Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc giảng dạy tiết ôn tập tiếng việt trong chương trình ngữ văn 9 nhằm nâng cao hiệu quả dạy – học - Pdf 53

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục trong
thời kì đổi mới là nhằm xây dựng, đào tạo những thế hệ con người có năng lực
tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, của dân tộc và phát huy tính tích
cực của cá nhân trong việc làm chủ tri thức, có kĩ năng thực hành giỏi, có tư duy
sáng tạo, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức, tính kỉ luật, có sức khỏe để
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất
nước. Để đạt được nhiệm vụ đặt ra thì giáo dục phải được coi là nhiệm vụ của
toàn đảng, toàn dân, toàn xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò quan trọng
nhất.
Với nhà trường phổ thông, ngoài việc trang bị cho học sinh những tri thức,
phẩm chất của người lao động mới còn phải trang bị cho các em tình yêu
thương, tinh thần hợp tác, đoàn kết và lòng nhân ái. Trong đó việc trang bị cho
học sinh những tri thức khoa học cũng là một nhiệm vụ cơ bản vì tri thức là chìa
khóa mở cửa cho tất cả các bộ môn khoa học.
Mỗi môn học trong nhà trường đều có đặc thù riêng, một phương pháp
nhận thức. Đặc điểm bộ môn và phương pháp nhận thức có nghĩa hết sức quan
trọng trong quá trình tìm tòi và thiết kế những giải pháp dạy và học bộ môn.
Đối với môn ngữ văn, đây là một môn học có vị trí đặc biệt trong việc
thực hiện mục tiêu chung của nhà trường THCS, góp phần hình thành con người
có ý thức tu dưỡng, biết yêu thương, quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp
như : lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái
xấu cái ác; đồng thời, giúp các em bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị
chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học; có năng lực thực
hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.
Bộ môn Ngữ văn nói chung, phân môn tiếng Việt nói riêng còn cung cấp
cho học sinh vốn ngôn ngữ, một công cụ giao tiếp giúp cho học sinh nói đúng,
viết đúng, tiến tới nói hay và viết hay tiếng Việt. Mặt khác dạy tiếng Việt là dạy
tiếng mẹ đẻ, giúp các em thêm hiểu và và yêu tiếng mẹ đẻ.

các kỹ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết giúp các em khắc sâu kiến thức và hoàn
thiện các kỹ năng sống cần thiết. Đây cũng là cơ sở thực tiễn, là nền tảng cho
việc hình thành thói quen tốt trong việc học tập của học sinh.
Bên cạnh đó, mục đích của đề tài còn nhằm để: Hệ thống hóa kiến thức
tiếng Việt đã học trong học kì (hoặc học kì II) của các lớp; đồng thời, kết hợp
với các bài tập làm văn và các văn bản văn học trong chương trình để rèn luyện
các kĩ năng tổng hợp về sử dụng tiếng Việt trong nói và viết; ngoài ra, còn góp
phần tạo hứng thú cho HS khi học các tiết ôn tập nói chung và tiết ôn tập tiếng
Việt nói riêng trong nhà trường THCS hiện nay.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng chủ yếu mà sáng kiến kinh nghiệm tập trung nghiên cứu là
việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong việc giảng dạy tiết ôn tập
tiếng Việt ở chương trình Ngữ văn lớp 9.
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là một số tiết ôn tập tiếng Việt nói chung và
tiết ôn tập tiếng Việt 9 nói riêng.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1. 4.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập những thông tin lí luận của việc đổi mới phương pháp dạy học
tiếng Việt trong dạy học ở Trung học phổ thông, Trung học cơ sở qua tài liệu,
những kiến thức về tâm lí dạy học, tài liệu bồi dưỡng giáo dục thường xuyên…
2


1. 4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
Quan sát kết quả đạt được từ hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học
của học sinh thông qua các băng đĩa dạy mẫu.
- Phương pháp điều tra
Trò chuyện, trao đổi với đồng nghiệp, học sinh về hiệu quả của các phương
pháp đổi mới dạy học phân môn tiếng Việt trong dạy học Ngữ văn.

Việt:
- Vấn đáp, tìm tòi.
- Đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.
- Dạy học theo nhóm…vv.
2.1.4. Quy trình dạy bài ôn tập nói chung
2.1.4.1. Kiểm tra bài cũ
- Yêu cầu học sinh nêu ngắn gọn những điều đã được học ở tiết trước, cho
ví dụ minh học hoặc giải các bài tập củng cố, vận dụng kiến thức đã học.
- Hoặc GV không kiểm tra bài cũ mà kết hợp kiểm tra kiến thức cũ trong
giờ ôn tập.
- Trong trường hợp bài ôn tập không có câu hỏi củng cố lí thuyết thì giáo
viên yêu cầu học sinh nhắc lại lý thuyết có liên quan và cho ví dụ minh họa.
Ví dụ : Tiết 73 nội dung ôn về các phương châm hội thoại, xưng hô trong hội
thoại, cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp. Khi kiểm tra bài cũ, giáo viên
đưa ra một tình huống về một phương châm hội thoại bất kì và đưa ra câu hỏi:
Em cho biết tình huống trên thuộc phương châm hội thoại nào? Em hiểu gì
về phương châm hội thoại đó? Sau câu hỏi này, giáo viên dẫn vào bài. Như vậy
khi vào bài sẽ tạo cho học sinh hứng thú trong việc lấy các tình huống thuộc các
phương châm hội thoại khác.
2.1.4.2. Dạy bài mới
- Khi giới thiệu bài, giáo viên nêu yêu cầu của tiết học, chú ý làm nổi bật
mối quan hệ giữa nội dung bài ôn tập.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh ôn tập lí thuyết (theo quy trình trong SGK),
sau đó, hướng dẫn các em trả lời câu hỏi hoặc thực hiện bài tập củng cố lí thuyết
bằng các phương pháp sau:
+ Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập hoặc câu hỏi.
+ Cho HS đọc thầm rồi trình bày lại yêu cầu của câu hỏi hoặc bài tập.
+ Giáo viên giải thích thêm cho rõ yêu cầu của câu hỏi hoặc bài tập (nếu cần)
+ Tổ chức cho học sinh thực hiện làm mẫu một phần của câu hỏi hoặc bài tập
để cả lớp nắm được yêu cầu của giờ ôn tập (nếu đó là bài tập khó). Sau đó, giáo

trò chép hoặc giảng giải xen kẽ vấn đáp. Đứng trước một tiết ôn tập, giáo viên
dạy Ngữ văn thường hay mắc phải sai sót về thời gian cho tiết học tức là chưa
xác định được thời gian dành cho lý thuyết và vận dụng cho học sinh thực hành
là bao nhiêu. Trong khi đó, thời gian thì hạn hẹp, kết quả là học sinh chỉ học một
cách thụ động, và như vậy là việc dạy học đã đi ngược với phương pháp đổi mới
hiện nay.
Nhiều giáo viên còn lúng túng khi vận dụng phương pháp mới vào bài
dạy. Đối với tiết ôn tập, nhiều giáo viên chưa áp dụng được nhiều phương pháp
dạy học có sáng tạo, linh hoạt, kích thích để các em phát triển tư duy và ngôn
ngữ, trau dồi vốn tiếng Việt.
Sở dĩ, việc dạy tiết ôn tập thế nào cho tốt chưa được nhiều giáo viên dạy
ngữ văn quan tâm bởi lẽ, tiết ôn tập là tiết dạy khó, cần phải đầu tư nhiều thời
gian, công sức, trí tuệ cho việc soạn giảng. Khi dạy tiết này, giáo viên phải nắm
6


vững kiến thức và truyền đạt một cách có hệ thống, mang tính khái quát cao.
Đồng thời, trong các tiết học ôn tập, không khí học tập của học sinh thường kém
sôi nổi hơn so với các giờ học kiến thức mới. Vì vậy, đa số giáo viên rất ngại
đăng kí thao giảng, dự giờ vào những tiết ôn tập chương hay tổng kết ôn tập cuối
kì.
Khi tổ chức dạy học, thường thì giáo viên hay cho học sinh ôn và hệ
thống hết toàn bộ lý thuyết có trong SGK rồi mới cho học sinh làm bài tập ôn
luyện, thực hành. Việc tách rời giữa lý thuyết và thực hành như vậy thường
khiến cho các giờ học sa đà vào việc ôn tập, củng cố lý thuyết nhiều hơn là làm
bài tập thực hành. Điều này dẫn tới việc học sinh thụ động nắm bài, không tích
cực trong giờ ôn luyện và kết quả là nhiều học sinh hiểu và nắm kiến thức theo
kiểu học vẹt, không sâu.
2.2.2. Về phía học sinh
Một số yếu tố nữa ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả dạy học của một tiết

quá trình giảng dạy và học tập. Giáo viên hướng dẫn học sinh chú trọng vào việc
rèn kĩ năng luyện tập và thực hành. Tính tích cực chủ động của học sinh trong
giờ học được nâng cao hơn. Với lượng kiến thức được sắp xếp như vậy, học sinh
sẽ đầu tư hơn vào công việc chuẩn bị bài ở nhà. Bởi vì, học sinh phải ôn kĩ lí
thuyết trước thì mới có khả năng làm bài tập trên lớp được. Điều này khiến cho
giờ học đạt kết quả cao hơn so với khi chưa đổi mới chương trình SGK.
Trong hệ thống chương trình tiếng Việt các lớp 6,7,8,9 tiết ôn tập chiếm
một vị trí không nhỏ. Theo chúng tôi, đây là những tiết học vô cùng quan trọng.
Ôn tập tiếng Việt tức là giúp học sinh hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học
trong một học kì, cả năm học hay cả cấp học. Như vậy, có thể coi giờ học ôn tập
là một giờ củng cố, khắc sâu kiến thức tiếng Việt lần thứ hai. Thông qua đó, học
sinh tự đánh giá kiến thức của mình và đáp ứng tốt yêu cầu của việc kiểm tra và
thi cử.
Về cấu trúc chương trình, thời lượng giành cho tiết ôn tập, tổng kết được
bố trí một cách hợp lí, có hệ thống nhằm tạo điều kiện cho học sinh nắm được
bài theo trình tự trong hệ thống ấy. Cụ thể: ở lớp 6 có hai tiết ôn tập tiếng Việt ở
cuối chương trình, lớp 7 và lớp 8 đều có 3 tiết ôn tập. Nhưng tới lớp 9, tổng số
tiết ôn tập tiếng Việt là 11 tiết. Điều này cho thấy, việc tăng dần thời thời lượng
ôn tập ở các lớp 6, 7, 8 và tăng vọt ở lớp 9 là một sự thay đổi lớn của chương
trình SGK hiện hành. Tất cả đều nhằm giúp cho học sinh có thể thực hiện tốt
việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức trong chương trình đã học, nhất là đối với
học sinh lớp 9 chuẩn bị cho các em nắm vững kiến thức để học tiếp chương trình
tiếng Việt ở Trung học Phổ thông.
2.3. Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu
quả một giờ dạy – học ôn tập tiếng Việt.
2.3.1. Việc chuẩn bị của giáo viên và học sinh
* Đối với học sinh
- Giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng tiết ôn tập ngay từ đầu năm
học vì kiến thức ôn tập là một hệ thống. chúng tôi cho học sinh lập cuốn "Sổ tay
Tiếng Việt", tạo cho các em một thói quen ghi lại những kiến thức cơ bản sau

văn, nói hay, viết thạo...; huy động sự lựa chọn chính xác, tìm được phương án
tối ưu, phát huy khả năng suy nghĩ độc lập, khả năng sáng tạo của học sinh.
* Xây dựng nhóm bài tập cho các mức độ khác nhau của từng đơn vị kiến
thức, bài học dựa trên cơ sở những bài tập đã có trong SGK, sách bài tập để vừa
dẫn dắt học sinh, vừa rà soát, củng cố lại kiến thức, rèn luyện kĩ năng... nhóm
bài tập này được GV thể hiện qua bảng phụ, phiếu học tập, sơ đồ, lược đồ.
* Giúp học sinh phát hiện, tìm tòi lời giải cho những bài tập đã lựa chọn,
chỉ ra được những kiến thức, những kĩ năng, phương pháp giải hệ thống bài tập
để tất cả học sinh được chủ động suy nghĩ nhiều hơn, được hoạt động nhiều hơn,
đặc biệt là học sinh phát huy được năng lực sáng tạo trong giờ học.
* Rút ra những mục đích của từng dạng bài tập, định hướng cho học sinh
xâu chuỗi các kiến thức đã học, tập luyện được các kĩ năng cần thiết...
Thực hiện các bước như vậy, GV đã thiết kế được một hệ thống bài tập
nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức, có kĩ năng giải các bài tập tiếng Việt,
tự khám phá, tự trình bày theo cách hiểu đúng của mình.
Trong giờ ôn tập tiếng Việt, dựa vào những yêu cầu trên, giáo viên đã
định hướng được kiến thức theo từng mảng, từng phần trong giờ ôn tập. Phân
môn tiếng Việt ở các khối lớp 6,7,8 đã được tiến hành ôn tập theo trình tự của
tiết học là đi từ hệ thống bài tập như lập bảng biểu, lược đồ đến củng cố lí thuyết
cho từng phần. Hệ thống bài tập được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp, từ bài
tập củng cố đến bài tập rèn luyện kĩ năng, phát triển óc tư duy sáng tạo của học
sinh. Đối với tiết ôn tập tiếng Việt của lớp 9, giáo viên cũng nên dùng lược đồ,
9


bảng so sánh nhưng hình thức ôn tập phong phú hơn. Vì lớp 9 là lớp cuối cùng
của cấp học, thời lượng kiến thức tăng, hệ thống bài tập cũng đa dạng, phong
phú, có nhiều câu hỏi, bài tập phải vận dụng kiến thức kĩ năng cả ba phân môn
(văn - tiếng Việt - tập làm văn) ở mức độ cao hơn. Điều đó, đòi hỏi học sinh phải
suy nghĩ nhiều hơn.

- Chỉ ra thành phần biệt lập được sử dụng trong khổ thơ đầu của bài thơ
“Sang thu” (Hữu Thỉnh), nêu tác dụng của thành phần biệt lập ấy?
- Viết đoạn văn theo lối diễn dịch nêu cảm nhận của em về khổ thơ thứ
nhất (hoặc khổ thứ hai) của bài “Sang thu” ( Hữu Thỉnh), trong đó có sử dụng
thành phần khởi ngữ và một thành phần biệt lập.
10


- Viết đoạn văn cảm nhận về nhân vật Bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc
lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng, trong đó có sử dụng khởi ngữ...
2.3.2. Các phương pháp tiến hành trên lớp để tạo một giờ học hiệu quả.
2.3.2.1. Sử dụng đồ dùng , phương tiện dạy học
Để giờ ôn tập dạt hiệu quả cao giáo viên cần chú trọng tới việc đầu tư làm và
sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học. Các đồ dùng dạy học cần thiết là:
* Bảng phụ: Đối với phân môn tiếng Việt, có lẽ đồ dùng không thể thiếu
đó là bảng phụ, nó giúp cho học sinh nhận diện kiến thức thông qua các bài tập
đã được ghi trên đó. Ở một số tiết, bảng phụ còn được dùng để ghi những sơ đồ
ôn tập còn thiếu, khuyết nội dung. Giáo viên có thể gọi học sinh lên điền những
nội dung còn thiếu khuyết vào bảng phụ rồi thông qua sơ đồ có thể hệ thống lại
kiến thức một cách rõ ràng cho học sinh dễ nắm bài hơn. Tuy nhiên khi sử dụng
bảng phụ cần chú ý đến yêu cầu: rõ ràng, khoa học,và mang tích thẩm mĩ cao.
Ví dụ: Tổ chức dạy - học tiết 137- 138 ôn tập tiếng Việt ( lớp 9)
Khi triển khai nội dung 1: Khởi ngữ và các thành phần biệt lập, Giáo viên
treo bảng phụ có ghi các thông tin:
Khởi
Thành phần biệt lập
Tình thái
Cảm thán
Gọi- đáp
Phụ chú

(HS trả lời bằng cách khoanh tròn vào đáp án đúng.)
Bài 2.
Đọc câu sau: “Khi người ta đã ngoài 70 xuân thì tuổi tác càng cao, sức
khoẻ càng thấp.”
( Hồ Chí Minh – Di chúc)
Cho biết, dựa trên cơ sở nào, từ “xuân” có thể thay thế cho từ tuổi? Việc
thay từ trong câu trên có tác dụng diễn đạt như thế nào? (HS trả lời bằng cách
viết ý kiến vào phiếu học tập.)
* Giáo án điện tử. Một phương tiện nữa không thể thiếu trong giờ Ôn tập
tiếng Việt là giáo án điện tử. Sử dụng giáo án điện tử trong giờ Ôn tập tiếng Việt
mang lại hiệu quả rất lớn như: tiết kiệm thời gian, giúp học sinh theo dõi và hệ
thống kiến thức, bài học một cách rõ ràng, sinh động. Trên giáo án điện tử, giáo
viên có thể lập các bảng, biểu giống như trên bảng phụ để đưa ra đáp án chính
xác cho học sinh. Nhờ đó, các em tiện theo dõi và nắm bắt kiến thức một cách
dễ dàng hơn.
Ví dụ dưới đây là hình ảnh một trang giáo án điện tử được sử dụng khi
dạy bài Ôn tập tiếng Việt tiết 138, phần ôn tập lí thuyết Khởi ngữ bằng các
câu hỏi trắc nghiệm.

Và dưới đây là một trang giáo án điện tử được sử dụng khi dạy bài ôn tập
về các phương châm hội thoại, giáo viên đã chiếu đoạn văn bản ngữ liệu lên
trang giáo án điện tử để giúp học sinh dễ dàng theo dõi, quan sát, làm tăng tính
trực quan, sinh động cho bài giảng.
12


Kết hợp với các bảng biểu, trên giáo án điện tử, giáo viên cũng có thể sử
dụng các Bản đồ tư duy để khái quát, tổng hợp các vấn đề lí thuyết mà các em
đã được học và ôn tập giúp cho giờ học sinh động, học sinh dễ nhớ và dễ hiểu
hơn rất nhiều.

bị bài cho tiết học cụ thể:
Ví dụ: Bài ôn tập tiếng Việt - bài 15- tiết 73 - lớp 9 kỳ I
14


Đối với bài này GV phải có một hệ thống câu hỏi, bài tập để hướng dẫn
cho học sinh và các bảng, lược đồ, bảng phụ...( tức là GV phải chuẩn bị tốt các
đồ dùng dạy học). Bên cạnh đó, giáo viên yêu cầu học sinh ôn lại kiến thức đã
học đã học, nghiên cứu kĩ hệ thống câu hỏi, bài tập trong SGK, đọc kĩ các văn
bản liên quan đến bài tập ôn tập.
+ Cách tổ chức giờ dạy - học
Giáo viên cần xác định hình thức ôn tập: đi từ hệ thống bài tập rút ra lí
thuyết đã học từ đó tiếp tục hướng dẫn cho học sinh vận dụng củng cố kiến thức
vừa ôn tập.
* Bước 1: Giúp học sinh có cái nhìn tổng quát chương trình tiếng Việt ở
học kì I.
Giáo viên gợi dẫn: Chương trình tiếng Việt ở học kì I đã trang bị cho
em những đơn vị kiến thức nào?
Yêu cầu học sinh trả lời được:
1. Các phương châm hội thoại.
2. Xưng hô trong hội thoại.
3. Cách dẫn trực tiếp cách dẫn gián tiếp.
4. Thuật ngữ.
5. Sự phát triển của từ vựng.
6. Trau rồi vốn từ.
7. Tổng kết từ vựng.
8. Phương ngữ ( chương trình địa phương )
Tuy nhiên bài ôn tập này chỉ ôn lại những kiến thức và kĩ năng mới được
học trong học kì I và chưa được ôn trong bài tổng kết từ vựng.
Bước 2: hướng dẫn cho học sinh ôn tập ba nội dung kiến thức cơ bản.

thoại, rèn cho học sinh những kĩ năng cơ bản khi sử dụng phương châm hội
thoại trong giao tiếp phù hợp với tình hình giao tiếp.
Sau đó, giáo viên có thể đưa ra một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để củng
cố lại kiến thức vừa ôn tập ở phần trên, lấy thêm ví dụ khác để khắc sâu kiến
thức và chuyển tiếp sang hoạt động thứ 2.
2.3.2.3. Phương pháp học hợp tác (thảo luận nhóm và tranh luận)
Tùy từng bài ôn tập cụ thể và tùy vào yêu cầu của vấn đề học tập, giáo
viên có thể phân nhóm, chuẩn bị nội dung câu hỏi cũng như bài tập cho từng
nhóm. Các nhóm tự bầu ra nhóm trưởng, trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên thực
hiện một công việc, mỗi thành viên đều được hoạt động tích cực, không ỷ lại
vào một người năng động nổi trội hơn. Các thành viên trong nhóm giúp nhau
tìm hiểu vấn đề trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả thảo luận
của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả chung của cả lớp. Để trình bày kết quả
của nhóm trước lớp, có thể bằng hình thức báo cáo, hình thức báo cáo cũng rất
đa dạng: Có thể báo cáo trước giáo viên, có thể báo cáo trước lớp, báo cáo bằng
giấy, bảng phụ, bảng chính.
Ví dụ: khi dạy tiết 43: Tổng kết từ vựng ( lớp 9)
Tiết ôn tập thứ nhất có 4 phần: từ đơn , từ phức - thành ngữ - nghĩa của từ
- từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ. Giáo viên có thể chia lớp
thành 4 nhóm, mỗi tổ 1 nhóm, mỗi nhóm một phần. Trước hết, yêu cầu học sinh
các nhóm làm bài tập rồi từ bài tập, các em rút ra khái niệm chung của mỗi
phần. Giáo viên phát cho mỗi nhóm một bảng phụ nhỏ để học sinh ghi kết quả
thảo luận vào đó. Sau thời gian 15 đến 20 phút, các em treo kết quả của nhóm
mình lên trên bảng chính. các nhóm khác nhận xét và chữa lỗi cho các nhóm nếu
sai. Như vậy, phần ôn tập mất rất ít thời gian, thời gian còn lại giáo viên đưa ra
một số bài tập nâng cao để củng cố thêm kiến thức và rèn cho học sinh kĩ năng
viết đoạn văn theo nội dung vừa ôn tập tổng kết.
Ví dụ: Khi tổ chức dạy - học tiết 138-139, giáo viên có thể chia nhóm cho học
sinh chuẩn bị ở nhà:
Nhóm 1: Viết đoạn văn cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong truyện

xôi, cỏ cây, đưa đón, nhường nhịn, rơi rụng, mong muốn, lấp lánh.
Từ ghép
Từ láy
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Với dạng bài tập này, GV có thể chọn hai đội lên chơi trò chơi tiếp sức.
bằng cách trong vòng 1 phút đội nào viết được nhiều từ vào bảng đội đó sẽ
thắng.
*Phần II: Thành ngữ
Ở phần bài tập này, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi trò chơi
tiếp sức giữa hai dãy bàn tìm các thành ngữ mà em biết rồi ghi lên bảng (trong
vòng 3 phút đội nào tìm được nhiều thành ngữ đội đó sẽ thắng).
Hoặc với trò chơi như vậy, khi ôn tập về Phương châm lịch sự ở tiết 73, giáo
viên có thể yêu cầu HS như sau: Trong kho tàng tục ngữ ca dao việt nam có
nhiều câu nêu lên những lời khuyên, những kinh nghiệm hay, sâu sắc về cách
18


xưng hô, cách ăn nói trong giao tiếp, ứng xử, hãy lấy một vài câu ca dao, tục
ngữ nói về nội dung đó?
Khi dạy tiết 139: GV có thể chia lớp làm hai nhóm, yêu cầu học sinh các nhóm
thi tìm nghĩa hàm ý của những câu ca dao mà nhóm kia đưa ra. Nhóm nào đưa
ra được nhiều câu ca dao có hàm nghĩa hay và giải đúng hàm nghĩa của nhiều
câu ca dao của đội bạn thì sẽ thắng.
Học sinh có thể lấy một số câu ca dao như:
- “Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”
- “Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Sao đẻ dưới nước thì ta lấy mình…”
Những trò chơi này vừa giúp học sinh củng cố thêm kiến thức lí thuyết
trong tiết ôn tập vừa giúp các em học tập được những lời hay ý đẹp từ những câu
thành ngữ, tục ngữ, ca dao đó.

20,1

(%)
Kết quả khảo sát 55
16
31 56,
8
bài kiểm tra
4
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

(%)
14,5

0

(%)
0

19


1. Kết luận
Việc tìm tòi, nghiên cứu để đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy
học tiếng Việt - một phân môn khó trong chương trình Ngữ văn sẽ giúp học sinh
học tập tích cực hơn. Đó chính là một trong những cách làm thiết thực để triển
khai nội dung dạy học có hiệu quả - nội dung quan trọng nhất trong năm nội
dung của phong trào thi đua “Xây dựng Trường học thân thiện, học sinh tích
cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.
Vận dụng hợp lí các phương pháp tích cực trong dạy học giờ Ôn tập tiếng


NguyễnThị Thu Hà

21


22


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán – Phương pháp dạy học tiếng Việt
– NXB Giáo Dục, 2005.
2. Trần Đình Châu - Sử dụng bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học
sinh học tập môn toán- Tạp chí Giáo dục, kì 2- tháng 9/2009.
2. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy - Sử dụng bản đồ tư duy góp phần TCH
HĐ học tập của HS - Tạp chí Khoa học giáo dục, số chuyên đề TBDH năm
2009.
3. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy – Thiết kế bản đồ tư duy dạy – học môn
Toán – NXB Giáo Dục Việt Nam, 2011.
4. Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết –
Dẫn luận ngôn ngữ học – NXB Giáo Dục, 2005.
5. Phan Trọng Luận – Văn học nhà trường – Nhận diện, tiếp cận, đổi mới –
NXB Đại học Sư phạm, 2008.
6. Phan Trọng Luận – Văn học Giáo dục thế kỉ XXI – NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2002.
7. Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) – Ngữ Văn 9 (hai tập) – Sách giáo viên –
NXB Giáo dục, 2012.
8. Tony Buzan - Bản đồ Tư duy trong công việc – NXB Lao động – Xã hội.
9. Stella Cottrell (2003), The study skills handbook (2nd edition), PalGrave
Macmillian.


“Một vài kinh nghiệm về cách tổ chức
Sở GD&ĐT
giờ dạy học Tiếng Việt lớp 7 nhằm phát
Thanh Hóa
huy tính tích cực của học sinh.”
“Rèn luyện kỹ năng làm bài văn nghị
Sở GD&ĐT
luận về tác phẩm văn học.”
Thanh Hóa
“Luyện kỹ năng viết bài văn thuyết
Sở GD&ĐT
minh cho học sinh lớp 8.”
Thanh Hóa
“ Dạy học thể văn cổ (Hịch, Cáo) theo
Sở GD&ĐT
đặc trưng thể loại nhằm giúp học sinh
lớp 8 tiếp nhận văn bản một cách tích
Thanh Hóa
cực, hiệu quả.”
“Dạy học thể văn cổ (Hịch, Cáo) theo
HĐ KHSK tỉnh
đặc trưng thể loại nhằm giúp học sinh
lớp 8 tiếp nhận văn bản một cách tích
Thanh Hóa
cực, hiệu quả.”
“Dạy học thể văn cổ (Hịch, Cáo) theo
HĐ KHSK TP
đặc trưng thể loại nhằm giúp học sinh
lớp 8 tiếp nhận văn bản một cách tích

xếp loại

A

2004-2005

C
B

2007-2008
2010-2011

B

2013-2014

B

2014-2015

B

2014-2015

A

2014-2015

B


hiệu quả một giờ dạy - học ôn tập tiếng Việt
2.3.1. Việc chuẩn bị của giáo viên và học sinh
2.3.2. Các phương pháp tiến hành trên lớp để tạo một giờ học hiệu
quả
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trang
1
1
2
2
2
4
4
4
5
5
5
6
6
7
7
8
8
11
19
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status