hiểu văn bản được rất nhiều nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu như GS. TS. Nguyễn Phương Nga, PGS. TS Nguyễn Thị Hạnh. PGS. TS.
Nguyễn Thái Hoà, TS. Nguyễn Trọng Hoàn, và đặc biệt là GS. TS. Trần Đình Sử và GS.
TS. Nguyễn Thanh Hùng. Vai trò của đọc hiểu càng trở nên quan trọng trong cuộc phản
công vào cách giảng cũ. Có thể nói đọc hiểu đang trở thành vấn đề trung tâm của việc
dạy văn. GS. TS Trần Đình Sử nhấn mạnh “Đọc hiểu văn bản- Một khâu đột phá trong
nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay”.
GS. TS. Nguyễn Thanh Hùng là người đề cập đến vấn đề đọc hiểu sớm nhất ở nước ta
và là người rất tâm huyết về vấn đề này qua hàng loạt các công trình nghiên cứu có giá trị
như tham luận “Dạy đọc hiểu là tạo nền tảng văn hoá cho người đọc” tại hội thảo khoa
học “Chương trình và SGK thí điểm THCS” tháng 9 năm 2000, chuyên luận “Đọc hiểu
tác phẩm văn chương trong nhà trường” (NXB Giáo dục, Hà Nội 2008). Đây là công
trình lý thuyết đầu tiên về đọc hiểu bao quát được những nội dung cốt yếu về vấn đề đọc
hiểu. Tác giả khẳng định: “Đọc để hiểu giá trị đích thực trong tác phẩm”. “Kỹ năng đọc
hiểu văn” là một chuyên luận sắc sảo về vấn đề đọc hiểu văn. Tác giả quan tâm đến tiến
trình đọc hiểu, năng lực đọc hiểu, kĩ năng đọc hiểu được vận dụng trong quá trình dạy
học tác phẩm văn chương.
Có thể nói đến nay, đọc hiểu đã có chỗ đứng trong nhà trường phổ thông. Rất nhiều
công trình nghiên cứu khoa học về đọc hiểu được ứng dụng trong giảng dạy ngữ văn ở
nhà trường trung học phổ thông. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về đọc hiểu mới
chỉ đi sâu vào khai thác các tác phẩm văn chương được giảng dạy chính thức mà chưa
quan tâm tới các tác phẩm văn học được giảng dạy trong phần đọc thêm. Đề tài “Hướng
dẫn học sinh đọc hiểu bài đọc thêm văn học trong chương trình trung học phổ thông”
như là một cố gắng nhằm chú ý phát triển năng lực tự học, đa dạng hoá các hình thức học
Luận văn nêu lên giả thuyết khoa học như sau: Nếu giáo viên có biện pháp hướng dẫn
học sinh đọc hiểu bài đọc thêm văn học trong chuơng trình ngữ văn trung học phổ thông
một cách đúng đắn và sáng tạo thì hiệu quả dạy học loại bài đọc thêm văn học sẽ được
nâng cao hơn.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp khái quát hóa lý luận
- Phương pháp khảo sát điều tra
- Phương pháp phân tích tổng hợp so
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp thực nghiệm khoa học
7. Đóng góp của luận văn
Lần đầu tiên công trình khảo sát về đặc điểm của bài đọc thêm văn học ở trường THPT
và khả năng dạy học đọc hiểu chúng nhằm đưa ra những biện pháp khả thi để việc dạy
học bài đọc thêm văn học có hiệu quả hơn.
- Xác định được những cách thức đọc hiểu cụ thể để nâng cao hiệu quả dạy học bài đọc
thêm văn học trong chuơng trình ngữ văn trung học phổ thông.
- Đề xuất giáo án thử nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học bài đọc thêm văn học
trong chuơng trình ngữ văn trung học phổ thông.
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu gồm ba phần sau:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung và kết quả nghiên cứu ( 3 chƣơng )
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của vấn đề đọc hiểu bài đọc thêm văn học trong nhà trường
trung học phổ thông.
Chƣơng 2: Cách thức hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài đọc thêm văn học trong chương
trình trung học phổ thông.
Chƣơng 3: Thiết kế giáo án thực nghiệm hướng dẫn học sinh đọc hiểu đoạn trích “Lời
tiễn dặn” (Trích truyện thơ Tiễn dặn người yêu) ( Sách giáo khoa Ngữ văn 10, ban cơ
bản, Tập 1, NXB Giáo dục, 2011).
Phần 3. Kết luận
của người đọc.
Hiểu văn bản là biết rõ và hiểu đúng, nắm vững nội dung cụ thể của văn bản và vận
dụng được những tư tưởng chứa đựng trong văn bản.
Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hùng đọc hiểu là mục đích cuối cùng và là hiệu quả mong
muốn để người đọc lĩnh hội được giá trị đích thực của tác phẩm. Đọc hiểu TPVC trong
nhà trường cần phải đào luyện và giáo dục thường xuyên cho học sinh với những yêu cầu
và mức độ phù hợp với từng lớp, từng cấp học. Do đó đọc hiểu là nội dung khoa học mới,
có ý nghĩa và giá trị phương pháp.
1.1.3. Mối quan hệ giữa đọc và hiểu
Đọc và hiểu là hai mặt thống nhất của một vấn đề. Mối quan hệ giữa chúng là mối quan
hệ nhân quả. Đọc để hiểu và hiểu để đọc tốt hơn. Đọc là một phương cách hữu hiệu để
hiểu như GS. Phan Trọng Luận khẳng định: “Con đường đi vào tác phẩm nhất thiết phải
từ đọc và gắn liền với việc đọc”. Việc xây dựng lí thuyết đọc hiểu chính là một yêu cầu
cấp thiết của tất cả mọi người để tiếp nhận và phân tích nhanh chóng, chính xác mọi loại
văn bản xuất hiện trong thời đại thông tin dồn dập như ngày nay.
1.1.4. Đọc hiểu tác phẩm văn chương ở trường trung học phổ thông - Xu thế đổi mới
dạy học ở THPT
Đọc hiểu TPVC là một hướng hoạt động dạy học hiện đại – đó là cách thức, là con
đường để người học tự mình chiếm lĩnh giá trị TPVC, đồng thời rèn cho người học cách
tự học, tự học suốt đời.
GS.TS Nguyễn Thanh Hùng đã khẳng định “Dạy đọc hiểu là tạo nền tảng văn hoá cho
người đọc”. Cách hiểu văn bản văn học của sách giáo khoa và của giáo viên là rất quan
trọng, song phải làm sao để học sinh có thể tự mình đọc hiểu văn bản để đi đến tiếp nhận
thành quả của người đi trước. Giáo viên biết cách dạy đọc hiểu, học sinh sẽ có năng lực
đọc, hứng thú đọc và có khả năng tự đọc, tự học suốt đời.
1.2. Đọc hiểu bài đọc thêm văn học trong chƣơng trình trung học phổ thông
1.2.1. Bài đọc thêm văn học - Một bộ phận của hệ thống tác phẩm văn chương trong
truờng trung học phổ thông
Bài đọc thêm văn học nằm trong cấu trúc của phân môn văn học trong chương trình
Ngữ văn. Đây là một bộ phận của hệ thống TPVC trong trường THPT. Qua các lần cải
thể kể lại, tóm tắt lại tác phẩm là bước khởi đầu để đi vào nội dung văn bản.
Đọc bài đọc thêm văn học để có thể nêu ý kiến riêng của mình, vận dụng vào suy nghĩ,
viết văn và hành động.
1.2.3. Điều kiện để đọc hiểu bài đọc thêm văn học
1.2.3.1. Tri thức đọc hiểu
Với đọc hiểu bài đọc thêm văn học trong chương trình THPT, học sinh phải tự mình đọc
để hiểu dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Chính vì vậy nó đòi hỏi cả giáo viên và học
sinh phải huy động tối đa vốn hiểu biết của mình trong việc chiếm lĩnh tác phẩm.
Tri thức đọc hiểu gồm nhiều bộ phận khác nhau: Tri thức về đời sống, tri thức liên
ngành, tri thức nghệ thuật, tri thức văn học.
Tri thức đọc hiểu hết sức phong phú và đa dạng. Đó là sự tổng hợp của nhiều loại tri
thức từ văn học nghệ thuật đến khoa học liên ngành, từ những kiến thức sách vở đến
những hiểu biết đời thường. Sự từng trải, kinh nghiệm sống, nghệ nghiệp, tuổi tác và
đặc biệt là tình yêu cuộc sống, tình yêu văn chương đã góp phần làm cho tri thức đọc hiểu
của mỗi người thêm sâu rộng.
1.2.3.2. Kĩ năng đọc hiểu
Để đọc hiểu bài đọc thêm văn học, ngoài tri thức đọc hiểu cần có kĩ năng đọc hiểu văn
bản văn học. Muốn hình thành kĩ năng đọc hiểu văn bản văn học, người đọc phải thường
xuyên đọc nhiều tác phẩm văn học, biết tra cứu, học hỏi, biết tưởng tượng, suy ngẫm, tạo
thành thói quen phân tích và thưởng thức văn học.
Người đọc phải có kĩ năng đọc chính xác, kĩ năng đọc phân tích, kĩ năng đọc sáng tạo và
kĩ năng đọc tích luỹ trong đọc hiểu TPVC.
Đọc để hiểu đó là đích hướng tới của con người có vốn văn hoá kiến thức.
1.2.4. Ý nghĩa của đọc hiểu bài đọc thêm văn học trong đổi mới phương pháp dạy học
văn
1.2.4.1. Đọc hiểu bài đọc thêm văn học là cách thức phát huy tính tích cực chủ động của
học sinh trong quá trình dạy học văn
Cảm thụ tác phẩm văn chương trong bài đọc thêm văn học là một hoạt động sáng tạo,
một quá trình tích cực vận dụng vốn sống và những năng lực tư duy của học sinh. Học
sinh có cơ hội để tự mình suy nghĩ, cảm nhận bằng sự trải nghiệm của chính bản thân
hiện nay.
1.2.5.2. Giáo viên là người hướng dẫn tổ chức học sinh tự học bài đọc thêm văn học
bằng con đường đọc hiểu
Trong quá trình đọc hiểu bài đọc thêm văn học, học sinh với tư cách chủ thể nhận thức
có những vận động tự thân chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng của tác phẩm, biến nó thành
của mình, giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức, dẫn dắt, hướng dẫn học sinh tự
học. Người giáo viên tổ chức, dẫn dắt qúa trình tiếp cận văn bản thể hiện ở năng lực
chiếm lĩnh văn bản, nghĩa là đi từ tri giác ngôn ngữ tìm hiểu các tầng lớp ý nghĩa của từ,
câu, đoạn, thức tỉnh cảm xúc bằng sức mạnh của hình dung, tưởng tượng để tái tạo hình
tượng chiếm lĩnh giá trị tư tưởng ẩn đằng sau hình tượng. Từ hiểu sâu văn bản, người
giáo viên từng bước hướng dẫn học sinh tự học, tự khám phá văn bản. CHƢƠNG 2
CÁCH THỨC HƢỚNG DẪN HỌC SINH ÐỌC HIỂU BÀI ĐỌC THÊM VĂN
HỌC TRONG CHƢƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(BAN CƠ BẢN)
2.1. Bài đọc thêm văn học trong chƣơng trình và sách giáo khoa hiện hành
2.1.1. Thống kê và hệ thống hoá những bài đọc thêm văn học trong chương trình
trung học phổ thông
2.1.1.1. Những bài đọc thêm văn học trong chương trình lớp10 ban cơ bản.
2.1.1.2. Những bài đọc thêm văn học trong chương trình lớp 11 ban cơ bản
2.1.1.3. Những bài đọc thêm văn học trong chương trình lớp 12 ban cơ bản
2.1.2. Đặc điểm và vị trí của bài đọc thêm văn học trong chưong trình ngữ văn trung
học phổ thông
2.1.2.1. Đặc điểm của bài đọc thêm văn học trong chương trình ngữ văn trung học phổ
thông
thuật của các tác phẩm văn học trong và ngoài nước.
Bài đọc thêm văn học góp phần minh hoạ cho những nhận định về văn học trong các bài
văn học sử.
Bài đọc thêm văn học còn làm rõ phong cách của nhà văn.
Bài đọc thêm văn học giúp rèn luyện năng lực đọc và tự học cho học sinh THPT. Rèn
luyện thói quen tự đọc, tự nghiên cứu, tự học giúp học sinh chủ động trong việc tiếp thu
kiến thức, nâng cao năng lực tư duy và sáng tạo của học sinh trong học tập. Bài đọc thêm
văn học tạo cơ hội để học sinh được tự nói lên những cảm nhận, những suy nghĩ của
chính mình trước một TPVC. HS có lối đọc, cách đọc của riêng mình. HS tự tìm thấy sự
đồng cảm, hứng thú cá nhân, qua đó giáo viên sẽ thấy được những năng lực thực sự của
học sinh và học sinh được bộc lộ chính mình, không phải nói theo sách vở tham khảo, nói
theo thầy cô giáo mà là sự trải nghiệm, sự rung cảm của bản thân.
2.1.3.2. Yêu cầu
Đối với học sinh, bài đọc thêm văn học yêu cầu các em phải tự đọc, tự học ở nhà. Đọc
tác phẩm, tìm hiểu những giá trị nội dung và nghệ thuật thông qua việc trả lời các câu hỏi
trong phần hướng dẫn đọc thêm ở cuối mỗi bài trong SGK.
Đối với giáo viên, bài đọc thêm văn học yêu cầu giáo viên phải hướng dẫn học sinh tự
học là chính. Giáo viên không làm thay trên lớp mà kiểm tra khả năng tự đọc, tự học của
học sinh ở nhà và điều chỉnh cho hợp lí những nội dung kiến thức cần đạt trong từng bài
cụ thể.
2.1.4. Tiêu chí lựa chọn các tác phẩm văn học vào bài đọc thêm văn học trong chương
trình trung học phổ thông
Có thể khẳng định các tác phẩm văn học trong bài đọc thêm văn học là những tác phẩm
có giá trị nội dung và nghệ thuật cao trong từng giai đoạn lịch sử văn học. Các tác phẩm
này có mặt song hành cùng với tác phẩm được chọn giảng chính thức, thường được đặt
sau cụm thể loại. Các văn bản được lựa chọn phù hợp với quan niệm văn học ở từng giai
đoạn lịch sử văn học.Các văn bản là những tinh hoa nghệ thuật, mang tính chất tiêu biểu,
vừa phản ánh được sự phong phú, đa dạng của văn học Việt Nam và thế giới. Không
những bồi dưỡng kiến thức về văn học mà còn thiết dụng trong đời sống. Đó là dữ liệu
quan trọng để các phân môn làm văn và tiếng Việt có thể khai thác, vận dụng bồi dưỡng
khác, học sinh cho rằng các tác phẩm học chính đã quá nhiều, nên không còn thời gian
giành cho các tác phẩm đọc thêm. Các em cũng không có nhiều tài liệu tham khảo, giờ
học bài đọc thêm cũng chưa thực sự lôi cuốn được các em vì phần lớn thường diễn ra đơn
điệu, nhàm chán và tẻ nhạt. Do đó bài đọc thêm chưa phát huy được hết tác dụng của nó
trong việc cung cấp mở rộng kiến thức văn học và đặc biệt là nâng cao khả năng đọc và
tự học của học sinh.
2.2.2.2. Về phía giáo viên
Đối với bài đọc thêm, giáo viên hầu như rất ít tư liệu tham khảo, chưa có những cách
thức giảng dạy cụ thể đối với bài đọc thêm nên giáo viên thường tuỳ vào từng bài mà
dạy, chủ yếu là giúp học sinh trả lời các câu hỏi trong phần hướng dẫn đọc thêm. Giáo
viên chưa biết cách lôi cuốn học sinh bằng những hoạt động sáng tạo để làm phong phú
và hấp dẫn hơn các giờ giảng của mình như sử dụng công nghệ thông tin, thảo luận nhóm
hay thi đọc diễn cảm
Giáo viên chưa thực sự nhận thức rõ được mục đích và ý nghĩa quan trọng của bài đọc
thêm văn học trong việc nâng cao năng lực đọc, khả năng tự học của học sinh và chính
bài đọc thêm văn học là nơi để giáo viên kiểm tra được sự cảm thụ văn chương của học
sinh một cách rõ rệt nhất.
2.2.2.3. Về quan điểm chỉ đạo của Bộ giáo dục
Trước đây phần đọc thêm vẫn được sử dụng trong các bài kiểm tra và thi cử (tất nhiên
số lượng là hạn chế). Tuy nhiên, từ khi thực hiện chương trình giảm tải bắt đầu từ năm
học 2011-2012 thì các bài đọc thêm không nằm trong phạm vi thi cử, thậm chí có một số
bài bị loại ra khỏi chương trình. Việc giảm tải chương trình dẫn đến số lượng các bài đọc
thêm tăng lên trong khi đó chất lượng dạy và học chúng thì ngày càng giảm sút. Điều này
đã tác động không nhỏ tới việc dạy và học của thầy và trò, càng khiến bài đọc thêm mất
dần sự quan tâm và chỗ đứng trong dạy và học văn.
2.3. Các biện pháp hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu bài đọc thêm văn học trong chƣơng
trình Ngữ văn trung học phổ thông
Để hướng dẫn HS tự học bài đọc thêm văn học đòi hỏi bản thân GV phải thấy rõ trách
nhiệm của mình trong việc nâng cao năng lực đọc cho HS.
Đọc hiểu nhấn mạnh hoạt động đọc. Đọc là một hoạt động tự chiếm lĩnh văn bản của HS,
đọc thêm văn học HS cần biết cách vận dụng tri thức văn học vào quá trình tự học dưới
sự hướng dẫn của GV. Sau đây là những nội dung cơ bản của tri thức văn học mà GV có
thể hướng dẫn HS vận dụng trong quá trình chiếm lĩnh TPVC.
* Tri thức về mối quan hệ giữa tác phẩm và thời đại
* Tri thức về TPVC và quá trình tiếp nhận
* Tri thức về tác giả văn học
* Tri thức về giai đoạn văn học
* Tri thức về trào lưu và trường phái văn học
* Tri thức về phương pháp sáng tác
* Tri thức về thi pháp học
2.3.3. Hƣớng dẫn HS rèn luyện bốn kĩ năng đọc hiểu cơ bản
Để đọc hiểu bài đọc thêm văn học cần có kĩ năng đọc hiểu văn bản văn học. Muốn hình
thành kĩ năng đọc hiểu văn bản văn học, HS phải thường xuyên đọc nhiều tác phẩm văn
học, biết tra cứu, học hỏi, biết tưởng tượng, suy ngẫm, tạo thành thói quen phân tích và
thưởng thức văn học. Ngoài năng khiếu bẩm sinh tuy là điều cần thiết và đáng quí, song
có học cách đọc hiểu văn bản văn học thì năng khiếu ấy mới phát huy tác dụng đầy đủ.
HS phải có kĩ năng đọc chính xác, kĩ năng đọc phân tích, kĩ năng đọc sáng tạo và kĩ
năng đọc tích luỹ trong đọc hiểu TPVC. Đây cũng là bốn kĩ năng quan trọng nhất mà GV
cần rèn luyện cho HS trong quá trình hướng dẫn HS đọc hiểu các bài đọc thêm văn học.
Hoạt động tiếp cận tác phẩm văn chương bao giờ cũng bắt đầu bằng hành động đọc.
Đọc theo phương thức nào đối với một tác phẩm văn chương thì vẫn phải đi đến cùng
một mục đích chung là hiểu văn, có hiểu thì mới phát hiện ra được những điểm đặc sắc,
thú vị của tác phẩm. Việc đọc trong từng trường hợp cụ thể phải được cụ thể hóa thành
những công đoạn, những thao tác, tính mục đích và tính hiệu quả để góp phần tích cực
hóa hoạt động tiếp nhận tác phẩm.
2.3.4. Tiến trình tổ chức dạy học bài đọc thêm văn học
Bước HS chuẩn bị bài ở nhà có một ý nghĩa quan trọng trong việc đọc hiểu ở trên lớp.
Hoạt động tự học của HS sẽ không thể thực hiện được nếu không có khâu này. Do vậy,
GV muốn thực hiện hiệu quả giờ đọc hiểu bài đọc thêm văn học phải dặc biệt chú ý. Lâu
nay, GV vẫn còn coi nhẹ hoạt động này, lơ là việc kiểm tra hoặc nếu muốn cũng không
thể ở trường THPT, qua đó khẳng định tính khả thi của các biện pháp đã được đề xuất
trong dạy học bài đọc thêm văn học ở trường THPT. Đặc biệt để học sinh tự học thông
qua sự hướng dẫn của giáo viên trên cơ sở vận dụng lí thuyết đọc hiểu để nâng cao kĩ
năng đọc và khả năng tự học của học sinh.
3.2. Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm thiết kế
Chúng tôi lựa chọn đoạn trích “Lời tiễn dặn” (Trích “Tiễn dặn người yêu” -
Truyện thơ dân tộc Thái) – bài đọc thêm trong chương trình Ngữ văn lớp 10 ban cơ bản
để thiết kế giáo án thực nghiệm xuất phát từ đối tượng và địa bàn thực nghiệm thiết kế.
- Đối tượng thực nghiệm: Học sinh lớp 10 ban cơ bản.
- Trường THPT Thị xã Nghĩa Lộ - Nghĩa Lộ - Yên Bái.
Trường THPT Thị xã Nghĩa Lộ nằm trên địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc Thái
sinh sống. Phong tục tập quán và các nét văn hoá truyền thống của người Thái vẫn được
bảo tồn và lưu giữ, đặc biệt truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” là món ăn tinh thần không
thể thiếu của người Thái. Do đó đây là tác phẩm khá gần gũi với các em học sinh. Tuy
nhiên lâu nay khi khai thác tác phẩm này giáo viên thường không chú ý đến khai thác
nguồn tri thức đọc hiểu khá phong phú của học sinh và khả năng tự đọc hiểu của các em
để trên cơ sở đó hướng dẫn học sinh tự mình đọc hiểu và chiếm lĩnh tác phẩm.
3.3. Kế hoạch thực nghiệm
3.3.1. Chọn đối tượng thực nghiệm
Chúng tôi chọn 2 lớp 10 để thực hiện kế hoạch thực nghiệm:
- Lớp 10A2 là lớp đối chứng.
- Lớp 10A3 là lớp thực nghiệm.
3.3.2. Gặp giáo viên trao đổi yêu cầu, dự giờ và lấy giáo án đối chứng
2.3.3. Giáo án thực nghiệm
- Địa điểm: Lớp 10A3 – Trường THPT Thị xã Nghĩa Lộ - Nghĩa Lộ - Yên Bái.
- Văn bản: Đoạn trích “Lời tiễn dặn” (Trích truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” - Truyện
thơ dân tộc Thái) - SGK Ngữ văn 10, tập 1, ban cơ bản, Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên),
Nxb Giáo dục, 2008.
THIẾT KẾ LÊN LỚP:
LỜI TIỄN DẶN
Tác phẩm này là một tác phẩm dài, rất nhiều ý nghĩa nhưng học sinh chỉ được đọc
thêm trong thời lượng một tiết ở trên lớp, thậm chí có giáo viên chỉ hướng dẫn đọc trong
nửa tiết nên khó có thể giúp học sinh tự mình khám phá hết được những giá trị đặc sắc về
mặt nội dung và nghệ thuật của đoạn trích cũng như của tác phẩm.
Học sinh vẫn quen với cách học thụ động, hiểu và nghĩ theo thầy, theo sách nên
còn khá rụt rè, không tự tin khi bộc lộ những suy nghĩ của bản thân. Vì vậy, việc khuyến
khích học sinh tự do trao đổi, phát biểu còn có nhiều hạn chế.
3.4.2. Điểm mới của giáo án
Giáo án của chúng tôi thiết kế theo cách hướng dẫn học sinh tự học trên cơ sở đọc
hiểu TPVC.
Giáo viên không đưa cho học sinh những kiến thức có sẵn, không áp đặt học sinh
mà chủ yếu là xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt tập trung vào những chi tiết
nghệ thuật có giá trị, để học sinh khám phá, phát hiện. Ngoài ra, những câu hỏi để học
sinh trao đổi, thảo luận, bày tỏ những suy nghĩ cá nhân là vô cùng quan trọng. Giáo án
hướng dẫn học sinh tự bộc lộ bằng những câu hỏi như: nêu cảm nhận, nêu ấn tượng, nêu
đánh giá suy nghĩ của bản thân qua tác phẩm…để xem sự phản ứng của học sinh về tác
phẩm. Học sinh có thể tự do bày tỏ ý kiến của riêng mình. Những ý kiến này có thể là
những suy nghĩ, cảm nhận hết sức riêng tư. Giáo án xác định vai trò của giáo viên vẫn
là người hướng dẫn học sinh tự học, còn học sinh sẽ là những bạn đọc sáng tạo khám
phá tác phẩm văn chương tích cực, chủ động nhất.
Giáo án đã cố gắng đi vào khai thác những tri thức đọc hiểu đã có của học sinh
liên quan tới tác phẩm, đặc biệt là những tri thức về văn hoá, văn học giúp các em có
thể kết nối tác phẩm với nguồn tri thức phong phú của cuộc sống.
3.5. Đánh giá kết quả thể nghiệm
Qua thực nghiệm ở lớp 10A3, đối chiếu với lớp đối chứng là lớp 10A2, chúng tôi
thấy học sinh hào hứng hơn với đoạn trích “Lời tiễn dặn”. Ỏ lớp 10A3 dưới sự hướng dẫn
tự học của GV, HS đã chủ động và tích cực hơn trong phát biểu những cảm nhận và suy
nghĩ của mình về tác phẩm, các em đã biết vận dụng những tri thức đọc hiểu đã tích lũy
được của bản thân để đọc hiểu tác phẩm. Qua giờ hướng dẫn HS tự học trên lớp, HS đã
có thể chủ động tự học ở nhà không chỉ là một tác phẩm mà còn có khả năng tự mình đọc
vọng những kết quả nghiên cứu trong luận văn sẽ góp một tiếng nói để thay đổi nhận thức
của cả GV và HS đối với bài đọc thêm văn học, để chúng thực sự phát huy được tác dụng
của mình trong việc dạy học văn hiện nay.
References
1. Hoàng Anh. Luật Giáo dục năm 2005. Nxb Lao Động, 2005
2. Vũ Quốc Anh cùng nhiều tác giả. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn
Ngữ văn.Nxb Giáo Dục, 2010
3. Lê Huy Bắc. Đọc hiểu “Đánh nhau với cối xay gió”. Tạp chí Nghiên cứu Văn học. số
6/2005.
4. Nguyễn Gia Cầu. Vấn đề hiện đại hoá phương pháp dạy học Văn. Nghiên cứu, 45.
Giáo dục số 4/1994.
5. Nguyễn Gia Cầu. Những khuynh hướng và thành tựu của khoa học phương pháp dạy
học văn trong hai thập kỷ 70 và 80. Luận án PTS Khoa học Sư phạm- Tâm lý. ĐHSP Hà
Nội 1996.
6. Nguyễn Viết Chữ. Về việc đổi mới dạy văn ở Đại học sư phạm. Tạp chí Nghiên cứu
giáo dục số 2/2001.
7. Nguyễn Viết Chữ. Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo thể loại).
NXBĐHSP, 2004.
8. Nguyễn Đình Chú. Bàn thêm về phương pháp dạy văn. Tạp chí giáo dục số 47/2002.
9. Phạm Văn Đồng. Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện. Nghiên cứu giáo dục
số 28
10.Trần Thanh Đạm. (Chủ biên). Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể. NXB Giáo dục
Hà Nội 1971.
11. Hà Minh Đức (Chủ biên). Lý luận văn học. NXB Giáo dục 1999.
12. Đảng Cộng Sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb
Chính Trị Quốc gia, 2006
13. Hà Nguyễn Kim Giang. Phương pháp đọc diễn cảm. NXB ĐHSP Hà Nội 2007.
14. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên). Từ điển thuật ngữ văn
học. NXB Giáo dục 2006.
2007.
34. Nguyễn Thanh Hùng, Lê Thị Diệu Hoa. Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT
(những vấn đề cập nhật). NXB ĐHSP Hà Nội 2007.
35. Nguyễn Thanh Hùng. Cơ cấu chuyển vào trong và tư duy đồng tại trong dạy học tác
phẩm văn chương. Tạp chí văn học số 4/2005.
36. Nguyễn Thanh Hùng. Dị ứng về cái ác và những luận đề cay đắng về giáo dục. Tạp
chí tác phẩm mới số 11/1993.