1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ MINH THANH VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TÍN HIỆU THẨM MỸ
HƢỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU
THƠ XUÂN QUỲNH TRONG CHƢƠNG TRÌNH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐỖ VIỆT HÙNG
Khoa học xã hội
10. K1
Khổ 1
11. K2
Khổ 2
12. K42
Khóa 42
13. Nxb
Nhà xuất bản
14. PGS. TS
Phó giáo sư. Tiến sĩ
15. SĐH
Sau đại học
16. Sđ d
Sách đã dẫn
17. SGK
Sách giáo khoa
18. SGV
Sách giáo viên
19. THTM
Tín hiệu thẩm mỹ
20. THCN
Trung học chuyên nghiệp
21. THCS
Trung học cơ sở
22. THPT
Trung học phổ thông
23. TB
Trung bình
24. YK
13
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ
14
1.1. Cơ sở lý luận
14
1.1.1. Cơ sở Ngôn ngữ - Văn học
14
1.1.2. Cơ sở Tâm lý học
33
1.1.3. Cơ sở Phương pháp Dạy Văn
35
1.2. Cơ sở thực tế
36
1.2.1. Thực tế chương trình
36
1.2.2. Thực tế đối tượng tiếp nhận
37
1.2.3. Khảo sát thực tế giảng dạy bài thơ
37
Chƣơng 2: KHẢO SÁT VÀ ĐỊNH HƢỚNG KHAI THÁC GIÁ
TRỊ THẨM MỸ THƠ XUÂN QUỲNH TRONG CHƢƠNG
TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA BÀI SÓNG 40
2.1. Quan điểm vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ vào việc khảo sát
và định hướng khai thác giá trị thẩm mỹ trong bài học
40
2.2. Khảo sát và định hướng phát hiện tín hiệu thẩm mỹ ở bài thơ Sóng
2.5.1. Chức năng biểu hiện
52
2.5.2. Chức năng tác động
56
2.5.3. Chức năng hệ thống
58
Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT PHƢƠNG PHÁP, THIẾT KẾ GIÁO ÁN
THỰC NGHIỆM
62
3.1. Quan điểm triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu
62
3.2. Đề xuất phương pháp
63
3.3. Thiết kế giáo án thực nghiệm
64
3.3.1. Những vấn đề chung
64
3.3.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm
64
3.4. Giáo án đối sánh (xin xem phần phụ lục 1)
82
3.5. Kiểm tra kết quả thực nghiệm
82
3.6. Đối chiếu hai cách khai thác
84
3.6.1. Điểm gặp gỡ
84
3.6.2. Nét khác biệt
85
công việc cần thiết đối với người làm công tác nghiên cứu văn học nói chung
bởi “sẽ không hiểu được đặc trưng của văn học nếu bỏ qua đặc điểm thể hiện
nghệ thuật của ngôn từ” [42; tr183].
Khai thác tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm văn học là một trong những
điểm thể hiện sự đổi mới trong việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở nhà trường
phổ thông. Sau nhiều lần cải cách, bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ
thông hiện nay có những đổi mới về: quan điểm, chương trình, sách giáo
khoa và phương pháp giảng dạy. Đổi mới về quan điểm là sự đổi mới mang
tính tiên quyết, trong đó có đổi mới từ quan điểm về người dạy – việc dạy,
người học – việc học, về bản chất của tác phẩm văn học trong nhà
trường… Ở những giai đoạn trước, do chưa có một quan niệm đúng đắn về
bản chất tác phẩm văn chương nên việc dạy có xu hướng xã hội học dung tục, 2
xu hướng tách rời kiến thức với phương pháp, nội dung và hình thức văn
bản……Dưới ánh sáng của lý luận và phương pháp dạy học hiện đại, lý
thuyết thông tin, lý thuyết tiếp nhận….bên cạnh quan niệm về người học và
việc học, người dạy và việc dạy, quan niệm về văn bản văn chương cũng có
nhiều đổi mới. Một trong những điểm đổi mới trong quan niệm về tác phẩm
văn chương cho rằng, chúng tồn tại với “tư cách là một hệ thống tín hiệu” [8;
tr3] đòi hỏi phải có phương pháp giảng dạy phù hợp. Nhận thức được vai trò
của tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm văn học và chú ý khai thác nó trong quá
trình giảng dạy, chúng tôi hi vọng đó là một trong những việc làm đáp ứng
những yêu cầu đổi mới về quan điểm và phương pháp dạy học bộ môn.
Sinh năm 1942, mất năm 1988, cuộc đời tuy không dài nhưng Xuân
Quỳnh có cách nối dài sự sống bằng sáng tạo nghệ thuật. Không chỉ là một
nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ chống Mỹ, Xuân Quỳnh còn là một gương
mặt thơ rất đáng chú ý của nền thơ Việt Nam hiện đại. Đọc thơ chị, nhà phê
bình Lại Nguyên Ân nhận thấy: “Có lẽ là từ thời Hồ Xuân Hương qua các
giữa nó với các khoa học khác, mà gần gũi và trực tiếp hơn cả là Lý luận văn
học, Phương pháp dạy học, đặc biệt là Ngôn ngữ học. Khai thác bài Sóng từ
góc độ lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ chính là sự cụ thể hóa một trong những
mối liên hệ đó.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ
Là một vấn đề liên quan đến rất nhiều ngành nghệ thuật, tín hiệu
thẩm mỹ từ lâu đã được các ngành nghiên cứu nghệ thuật khác nhau, trong đó
có nghiên cứu ngôn ngữ và văn học đề cập đến. Trong giới hạn phạm vi tư
liệu mà chúng tôi bao quát được, tạm thời có thể nêu một vài cách hiểu và
quan niệm của một số tác giả từ những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau có đề
cập đến.
2.1.1. Từ góc độ lý luận văn học
Khi nghiên cứu về ngôn từ với tư cách là chất liệu của văn học, nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng, là một trong những đặc trưng của văn
học, ngôn từ phải có “ đặc điểm thể hiện nghệ thuật” riêng. Đặc điểm đó, 4
theo tác giả, là cái “mã”, là “hệ thống các phương thức, phương tiện tạo
hình, biểu hiện, hệ thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mỹ” [42;
tr185]. Ý niệm về tín hiệu thẩm mỹ dưới cái nhìn của các nhà lý luận văn học
Việt Nam, xuất hiện qua sự phân biệt ngôn từ nghệ thuật – yếu tố được “sử
dụng với tất cả phẩm chất thẩm mỹ và khả năng nghệ thuật”, nó có khả năng
“đưa ta thâm nhập vào thế giới của những cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng” với
“ngôn ngữ thông thường” – những yếu tố không có phẩm chất và khả năng
đó [Trần Đình Sử, Sđd]. Cùng quan điểm với tác giả, nhà nghiên cứu Hà
Minh Đức cũng chỉ ra một trong những phương thức, phương tiện làm nên
phẩm chất thẩm mỹ và khả năng nghệ thuật của ngôn từ trong tác phẩm “Tác
phẩm nghệ thuật là một chỉnh thể thẩm mỹ, lấy ngôn từ làm chất
sở thì hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống thứ hai được xây dựng trên
cơ sở hệ thống thứ nhất có sự biến đổi về bản chất tín hiệu: hệ thống thứ nhất
là hệ thống vật biểu (biểu nghĩa trực tiếp), hệ thống thứ hai là hệ thống hàm
nghĩa (biểu nghĩa gián tiếp) [9; tr441].
Xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn học, giáo sư Đỗ Hữu Châu
cho rằng tín hiệu thẩm mỹ là “ tất cả các yếu tố hiện thực được đưa vào trong
tác phẩm văn học, kể cả những yếu tố hiện thực được xây dựng lại trong tác
phẩm khi nó mang một ý nghĩa khái quát nào đó” [7; tr18]. Cái “ ý nghĩa khái
quát” trong quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu, chúng tôi hiểu đó là sự tổng
hợp của hai hệ thống: vật biểu (biểu nghĩa trực tiếp) và hàm nghĩa (biểu
nghĩa gián tiếp) như cách diễn đạt của tác giả Mai Ngọc Chừ nêu trên. Trong
công trình Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học (Ngôn từ
- Tác giả - Hình tượng), hai tác giả Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa
đã có cái nhìn bao quát, hệ thống khá sâu về tín hiệu thẩm mỹ. Xuất phát từ
những vấn đề chung về tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật
(nhận diện ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật, nghiên cứu ngôn ngữ
nghệ thuật trong hoạt động giao tiếp, nghiên cứu chức năng của ngôn ngữ,
đề ra phương pháp phân tích tu từ học và phân tích ngôn ngữ trong tác phẩm
nghệ thuật), các tác giả đã có những khảo sát toàn diện về: nguồn gốc, 6
phương thức cấu tạo, tính chất, đặc trưng và các biến thể của tín hiệu thẩm
mỹ. Đây là công trình công phu, không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý
nghĩa về mặt phương pháp luận đối với việc nghiên cứu tác phẩm văn học từ
góc độ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn học. Đây cũng là tài liệu quan
trọng mà chúng tôi tiếp thu, vận dụng làm cơ sở lý luận cho đề tài luận văn.
Quán triệt quan điểm lý thuyết giao tiếp vận dụng vào ngôn ngữ trong
tác phẩm văn học, xét ngôn ngữ không chỉ như một hệ thống cấu trúc mà còn
là một hệ thống hành chức, giáo sư Hoàng Phê và nhiều nhà nghiên cứu ngữ
dung tưởng tượng. Tầng này từ hình ảnh, hình tượng của tác phẩm tạo nên sự
lung linh trong tâm trí người đọc. Sứ mệnh của tác phẩm nghệ thuật là ở tầng
này, cái hay cái đẹp cũng ở tầng này mà ra. Tầng thứ ba là tầng ý được suy ra
từ hai tầng trên” [8; tr.9]. Theo đó, hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản văn
chương phải chú ý không chỉ đọc “theo dòng”, “trên dòng”, “trong dòng” mà
còn phải đọc “giữa dòng” như quan niệm của các nhà khoa học phương pháp.
Chú ý tới điều đó, theo giáo sư Trần Đình Sử cũng chính là phải “
khám phá cái mã văn hóa đa dạng đằng sau các hình tượng nghệ thuật”. Có
như thế, “bộ môn giảng văn trong nhà trường mới khắc phục phương pháp
suy diễn giản đơn dễ dãi” [43; tr18 – 26].
Tất cả những lưu tâm trên đây của các nhà khoa học, theo chúng tôi
hiểu, đều liên quan gần gũi và trực tiếp tới vấn đề mà đề tài quan tâm: tín
hiệu thẩm mỹ.
2.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu thuộc đề tài hẹp của luận văn
Do tín hiệu thẩm mỹ là một trong những vấn đề quan trọng của tác
phẩm nghệ thuật ở cả hai mức độ cấu trúc bộ phận và chỉnh thể nên đó cũng
là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều người khi đến với tác phẩm văn học.
Những đề tài tốt nghiệp Đại học, sau Đại học bảo vệ ở khoa Ngôn ngữ,
trường ĐHSP những năm gần đây đã khai thác tương đối phong phú và sâu
sắc tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm văn học.
Luận văn tốt nghiệp Đại học K42 của Nguyễn Thị Hạnh “ Hoa trong
thơ Xuân Quỳnh” đã khảo sát tương đối đầy đặn hình tượng hoa cũng như ý
nghĩa biểu trưng của nó trong thế giới nghệ thuật Xuân Quỳnh. Tuy nhiên, 8
chỉ ra được đặc trưng cũng như giá trị của yếu tố đó một cách hệ thống với tư
cách là một tín hiệu thẩm mỹ thì luận văn này chưa bao quát được.
Luận văn sau Đại học “Một số vấn đề tín hiệu thẩm mỹ và giá trị thẩm
mỹ của một số từ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao Việt Nam” của Trương
Nguyễn Mai Hiền trong bài viết Đối diện với sóng và Song hành: sóng và em
cũng khẳng định “ Xuân Quỳnh có một trái tim khao khát yêu đương, mong
muốn được yêu và được sống trong tình yêu vĩnh viễn. Rất tự nhiên, chị đã
bắt gặp sóng như gặp chính mình, đã tìm ra trong hình ảnh sóng những âm
vang của nhịp đập trái tim mình” [40; tr316]; “Chị nhận thấy tất cả những đặc
tính tự nhiên cua sóng đều mang những nét tương đồng với mình đến kì lạ.
Nghĩa là trong muôn trùng sóng bể, cũng có một “ngọn sóng Xuân Quỳnh” [
40; tr319]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hoàn đã khái quát “ Sóng vừa
được chọn làm đối tượng, nội dung miêu tả, vừa là phương thức thể hiện nỗi
khát vọng tình yêu” [34; tr172]. Tất cả các tác giả trên, ở mức độ khác nhau,
tuy không trực tiếp chỉ ra, song trong sự cảm hiểu của họ, chúng tôi nhận
thấy giữa họ có sự thống nhất ở sự ngầm hiểu “sóng” là một tín hiệu mang
giá trị thẩm mỹ. Tuy vậy, khai thác tín hiệu thẩm mỹ ấy từ góc độ lý thuyết
tín hiệu thẩm mỹ thì hầu như chưa được chú ý trọn vẹn.
3. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hướng dẫn học sinh đọc hiểu thơ
Xuân Quỳnh ở THPT qua bài Sóng, trước hết, người viết hướng tới mục đích
tìm hiểu về tín hiệu thẩm mỹ; thử nghiệm một hướng tiếp cận mới. Bởi lẽ,
như trên đã nói, có thể thấy sự đồng thuận hoàn toàn khi cho sóng là một tín
hiệu thẩm mỹ ở tất cả những người đã tìm hiểu bài thơ nhưng phân tích tín
hiệu ấy từ góc độ lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ là một hướng tiếp cận chưa
được chú ý. Từ hướng tiếp cận đó, chúng tôi hi vọng có điều kiện thực hành
đổi mới phương pháp và trong một chừng mực nào đó, có thể vận dụng cho
các đơn vị bài học khác, nhằm tăng hiệu quả giảng dạy.
4. Phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phạm vi
Là một hồn thơ “dồi dào, phong phú” (Lại Nguyên Ân, Sđd), là người
đam mê sống, đam mê yêu, đam mê trong thiên chức làm vợ, làm mẹ, dễ hiểu
vì sao thơ Xuân Quỳnh đã thành tiếng hát tâm hồn chung của nhiều lứa tuổi,
nên không thể không dùng thao tác này. Dưới ánh sáng của lý thuyết về tín 11
hiệu thẩm mỹ, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích tín hiệu thẩm mỹ trong
bài thơ Sóng. Từ đó, có những định hướng cụ thể cho việc hướng dẫn học
sinh khai thác tác phẩm này (chương 2). Phương pháp phân tích còn được
chúng tôi tiếp tục sử dụng trong quá trình thiết kế giáo án thực nghiệm, cụ thể
hóa việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ Sóng (chương 3). Các bước
nêu trên chỉ có thể tiến hành sau khi phân tích cơ sở thực tế (chương trình,
đối tượng và thực tế giảng dạy bài thơ). Sau khi đã có hai giờ thực nghiệm
trên hai cách khai thác cũ và mới, chúng tôi tiến hành phân tích đối sánh để
rút ra những kết luận cần thiết.
Phương pháp hệ thống. Phân tích là chia nhỏ đối tượng để khảo sát.
Điều đó không có nghĩa là làm nát vụn đối tượng ra thành từng mảnh tách
rời, biệt lập. Tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng là một chỉnh thể thống nhất,
nên việc phân tích chỉ có ý nghĩa khi nó gắn liền với việc tổng hợp và hệ
thống lại vấn đề. Do đó, sau khi phân tích xong những vấn đề ở chương 2,
chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp, hệ thống lại những khía cạnh của lý thuyết
tín hiệu thẩm mỹ sẽ được vận dụng vào việc phân tích bài thơ. Chỉ trên cơ sở
đó, chúng tôi mới có thể thiết kế các câu hỏi, các bước lên lớp cũng như các
phương pháp một cách có hệ thống, đảm bảo tính khoa học, có hiệu quả trong
việc hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức và rèn kỹ năng, rèn tư duy.
Phương pháp thực nghiệm. Sau khi thiết kế giáo án, chúng tôi sẽ tiến
hành thực nghiệm bằng cách tiến hành hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ
Sóng theo hai hướng khai thác (một hướng cũ, có giáo án đi kèm) và một
hướng chúng tôi đề xuất ở hai lớp học khác nhau, cùng đối tượng và tương
đương về trình độ. Sau mỗi giờ học, chúng tôi tiến hành kiểm tra kết quả thực
nghiệm bằng cách cho hai lớp làm một bài kiểm tra bằng hình thức trắc
nghiệm khách quan trong thời gian 15 phút. Kết quả thực nghiệm sẽ được thể
hiểu bài thơ Sóng là một hướng tiếp cận có hiệu quả.
9. Đóng góp mới của luận văn
Với nhận thức rằng, phương pháp là con đường, cách thức, mà trên thực
tế, để chiếm lĩnh một đối tượng, có rất nhiều con đường, phương hướng khác
nhau, vận dụng lý thuyết tín hiệu vào việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài 13
thơ, chúng tôi không có tham vọng rằng đó là hướng tiếp cận duy nhất có giá
trị. Trong khả năng của mình, chúng tôi chỉ hi vọng đưa ra một hướng tiếp
cận mới, có hiệu quả mới đối với việc giảng dạy bài thơ Sóng trong chương
trình Ngữ văn 12.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục nôi dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tế
Chương 2: Khảo sát và định hướng khai thác giá trị thẩm mỹ thơ Xuân
Quỳnh trong chương trình Trung học phổ thông qua bài Sóng.
Chương 3: Đề xuất phương pháp, thiết kế giáo án thực nghiệm 14
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Cơ sở Ngôn ngữ - Văn học
Là một vấn đề có tính liên ngành, những năm gần đây, việc nghiên cứu
tín hiệu thẩm mỹ được nhiều nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành khác
nhau của khoa học về nghệ thuật ngôn từ quan tâm. Trên cơ sở những thành
tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, chúng tôi trình bày tóm tắt các
A.Schaff do chỉ xem tín hiệu là những yếu tố có chức năng giao tiếp nên đã
phân ra hai loại lớn: tín hiệu tự nhiên và tín hiệu nhân tạo. Còn P. Guiraud có
sự phân biệt tín hiệu tự nhiên với tín hiệu nhân tạo, tín hiệu biểu hiện và tín
hiệu giao tiếp nhưng ông không tách tín hiệu giao tiếp với tín hiệu tự nhiên
mà đặt chúng trong mối quan hệ giữa thực tế với nhận thức của con người, từ
đó nhận ra những khả năng khác nhau của các tín hiệu khi đặt chúng vào các
mối quan hệ khác nhau. Lấy bảng phân loại tín hiệu của P.Guiraud làm trục
chính, trên cơ sở bổ sung thêm kết quả phân loại của các tác giả khác, Đỗ
Hữu Châu đã đưa ra kết quả phân loại như sau: Căn cứ vào nguồn gốc để
chia thành tín hiệu tự nhiên và tín hiệu nhân tạo; căn cứ vào đặc tính của cái
biểu đạt có thể phân loại thành tín hiệu thị giác, tín hiệu vị giác; căn cứ vào
quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có thể quy thành các loại: dấu
hiệu, hình hiệu và ước hiệu; căn cứ vào chức năng xã hội, có thể chia thành
các tín hiệu giao tiếp và phi giao tiếp [6; tr62 – 64].
1.1.1.2. Tín hiệu ngôn ngữ
Trong công trình nghiên cứu Ngôn ngữ và văn học, hai tác giả Đỗ Việt
Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa đã khảo sát một cách có hệ thống tín hiệu
ngôn ngữ và chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu
ngôn ngữ nghệ thuật. Từ đó lưu ý đến việc khai thác các tín hiệu ngôn ngữ
nghệ thuật với tư cách là phương tiện quan trọng bậc nhất của văn chương.
Theo hai tác giả, ngôn ngữ có bản chất tín hiệu. Tính chất tín hiệu của
ngôn ngữ, trước hết được thể hiện ở tính hai mặt của nó: mặt biểu đạt của tín
hiệu ngôn ngữ là âm thanh nghe được, còn mặt được biểu đạt là ý nghĩa, khái 16
niệm về sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất…mà âm thanh đó gọi tên
[19; tr5].
Tuy nhiên, so với các tín hiệu khác, mối quan hệ giữa hai mặt của
ngôn ngữ đa dạng, phức tạp hơn nhiều. Chẳng hạn, lấy từ làm đơn vị trung
Từ góc độ thông tin – tín hiệu học, có người xem tác phẩm nghệ thuật
như một loại thông điệp đặc biệt chứa đựng trong nó “những nhận thức thẩm
mỹ về hiện thực, đồng thời chứa đựng những sức mạnh tinh thần tham gia
vào sự chiếm hữu hiện thực về mặt thẩm mỹ. Những sức mạnh này được
hiểu như là những phương tiện nghệ thuật được sử dụng vào mục đích
thẩm mỹ” [ 31; tr17]. Tín hiệu thẩm mỹ là những phương tiện nghệ thuật
được sử dụng vào mục đích thẩm mỹ, “thực hiện chức năng thẩm mỹ: xây
dựng hình tượng tác phẩm nghệ thuật” [19; tr270] . Trong nhiều đề tài nghiên
cứu về tín hiệu thẩm mỹ, các tác giả đều thống nhất ở chỗ coi tín hiệu thẩm
mỹ là yếu tố thuộc phương tiện biểu hiện của nghệ thuật, chúng phải có ý
nghĩa thẩm mỹ, phục vụ cho mục đích thẩm mỹ của tác giả và khơi dậy tình
cảm thẩm mỹ của người đọc. Trên cơ sở tiếp thu lý thuyết của các tác giả,
chúng tôi thống nhất cách hiểu về tín hiệu thẩm mỹ như sau “ Tín hiệu thẩm
mỹ là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ
thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng (những chi
tiết, nhưng sự việc, hiện tượng, những cảm xúc…thuộc đời sống hiện thực và
tâm trạng), những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với
văn học; các yếu tố của chất liệu màu sắc với hôi họa; âm thanh, nhịp điệu,
tiết tấu với âm nhạc….) được lựa chọn và sáng tạo trong các tác phẩm nghệ
thuật vì mục đích thẩm mỹ” [Dẫn theo 41; tr11].
* Nguồn gốc
Trong thực tế khách quan, mọi sự vật, đối tượng, thực thể đều trở thành
tín hiệu nếu hình thức biểu hiện của nó chứa đựng một nội dung thông tin
nhất định. Khi những tín hiệu đầu tiên đi vào trong tư duy và giao tiếp con
người, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là mối quan hệ có
tính lý do. Sau đó, trong quá trình thay đổi của những biểu hiện cảm tính và
nội dung ý nghĩa trong những biểu hiện cảm tính đó, ta có tín hiệu mang tính 18
19
Thấy nhàn (nhạn) luống tưởng thư phong
Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng
(Chinh phụ ngâm)
Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng
Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền
(Cung oán ngâm)
Tóm lại, tín hiệu thẩm mỹ có nguồn gốc hoặc từ hiện thực, hoặc từ ảnh
hưởng của các nền văn hóa. Tuy nhiên, khi vào trong tác phẩm văn học, khi
thực hiện chức năng thẩm mỹ, các tín hiệu được cấu tạo lại, tổ chức lại trong
mối quan hệ với các nhân tố của quá trình giao tiếp đặc biệt.
* Các đơn vị tín hiệu thẩm mỹ
Tín hiệu đơn (tín hiệu cơ sở) là loại tín hiệu tương đương với loại đơn
vị hai mặt nhỏ nhất của ngôn ngữ.
Tín hiệu phức (tín hiệu xây dựng) là loại tín hiệu tương đương với kết cấu
ngôn ngữ có sự tham gia của từ hai đơn vị tín hiệu thẩm mỹ trở lên, mang ý nghĩa
tương đối độc lập so với ý nghĩa của từng tín hiệu riêng lẻ tham gia trong nó.
* Phương thức cấu tạo tín hiệu thẩm mỹ
Thông tin thẩm mỹ mà chúng ta thu nhận được phải được tạo ra từ yếu
tố ngôn từ có giá trị thẩm mỹ. Phương thức để tạo ra cái giá trị thẩm mỹ ấy
cho từ, cho tín hiệu nghệ thuật chính là các biện pháp nghệ thuật tu từ mà tiêu
biểu là ẩn dụ và hoán dụ.
Ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức chuyển nghĩa cơ bản của ngôn
ngữ. Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên mối quan hệ tương đồng,
nghĩa là giống nhau về một nét nào đó giữa hai đối tượng.
Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên mối quan hệ kế cận,
tức là thường xuyên đi đôi, gần gũi với nhau.
Không chỉ là phương thức chuyển nghĩa của ngôn ngữ tự nhiên, ẩn dụ
li la li la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn 21
Với những hình ảnh hoán dụ, với cách sắp xếp theo nguyên tắc gián cách
(tiếng đàn bọt nước, áo choàng đỏ gắt, vầng trăng chếnh choáng), câu thơ có khả
năng tạo ra những hình ảnh lạ hóa, biên độ ý nghĩa hình ảnh thơ được mở rộng,
mỗi hình ảnh, câu thơ, đoạn thơ tựa như khối vuông rubic, như viên xúc xắc,
như kính vạn hoa lấp lánh sắc màu. Do đó, đoạn thơ có khả năng gợi ra hình ảnh
người nghệ sĩ tự do, phiêu lãng và cô đơn trong bối cảnh sục sôi, căng thẳng của
thực tại đương thời Tây Ban Nha hay trái tim sục sôi của người nghệ sĩ chứa
đầy khát vọng: khát vọng tự do trong một chế độ thù địch với tự do; khát vọng
cách tân giữa một nền nghệ thuật đã già nua, cằn cỗi?
Ẩn dụ và hoán dụ có thể sử dụng trong mọi trường phái, mọi thời kỳ
lịch sử, chỉ có điều chúng được tổ chức lại trong những tín hiệu thẩm mỹ
dưới những hình thức kết hợp khác nhau.
Bài thơ Cô gái trộm sen của Lê Đạt được tác giả mượn ẩn dụ trong
bài Trì thượng (Trên ao) của Bạch Cư Dị rồi tổ chức lại trong những tín hiệu
thẩm mỹ dưới hình thức kết hợp khác (đổi từ cấu trúc thẳng sang cấu trúc
nổi, từ kết cấu liên tiếp sang kết cấu gián đoạn) để diễn tả những thông tin
thẩm mỹ khác (vẻ đẹp hồn nhiên, ngây thơ của thiếu nữ trong thơ Bạch Cư
Dị vào thơ Lê Đạt lại là vẻ phơi phới, trẻ trung và rất đỗi gợi tình của người
con gái đương thì chanh cốm)
Cô gái trộm sen về ủ tuổi
Lỏng khuy cài, gió thổi một dòng hương
Chân dại, bước e, tình ấp lôi
Bướm cờ non, màu í ới lòng đường