Từ hướng tiếp cận thi pháp, vận dụng vào việc giảng dạy tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong chương trình trung học phổ thông - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐINH THỊ DOANH

TỪ HƢỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP, VẬN DỤNG VÀO VIỆC
GIẢNG DẠY TÁC PHẨM NGUYỄN MINH CHÂU
TRONG CHƢƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số : 60 14 10
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

em trong quá trình học tập, thực hiện đề tài.
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp cùng những người thân yêu
trong gia đình đã giành cho tôi sự quan tâm, khích lệ và chia sẻ trong suốt thời gian
học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 11.2010.
Tác giả luận văn Đinh Thị Doanh.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GS Giáo sư
PGS.TS Phó giáo sư- tiến sĩ
GV Giáo viên
HS Học sinh
THPT Trung học phổ thông
SGK Sách giáo khoa
SGV Sách giáo viên

7
4.Phạm vi nghiên cứu. ………………………………………………….
7
5. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………
8
6. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………
8
7. Đóng góp của luận văn……………………………………………….
8
8. Cấu trúc của luận văn…………………………………………………
8
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ DẠY VĂN THEO HƢỚNG THI
PHÁP HỌC VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NGUYỄN
MINH CHÂU CÙNG SỰ BIẾN ĐỔI VỀ THI PHÁP………………. 9
1.1. Một số vấn đề dạy văn theo hướng Thi pháp học…………………
9
1.2. Đổi mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975- một nhà
văn “mở đường tinh anh” và “đi được xa nhất”…………………………

17
1.2.1. Đổi mới ở quan niệm nghệ thuật và tư duy nghệ thuật…………
17
1.2.2. Những đổi mới trong thi pháp thể loại của Nguyễn Minh Châu…
19
1.3. Chiếc thuyền ngoài xa - một tác phẩm khẳng định tài năng và vị trí
của nhà văn Nguyễn Minh Châu………………………………………


ngoài xa………………………………………………………………………….

57
2.3.1. Đọc kết hợp khơi gợi hình ảnh và tâm trạng……………………
57
2.3.2. Sử dụng linh hoạt các dạng câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực,
tự giác của học sinh……………………………………………………

61
2.3.3. Hướng dẫn học sinh tiếp cận đồng bộ tác phẩm …………………
64
2.3.4. Hướng dẫn học sinh cắt nghĩa tác phẩm , so sánh để mở rộng và
khắc sâu ấn tượng của học sinh về tác phẩm …………………………

66
2.3.5. Kết hợp các con đường để phân tích tác phẩm…………………
72
2.3.6. Khơi gợi để học sinh bình giá…………………………………….
80
2.3.7. Tạo tình huống học tập đối thoại từ mở đầu đến kết thúc giờ dạy.
87
Chƣơng 3: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG VỀ TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN
NGOÀI XA……………………………………………………………………

91
3.1. Giáo án thể nghiệm ………………………………………………
91
3.2. Thực nghiệm ……………………………………………………….
116
3.2.1. Mục đích thực nghiệm……………………………………………

trình đó cũng phải luôn sáng tạo, mà con đường ngắn nhất dẫn chúng ta tiệm
cận với quan điểm đó là phương pháp.
Lựa chọn đề tài “Từ hướng tiếp cận thi pháp, vận dụng vào việc giảng
dạy tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong chương trình trung học phổ thông”
làm công trình nghiên cứu khoa học, chúng tôi dựa vào các lí do sau:
1.1. Do yêu cầu của xã hội đối với dạy học văn hiện nay
Thực tiễn giảng dạy đã chỉ ra rằng dạy học văn ở nhà trường phổ thông
Việt Nam hiện nay bên cạnh những thành công đáng kể vẫn còn bộc lộ không
ít những hạn chế về nhiều mặt. Thực trạng giờ dạy văn còn đơn điệu, tẻ nhạt
khiến học sinh không hứng thú học văn, điều đó dẫn đến chất lượng các giờ
dạy văn ngày càng giảm sút, các TPVH có giá trị chưa thực sự tìm được bến
đỗ xứng đáng trong lòng bạn đọc. Tất cả những điều đó khiến cho xã hội đang
đổ dồn mọi con mắt và dư luận vào dạy và học môn văn, mạnh mẽ hơn, còn
trở thành một làn sóng phản đối quyết liệt vào chương trình, SGK và PPDH
bộ môn: dường như cả xã hội đang lên tiếng yêu cầu phải xem xét lại nội
dung chương trình, SGK và PPDHTPVC trong nhà trường hiện nay. Điều đó
khiến cho các nhà chuyên môn, các nhà sư phạm, các nhà phương pháp và
nhất là những GV trực tiếp giảng dạy Ngữ văn không khỏi giật mình.
1.2. Do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học văn nói riêng
Mục đích của việc đổi mới PPDH ở nhà trường phổ thông hiện nay là thay đổi
lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo những phương pháp tích
cực nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn
luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, khả năng vận dụng kiến

2
thức vào thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập; làm cho
Học là một quá trình kiến tạo, HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập,
khai thác và xử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất.
Có thể khẳng định, mục đích cao nhất của việc đổi mới phương pháp là giúp
HS có thể chủ động tự học dưới sự hướng dẫn của GV. Trong giờ học, HS

hỏi có cách dạy, cách học phù hợp.
1.4. Nguyễn Minh Châu - một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại
nửa sau thế kỷ XX. Đặc biệt ông là người “mở đường tinh anh và tài năng”
người “đi được xa nhất”, đặt những viên gạch đầu tiên làm nền móng cho công
cuộc đổi mới văn học nước nhà. Truyện ngắn CTNX là TP mới được đưa vào
chương trình THPT nên chưa có sự thống nhất về cách hiểu, cách đánh giá,
cách giảng dạy.
Với tất cả những lí do như trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên
cứu khoa học “Từ hướng tiếp cận thi pháp, vận dụng vào việc dạy học tác phẩm
Nguyễn Minh Châu trong chương trình trung học phổ thông” như là một niềm
say mê và cũng là một thử thách, một hướng tìm tòi nhằm nâng cao hiệu quả
công tác trong thực tế giảng dạy của bản thân, đồng thời hi vọng góp một tiếng
nói nhỏ bé vào công cuộc đổi mới PPDH văn trong nhà trường hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Là một nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, kể từ truyện
ngắn đầu tay được đăng lần đầu năm 1960, cho đến khi tạ thế năm 1989,
Nguyễn Minh Châu đã có 30 năm hoạt động trên các lĩnh vực báo chí và văn
học nghệ thuật. Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà,
Nguyễn Minh Châu đã được nhận nhiều giải thưởng giá trị. Toàn bộ sự
nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu được in trong Nguyễn Minh Châu
toàn tập (5 tập) do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2001 là một sự trân
trọng đối với Nguyễn Minh Châu của hậu thế, đồng thời khẳng định vị trí của
ông trong nền văn học dân tộc.

4
Các TP của Nguyễn Minh Châu luôn nhận được những tình cảm quý báu
của độc giả và giới phê bình văn học. Nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên
cứu, nhiều chuyên luận dày công về tác giả và TP của Nguyễn Minh Châu đã
chứng minh điều đó. Chỉ trong khoảng 5 năm, từ Cửa sông (1967) đến Dấu
chân người lính (1972) đã có hơn 17 bài phê bình đăng rải rác trên các báo và

Hạnh với Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con
người, Lã Nguyên tìm hiểu Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi
mới tư duy nghệ thuật. Đặc biệt, tác giả Tôn Phương Lan đề cập đến nhiều
phương diện cách tân nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu khi tìm hiểu phong
cách nghệ thuật của ông v.v…Ngoài ra còn nhiều bài báo, bài viết, nhận xét,
nhận định khác nữa về vấn đề này, mà theo chúng tôi có thể lấy làm dữ kiện
để phát huy, phát triển tư duy, trí thông minh, óc sáng tạo của HS.
2.2. Tác giả Nguyễn Minh Châu trở nên quen thuộc với GV và HS THPT từ
lâu, với truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng – một TP viết về đề tài chiến tranh
mà đẹp như một áng thơ trữ tình. Vấn đề giảng dạy TP này cũng đã được đề
cập đến ở nhiều công trình, bài viết. Riêng chuyên ngành phương pháp cũng
đã nghiên cứu TP hoặc từng khía cạnh của TP để giúp việc giảng dạy đạt hiệu
quả. Có thể kể đến Cái hay, cái đẹp của Mảnh trăng cuối rừng, (Nguyễn
Thanh Hùng); Vẻ đẹp của Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Văn Long); Vẻ đẹp
của nhân vật Nguyệt và nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Minh Châu
(Nguyễn Văn Bính); Cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy (Nguyễn Hòa); Nghệ thuật
kể chuyện trong Mảnh trăng cuối rừng (Thanh Tú) Nhưng trong chương
trình Ngữ văn 12 mới, truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng được thay bằng
truyện ngắn CTNX. Một vấn đề lại được đặt ra là việc dạy học TP mới này
như thế nào? Trong các chuyên luận, bài viết CTNX đã được đề cập đến ở khá
nhiều góc độ. Ở phương diện quan niệm nghệ thuật, tư duy nghệ thuật Trần
Đình Sử trong bài viết “Bến quê”- một phong cách nghệ thuật giàu chất triết

6
lý đã đánh giá “CTNX là truyện về nghịch lý của đời thường. Và từ TP ta thấy
toát lên những suy nghĩ da diết về chân lý nghệ thuật và đời sống”. Nhà
nghiên cứu đã kết luận khái quát: “Rõ ràng cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn
Minh Châu đang mang lại những hiện tượng mới, chủ đề mới có ý nghĩa bức
thiết với đời sống hôm nay” [47]. Nguyễn Trọng Hoàn trong Tiếp tục hành
trình đọc Nguyễn Minh Châu đã viết “CTNX phê phán cái nhìn lãng mạn một

của Nguyễn Minh Châu (Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục của Nguyễn Thị Lan
Hương, 2004); Vận dụng quan điểm dạy học phát triển trí thông minh của học sinh
vào dạy học “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu (Luận văn thạc sỹ
khoa học giáo dục của Đinh Văn Đoàn, 2008); Định hướng hoạt động học sáng tạo
cho học sinh lớp 12 khi dạy học “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
(Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục của Hoàng Văn Vĩnh, 2008), nhưng chưa có
công trình, bài viết, đề tài nào đi sâu vào vấn đề giảng dạy truyện ngắn này từ
hướng tiếp cận thi pháp một cách đầy đặn.
Song những công trình nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Minh Châu và
truyện ngắn CTNX là những tài liệu vô cùng quý báu giúp chúng tôi thực hiện
đề tài nghiên cứu khoa học này.
3. Đối tượng nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đổi mới tư duy nghệ thuật
của Nguyễn Minh Châu sau 1975.
+ Truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng, CTNX.
+ Việc giảng dạy TP Nguyễn Minh Châu cho HS lớp 12 từ hướng tiếp
cận thi pháp.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là đặc trưng thi pháp thể loại, thi pháp
tác giả, hành trình sáng tạo nghệ thuật Nguyễn Minh Châu và sự biến đổi về
thi pháp; và từ hướng tiếp cận thi pháp soạn giáo án thể nghiệm với truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu (qua tác phẩm CTNX).

8
5. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết về thi pháp thể loại, thi pháp tác giả vào việc dạy học
TP Nguyễn Minh Châu trong nhà trường trung học phổ thông nhằm góp phần
đổi mới PPDH Ngữ văn và thực hiện những nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu
dài mà ngành giáo dục đã đặt ra: không dạy đọc - chép; không tiêu cực trong
thi cử qua đó nhằm giải quyết một số khó khăn mà chương trình, SGK, và

1.1. Một số vâ
́
n đê
̀
da
̣
y ho
̣
c văn theo hươ
́
ng Thi pha
́
p ho
̣
c
Thi pháp học đang thu hút sự quan tâm của giới học đường. Nó xuất
hiện ở Hy Lạp từ thời cổ đại với Nghệ thuật thi ca của Aristote và nó chỉ trở
thành một bộ môn khoa học vào đầu thế kỷ XX ở Nga rồi dịch chuyển sang
Âu - Mỹ và phổ biến khắp thế giới. Ở Việt Nam trước 1975, Thi pháp học đã
thâm nhập vào miền Nam nhưng chưa có điều kiện phổ biến ở miền Bắc, mãi
đến sau Đổi mới, nó mới được chú ý và nhanh chóng trở thành “mốt” thời
thượng được nhiều người vận dụng. Thi pháp học được dạy ở bậc Cao học,
Đại học và có trong sách bồi dưỡng thường xuyên GV trung học. Tinh thần
Thi pháp học đang thấm dần trong SGK, trong giờ dạy - học văn và trong bài
làm văn HS.
Hiện nay, có nhiều cách hiểu về Thi pháp học. Trong nhà trường, thi pháp
học là cách thức phân tích TP bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến
những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác,
nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội… Thi pháp học chỉ chú
ý đến những yếu tố hình thức TP như: hình tượng nhân vật - không gian - thời

phóng khoáng của tác giả… Nhiều nhà văn thích sử dụng một thể loại nhất
định và chính điều này góp phần làm nên phong cách của nhà văn đó.
Nhân vật là hình tượng trung tâm của TP. Thi pháp học xem xét nhân
vật ở ba khía cạnh: tính cách nhân vật, quan niệm nghệ thuật về con người,
nghệ thuật miêu tả nhân vật. Khi phân tích tính cách nhân vật, cần lưu ý đến
kiểu nhân vật để có cách phân tích cho phù hợp. Chẳng hạn, phân tích truyện
ngắn hiện đại thì cần chú ý đến kiểu nhân vật tính cách, còn phân tích truyện
cổ tích thì nên chú ý loại hình nhân vật chức năng. Phần quan niệm nghệ thuật
về con người thường ít được đặt thành mục riêng mà chỉ nói lướt qua ở phần

11
tiểu dẫn, chủ đề hoặc ghi nhớ. Vì trong thực tế, không phải TP nào cũng thể
hiện rõ nét nội dung này. Nhưng đối với những TP thể hiện khá rõ quan niệm
nghệ thuật về con người thì cần phải đặt nó thành mục riêng, như: Số phận
con người, A.Q chính truyện, Đôi mắt, Một người Hà Nội, Bến quê, CTNX…
Nên lưu ý rằng, quan niệm về con người ở đây toát ra từ văn bản nghệ thuật
chứ không phải áp đặt từ bên ngoài. Mặc dù biết rằng, quan niệm của tác giả
về con người trong TP và ở ngoài đời có thể không thống nhất nhau nhưng
tôn trọng tính nghệ thuật khách quan, chúng ta vẫn căn cứ vào văn bản là
chính. Muốn biết được tính cách nhân vật và quan niệm về con người, cần
phải phân tích nghệ thuật thể hiện nhân vật. Đó là căn cứ vào lai lịch, nghề
nghiệp, hình dáng, hành động, nội tâm, ngôn ngữ nhân vật, cách xưng hô và
đánh giá của tác giả và các nhân vật khác về nhân vật đó, mối quan hệ của
nhân vật với mọi người và môi trường xung quanh, đồ vật mà nhân vật
thường sử dụng, sở thích của nhân vật… Căn cứ vào các yếu tố này mà suy ra
tính cách nhân vật và triết lý nhân sinh cũng như tài nghệ tác giả.
“Hình tượng thế giới” không chỉ có nhân vật mà còn có không gian,
thời gian. Thi pháp học chỉ chú ý những chi tiết không gian, thời gian nào có
ý nghĩa, góp phần thể hiện cuộc sống con người, chúng vừa mang tính quan
niệm lại vừa như một thủ pháp nghệ thuật (lấy cảnh tả tình). Không gian và

Trong văn học có nhiều loại kết cấu: không gian - thời gian - điểm
nhìn - nhân vật - chi tiết - ngôn từ… nhưng quan trọng hơn cả là kết cấu cốt
truyện. Lâu nay, trong giờ dạy – học văn, GV và HS thường có thao tác tìm
hiểu bố cục TP để dễ phân tích. Bố cục TP có khi đã nằm ngay trong kết cấu
thể loại, như các phần đề - thực - luận – kết trong thơ Đường. Kết cấu của thể
loại hịch, cáo mang tính nghệ thuật cao, bản thân của bố cục đã mang tính
hùng biện. Đó là tính nội dung của hình thức nghệ thuật. Những TP kể chuyện
theo trật tự tuyến tính thì tìm bố cục rất dễ. Nhưng nhiều truyện hiện đại
thường theo lối trần thuật phi tuyến tính, đa tuyến nên chia bố cục không dễ

13
dàng. Chẳng hạn, truyện Chí Phèo không thể chia đoạn theo thời gian trần
thuật được mà phải chia theo hình tượng nhân vật: Chí Phèo – Bá Kiến, rồi
trong Chí Phèo lại chia theo thời gian sự kiện: lúc còn lương thiện – lúc bị lưu
manh hóa – lúc ý thức phục thiện. Ngoài ra, cần phải cho thấy dụng ý của tác
giả khi đảo lộn thứ tự sự kiện. Chú ý khai thác các chi tiết đắt có vai trò quan
trọng trong việc tạo tình huống truyện như chi tiết bát cháo hành. Trong Vợ
nhặt, chi tiết nhặt vợ là ngẫu nhiên mà làm thành chủ đề TP. Bởi vậy, cần chú
ý các chi tiết ngẫu nhiên và tất nhiên, bình thường và bất thường, những biến
cố, tình huống Có những cốt truyện độc đáo do nhà văn sáng tạo ra nhưng
cũng có những cốt truyện mang tính phổ biến, lặp lại một số mô típ nhất định,
ta cũng cần chỉ ra ý nghĩa phổ quát của nó. Phân tích cốt truyện ngụ ngôn, có
thể chia ra nội dung hiển ngôn và nội dung hàm ngôn. Nhiều nhà Thi pháp
học phân chia cốt truyện cổ tích thành nhiều bước, ứng với mỗi chức năng
khác nhau. Truyện Cây khế có thể chia ra 11 chức năng, bước cuối cùng có
chức năng trừng phạt kẻ ác. Kết thúc có hậu là đặc trưng của thể loại truyện
cổ tích.
Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng của Thi pháp học. Không phải ngẫu
nhiên mà những người khởi xướng Thi pháp học là những nhà ngôn ngữ học.
Ngôn ngữ văn học có tính tổ chức cao, giàu hình ảnh, đa nghĩa và mang dấu

5. Điểm nhìn không gian: gồm có vị trí nhìn, khoảng cách nhìn, trường nhìn,
cách nhìn…; 6. Điểm nhìn thời gian: nhìn liền mạch hay đứt quãng, nhìn kỹ
hay nhìn lướt, cách sắp xếp các thời quá khứ - hiện tại – tương lai…; 7. Điểm
nhìn tu từ: là cách nhìn độc đáo mang tính phát hiện của tác giả về sự vật hiện
tượng. Ví dụ: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, “Con gió xinh thì
thào trong lá biếc”… (Vội vàng). Ranh giới các loại điểm nhìn trên chỉ mang
tính tương đối và trong một TP có thể có nhiều điểm nhìn khác nhau. SGK
Ngữ văn 12, tập 2, có câu hỏi: “Đoạn trích Những đứa con trong gia đình
được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn của nhân vật nào?”. Trong TP này có

15
hai điểm nhìn của tác giả và nhân vật, nhiều khi đan xen, khó tách biệt rạch
ròi. Điểm nhìn có thể làm thành kết cấu và chủ đề của TP như truyện ngắn
Đôi mắt của Nam Cao.
Thi pháp học cũng nghiên cứu cả hình tượng tác giả. Người xưa nói:
“Văn như kỳ nhân”, xem văn là biết được người, đọc TP là biết ngay tác giả.
Nhà văn có thể xuất hiện trong TP qua cách xưng “tôi” hoặc có thể ẩn mình.
Để biết phong cách của nhà văn, có thể căn cứ vào ngôn ngữ trần thuật, cách
xưng hô, giọng điệu, cảm hứng đề tài, không gian - thời gian sự kiện, cách bố
cục và cách sử dụng các chi tiết trong TP… Nhà văn trong TP có thể không
đồng nhất với nhà văn ở ngoài đời. Để khách quan, ta cần bám vào văn bản là
chính. Ta có thể nghiên cứu phong cách của từng nhà văn lớn, có đặc điểm
riêng rõ nét như: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công
Hoan, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… Hoặc có thể phân tích phong cách chung
của một nhóm nhà văn có cùng đặc điểm như: tác giả truyện cổ tích, nhà thơ
Việt Nam trung đại… Đối với những tác giả lớn được học thành bài riêng thì
dựng lên chân dung tương đối dễ dàng. Nhưng đối với những nhà văn khác
thì phần hình tượng tác giả thường được nhắc đến ở mục tiểu dẫn, hoặc được
lồng ghép vào phần phân tích. SGK Ngữ văn Nâng cao có nhiều mục nói về
hình tượng tác giả như: Cách biểu hiện chủ thể trữ tình trong thơ trung đại

tiêu Chân -Thiện - Mỹ.
Tóm lại, việc dạy - học văn theo tinh thần Thi pháp học là xu hướng
chung của thế giới. Ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều điều kiện tốt để thực
hiện điều này: chúng ta đã có một đội ngũ các nhà Thi pháp học tương đối
hùng hậu; việc phổ biến quan điểm Thi pháp học trong nhà trường đã có bề
dày khoảng 20 năm; SGK Ngữ văn hiện hành chứa đựng rất nhiều tri thức về
Thi pháp học; các đề thi và đáp án môn Ngữ Văn gần đây đã yêu cầu HS chú
trọng phân tích hình thức nghệ thuật. Nhưng Thi pháp học có biến thành thực

17
tiễn sinh động hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào sự vận dụng tích cực
của GV và HS trong giờ dạy - học văn.
1.2. Đổi mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 - một nhà
văn “mở đường tinh anh” và “đi được xa nhất”
1.2.1. Đổi mới ở quan niệm nghệ thuật và tư duy nghệ thuật
Nhà văn đã tự ý thức sâu sắc: “Không có một thứ nghề nào mà kết quả
công việc lại có thể cắt nghĩa rõ rệt chân giá trị của người làm ra nó như nghề
viết văn” ”[20,36] và cả cuộc đời cầm bút của ông là một hành trình âm thầm,
lặng lẽ, dũng cảm để khẳng định giả trị của một người nghệ sĩ chân chính,
một nhân cách lớn, một tài năng lớn.
Thuộc lớp nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, Nguyễn Minh Châu đến với văn học vào một thời điểm lịch sử đặc biệt:
cả nước lên đường đánh Mỹ. Người con của vùng biển Nghệ An - nhà văn-
chiến sỹ Nguyễn Minh Châu đã thành tâm hòa vào dòng người “Xẻ dọc
Trường Sơn đi cứu nước” để sống và sáng tác trong niềm đam mê cháy bỏng.
Hàng loạt TP của Nguyễn Minh Châu như tiểu thuyết Cửa sông, Dấu chân
người lính, và tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau đã khẳng định vị
trí vững vàng của một cây bút đầy tài năng, dồi dào sức sáng tạo. Trong các
sáng tác của mình Nguyễn Minh Châu hầu như chỉ xây dựng một loại nhân
vật: những con người tốt đẹp, nhân cách cao thượng, anh hùng với chất thơ

trong nhân cách và trong lương tâm con người (Bức tranh, Mẹ con chị
Hằng…), giữa bản năng và lý trí, giữa tham vọng, dục vọng tầm thường với
bao khát vọng, ước mơ đẹp đẽ (Một lần đối chứng, Phiên chợ Giát…), giữa
quá khứ với hiện tại, giữa những giá trị đã định hình và những giá trị mới
đang khẳng định (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, Sống mãi
với cây xanh…); để từ đó nhà văn gửi tới người đọc bức thông điệp khẩn
thiết: “Xin mọi người hãy tạm ngừng một phút cái nhịp sống bận bịu, chen
lấn để tự suy ngẫm về chính mình”. Đó cũng là âm hưởng chủ đạo chi phối

19
toàn bộ giai đoạn “chuyển mình” có tính chất “bước ngoặt”của nhà văn trước
khát vọng đổi mới cả đối tượng lẫn phương thức thể hiện TP.
Thông thường, tư duy nghệ thuật của một nhà văn bao gồm những yếu tố
ổn định nhưng không phải là bất di bất dịch, là nhất thành bất biến, mà theo
thời gian, với những trải nghiệm cuộc sống và sự trưởng thành trong nghệ
thuật, tư duy nghệ thuật của một nhà văn vận động và phát triển, thậm chí có
những thay đổi bước ngoặt rất rõ nét. Nguyễn Minh Châu là một trong số
những tác giả như thế. Ông đã đọc “lời ai điếu” cho chính các TP trước 1975
của mình, và ngòi bút của ông đã thực sự đổi mới từ đầu những năm 80 của
thế kỉ trước.
1.2.2. Những đổi mới trong thi pháp thể loại của Nguyễn Minh Châu
1.2.2.1. Đổi mới về đề tài và phạm vi phản ánh
Truyện ngắn sau 75 của Nguyễn Minh Châu tập trung vào đề tài thế sự,
đời thường như: cuộc sống thường nhật của một gia đình ngư dân (CTNX);
quan hệ mẹ con (Mẹ con chị Hằng); chặt một cái cây khi mở rộng đô thị
(Sống mãi với cây xanh), một ông chồng chiều vợ đến nỗi đánh mất cả mình
(Sắm vai); những chuyện thường ngày ở một dãy nhà tập thể (Đứa ăn cắp);
một đám cưới do bọn trẻ sắp đặt (Hương và Phai); một người đàn ông sắp
chết với cái bến quê (Bến quê) nghĩa là ba cái vụn vặn, không đâu của cuộc
sống muôn mặt đời thường, thậm chí là cả những cái hàng ngày vẫn diễn ra

sống trải qua bao thời can qua, chinh chiến (Cỏ lau). Nỗi đau sau chiến tranh
đã được nhà văn nói lên bằng sự yêu thương, đồng cảm của người trong cuộc.
"Nhà văn ấy đã hoà nhập vào đồng loại, lấy những đầy vơi của lòng mình mà
lắng nghe, cảm thấu đầy vơi của đồng loại, neo giữ lòng tin yêu và cứu đỡ con
người" [13].
Mặt khác, trở lại mảng hiện thực chiến tranh và người lính, ngòi bút
Nguyễn Minh Châu cũng nghiêm nghị, thẳng thắn, phê phán, cảnh tỉnh sự tha
hoá, xuống cấp về nhân cách, đạo đức, những tội ác nảy sinh trong những con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status