1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THU ĐÔNG
DẠY HỌC PHẦN ĐỌC THÊM CÁC TÁC PHẨM
THƠ TRỮ TÌNH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12
THEO HƯỚNG TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN Ngành: SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Khánh Thành HÀ NỘI - 2012
6
Môc lôc
Lời cảm ơn
i
Danh mục các chữ viết tắt
ii
Danh mục các bảng
iii
3.1. Mục đích
3
3.2. Nhiệm vụ
3
5. Phương pháp nghiên cứu
4
6. Cấu trúc luận văn
4
1.1.1. Học trên lớp
5
1.1.2. Thảo luận tập thể
6
2. Lịch sử vấn đề
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
4.1. Đối tượng
3
4.2. Phạm vi khảo sát
3
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
5
1.1. Các hình thức tổ chức dạy học
5
1.2. Hoạt động tự học và hình thức dạy tự học có hướng dẫn
6
1.3. Thể loại thơ trữ tình và hoạt động đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình
trong chương trình Ngữ văn bậc THPT
20
7
1.3.1.2. Sự phân chia loại thể
21
1.3.2. Thể loại thơ trữ tình
24
1.3.2.1. Định nghĩa
24
1.3.2.2. Những đặc điểm cơ bản của thơ trữ tình
25
1.3.3. Hoạt động đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn
3.2.5. Phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
70
3.3. Hoạt động tổ chức dạy học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình
trong chương trình Ngữ văn lớp 12
72
3.3.1. Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà
72
Chương 2: Thực trạng dạy - học phần đọc thêm tác phẩm thơ trữ tình
trong chương trình ngữ văn lớp 12
31
2.1. Vị trí của phần đọc thêm trong chương trình Ngữ văn bậc THPT
31
2.2. Những thuận lợi, khó khăn khi dạy- học phần đọc thêm các tác
phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12
37
2.2.1. Khảo sát văn bản thơ trữ tình phần đọc thêm trong chương trình Ngữ
văn lớp 12
37
2.2.1.1. Tính trữ tình và chủ thể trữ tình
37
2 .2.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ thơ
40
2.2.2. Khảo sát tư liệu dạy - học
43
2.2.3. Khảo sát về đối tượng dạy và học
51
Chương 3: Đề xuất một số phương pháp dạy - học phần đọc thêm các
tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12
54
3.5.4. Nội dung thực nghiệm
101
3.5.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm
102
Kết luận và khuyến nghị
105
Tài liệu tham khảo
107
Phụ lục
109
Phụ lục 1
109
Phụ lục 2
113
Phụ lục 3
114
Phụ lục 4
115
Phụ lục 5
116
Phụ lục 6
117
Phụ lục 7
118
trong việc rèn kĩ năng, phương pháp tự đọc - hiểu một văn bản văn học, hình thành
nên một "văn hóa đọc" cho các em. Tuy nhiên, dung lượng thời gian giảng dạy trên
lớp dành cho các tác phẩm này rất hạn chế, chỉ là một phần đan xen thêm trong quá
trình giảng dạy chính khóa tạo ra nhiều khó khăn cho hoạt động dạy học. Làm thế
4
nào để phát huy được khả năng tự học, tự đọc- hiểu các văn bản thơ trữ tình trong
phần đọc thêm theo đúng yêu cầu đặc trưng loại thể là vấn đề rất nhiều GV trăn trở.
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài Phương pháp dạy học phần đọc thêm
các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học
có hướng dẫn.
2. Lịch sử vấn đề.
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học nói chung và dạy tác phẩm thơ trữ tình
nói riêng đã được nghiên cứu từ lâu, có thể kể tới những công trình như: Cuốn sách
Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông của V.Anhikonski khẳng định
"HS là độc giả tác phẩm văn học" và "quá trình đọc các tác phẩm văn học là một
quá trình sáng tạo". Tác giả cuốn giáo trình Phương pháp luận dạy văn học do Zla-
Rezzia chủ biên, đã đặt phương pháp tập đọc sáng tạo ở vị trí hàng đầu như là
phương pháp đặc biệt nhất đối với văn học nhằm phát triển cảm thụ nghệ thuật, hình
thành những thể nghiệm nghệ thuật, những khuynh hướng và năng khiếu nghệ thuật
cho học sinh bằng phương diện nghệ thuật. Cuốn Phương pháp dạy học văn của các
tác giả Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt đã
trang bị cho GV những kiến thức vững chắc có hệ thống về phương pháp luận bộ
môn. Cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể của các tác giả Trần
Thanh Đạm, Huỳnh Lí, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn và Đàm Gia Cẩn - Nxb Giáo
dục, 1971, đã giúp GV thuận tiện hơn khi tiếp cận tác phẩm văn học từ đặc trưng
loại thể. Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương (theo loại thể) - Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001, đưa ra phương pháp
dạy học tác phẩm tự sự, tác phẩm trữ tình, tác phẩm văn học nước ngoài, tuy nhiên
các phương pháp phù hợp với việc giảng dạy các bài đọc thêm trong chương trình
bài đọc thêm nói riêng và rèn năng lực tự học, tự nghiên cứu trong bộ môn Ngữ văn
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
- Khảo sát việc dạy học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình
Ngữ văn lớp 12.
- Đề xuất những phương pháp dạy học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình
trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn.
6
- Hiện thực hóa các phương pháp dạy học phần đọc thêm các tác phẩm thơ trữ tình
trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn bằng các giáo
án thể nghiệm.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tƣợng.
Đối tượng mà đề tài hướng tới là những phương pháp dạy học phần đọc thêm
các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có
hướng dẫn.
4.2. Phạm vi.
- Văn bản thơ Bên kia sông Đuống (trích) của Hoàng Cầm, Đất nước của Nguyễn
Đình Thi, Dọn về làng của Nông Quốc Chấn, Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên,
Đò lèn của Nguyễn Duy, Bác ơi! của Tố Hữu - SGK Ngữ văn lớp 12.
- GV và HS trường THPT Ngô Quyền - quận Lê Chân, Hải Phòng; GV và HS
trường THPT Thái Phiên - quận Ngô Quyền, Hải Phòng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
- Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
- Sử dụng các phương pháp điều tra, thực nghiệm sư phạm
6. Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn được trình bày trong 3 chương:
nhằm đạt được mục đích nhất định.
1.2.1.2. Vai trò của tự học.
Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi con
người, là con đường tự khẳng định của mỗi người.
Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người. Có phương
pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao.
Tự học của HS THPT còn có một vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới
giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo ở trường phổ thông.
1.2.1.3. Các năng lực tự học cần bồi dưỡng và phát triển cho HS.
8
* Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề.
* Năng lực giải quyết vấn đề.
* Năng lực xác định những kết luận đúng.
* Năng lực vận dụng kiến thức (hoặc tự thu nhận thức kiến thức mới).
* Năng lực đánh giá và tự đánh giá.
Năm năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau, tạo nên năng lực tự
học ở HS.
1.2.1.4. Hệ thống kỹ năng tự học.
Tuỳ theo môn học mà HS có những kĩ năng tự học phù hợp. Một cách chung
nhất, HS cần phải được rèn luyện các kĩ năng tự học cơ bản sau:
- Biết đọc, nghiên cứu giáo trình và tài liệu học tập, chọn ra những tri thức cơ bản
chủ yếu, sắp xếp hệ thống hoá theo trình tự hợp lí, khoa học.
- Biết và phát huy được những thuận lợi, hạn chế những mặt non yếu của bản thân
trong quá trình học ở lớp, ở nhà, ở thư viện, ở phòng thí nghiệm,
- Biết vận dụng các lợi thế và khắc phục các khó khăn, thích nghi với điều kiện học
tập (cơ sở vật chất, phương tiện học tập, thời gian học tập ).
- Biết sử dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp học tập cho phép để đạt hiệu
quả học tập cao.
- Biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kì, cả năm
1.2.2. Dạy tự học có hướng dẫn.
1.2.2.1. Một số quan niệm về dạy cách học.
- Dạy là truyền đạt thông tin
- Dạy là truyền đạt kiến thức và thái độ đối với kiến thức đó.
- Dạy là giúp cho người học được học tập dễ dàng.
- Dạy là hỗ trợ cho việc học của HS.
Dạy học nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng cần phải áp dụng những
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để đảm bảo ở mức độ cao nhất tính tích
cực, tự giác của HS, tạo nên hứng thú học tập, năng lực sáng tạo, góp phần cải tiến
phương pháp, thiết bị giảng dạy phù hợp với nội dung mới, phương pháp mới. Việc
dạy và học là hai mặt của một quá trình thống nhất. Việc dạy của GV phải có tác
dụng điều khiển (tổ chức, chỉ đạo, đánh giá) sự học của HS. Dạy tốt là làm cho HS
biết học, biết hỏi do đó sẽ hiểu và biết hành, biết biến quá trình đào tạo thành quá
trình tự đào tạo. Sự học của HS sẽ dựa vào việc dạy của GV nhưng nó cũng là quá
trình tự giác, tích cực và tự lực của HS.
10
1.2.2.2. Dạy tự học có hướng dẫn.
Dựa trên những nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn, một số tác giả đề xuất tổ
chức quá trình dạy tự học cho HS như sau:
- Tạo ra tình huống để tạo động cơ, nhu cầu, hứng thú nhằm huy động cao độ sức
lực, trí tuệ của HS vào hoạt động sáng tạo.
- GV phân chia nhiệm vụ nhận thức thành hệ thống những nhiệm vụ nhỏ liên tiếp
thuộc vùng phát triển gần của HS.
- HS tự lực hoạt động, áp dụng những phương pháp nhận thức đã biết để thích nghi
với môi trường, vượt qua khó khăn, giải quyết những vấn đề nêu ra.
Thực tiễn ở trường phổ thông hiện nay, để việc học tập của HS hứng thú và
hiệu quả thì hệ thống câu hỏi giữ vai trò rất quan trọng - Trả lời câu hỏi vừa là mục
đích vừa là nội dung lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm. Các câu hỏi này
cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả niềm vui sướng
1.3.2. Thể loại thơ trữ tình.
1.3.2.1. Định nghĩa về thơ trữ tình.
Thơ là một thể loại văn học được xây dựng bằng hình thức ngôn ngữ ngắn
gọn súc tích, theo những quy luật ngữ âm nhất định, nhằm phản ánh tâm trạng, thái
độ, tình cảm của người nghệ sĩ về đời sống thông qua những hình tượng nghệ
thuật.
1.3.2.2. Những đặc điểm cơ bản của thơ trữ tình.
a. Tính trữ tình và chủ thể trữ tình.
* Tính trữ tình:
Trữ tình là yếu tố quyết định tạo nên chất thơ. Tác phẩm thơ luôn thiên về
diễn tả những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về cuộc đời. Những
rung động ấy xét đến cùng là những tiếng dội của những sự kiện, những hiện tượng
đời sống vào tâm hồn nhà thơ.
* Chủ thể trữ tình:
Trong tác phẩm thơ ta luôn bắt gặp bóng dáng con người đang nhìn, ngắm,
đang rung động, suy tư về cuộc sống. Con người ấy được gọi là chủ thể trữ tình.
Trong tác phẩm thơ, chủ thể trữ tình là yếu tố luôn có mặt để thể hiện nội dung trữ
tình của tác phẩm.
b. Đặc điểm ngôn ngữ thơ.
+ Ngôn ngữ thơ giàu tính tạo hình.
+ Ngôn ngữ thơ giàu tính biểu hiện.
12
1.3.3. Hoạt động đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn bậc
THPT.
1.3.3.1. Hoạt động đọc - hiểu văn bản văn học trong môn Ngữ văn bậc THPT.
Tiếp tục phương châm lấy HS làm trung tâm, phương pháp dạy - học Ngữ
văn đòi hỏi phải biến môn Ngữ văn thành môn dạy kĩ năng đọc - hiểu cho HS đối
với các loại văn bản. Đọc - hiểu văn bản gồm có các cấp độ: đọc thầm, đọc âm vang
và đọc có mục đích.
Về mặt số lượng các văn bản đọc thêm chiếm một tỷ lệ đáng kể: Trong
chương trình Ngữ văn lớp 10, tỷ lệ là 14/38 văn bản. Trong chương trình Ngữ văn
lớp 11, tỷ lệ là 14/40 văn bản. Trong trương trình Ngữ văn lớp 12, tỷ lệ là 12/32 văn
bản.
Bên cạnh hệ thống các văn bản học chính thức, loại văn bản hướng dẫn đọc
thêm góp phần làm giàu kiến thức văn học của HS. Đặc biệt, nó có một vị trí quan
trọng trong việc rèn luyện kỹ năng - phương pháp tự học, tự nghiên cứu văn bản,
góp phần hình thành cho các em văn hóa đọc, đáp ứng các yêu cầu đổi mới dạy học,
phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS.
2.2. Những thuận lợi, khó khăn khi dạy - học phần đọc thêm các tác phẩm thơ
trữ tình trong chƣơng trình Ngữ văn lớp 12 .
2.2.1. Khảo sát văn bản thơ trữ tình phần đọc thêm trong chương trình Ngữ văn
lớp 12.
2.2.1.1. Tính trữ tình và chủ thể trữ tình.
2 .2.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ thơ.
2.2.2. Khảo sát tư liệu dạy - học.
*Khảo sát SGK Ngữ văn lớp 12 chương trình chuẩn, Phan Trọng Luận tổng chủ
biên - Nxb Giáo dục, 2007
Thời gian dành cho việc hướng dẫn đọc thêm: Thời gian dành cho việc dạy -
học văn bản đọc thêm không nhiều. Trong khoảng thời gian đó, GV phải đảm bảo
đủ các hoạt động lên lớp, phải khắc sâu kiến thức trọng tâm bài học, đặc trưng thể
loại. Vậy nên, GV dù cố gắng đến thế nào cũng rất khó để lưu lại trong tâm trí HS
những hiểu biết cơ bản về các tác phẩm này.
Bài học được biên soạn trong SGK gồm các nội dung sau:
- Tiểu dẫn: Giới thiệu những nét chính về tiểu sử, sự nghiệp sáng tác.
14
- Ở phần văn bản đoạn trích, các câu hỏi hướng dẫn đọc thêm trong SGK đã đưa ra
các câu hỏi về bố cục, cảm xúc, hình tượng thơ.
Điều đáng chú ý hơn nữa là trong SGK đối với các văn bản đọc thêm, mục
- THPT Ngô Quyền - quận Lê Chân, Hải Phòng.
- THPT Thái Phiên - quận Ngô Quyền , Hải Phòng.
Tổng số phiếu phát ra gửi đến GV là 45 phiếu, HS là 115 phiếu ở cả 2
trường. Nội dung phiếu điều tra dành cho GV và HS ở phụ lục 4 và 5. Sau đây là
kết quả khảo sát.
*Về phía GV.
Qua khảo sát thực trạng dạy học ta thấy có một bộ phận không nhỏ GV còn
vướng mắc, lúng túng trong cách thức dạy học ngữ văn nói chung và những bài đọc
thêm nói riêng. Đó là hiện tượng chỉ chú trọng các văn bản chính thức mà bỏ qua
hoặc xem nhẹ các phần đọc thêm. Thực tế hiện nay đang tồn tại hai khuynh hướng
hai cách dạy các bài đọc thêm như sau:
Cách 1: Để HS tự hoạt động thông qua hình thức GV nêu một số câu hỏi
trong SGK - học trò trả lời.
Cách 2: Thầy - trò cùng hoạt động, tìm vài nét sơ lược về nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm.
Kết quả: Yếu tố hướng dẫn của thầy và kỹ năng tự học của trò không thực
hiện được hoặc nếu có thì cũng mờ nhạt. Điều đáng buồn hơn là các em không nắm
được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, kiến thức của các
em nghèo đi.
* Về phía HS:
Trong điều kiện xã hội hiện nay có không nhiều HS thích học văn học nhất là
các tác phẩm chỉ đọc thêm. Việc chuẩn bị bài của HS trước khi lên lớp cũng rất
kém, đa phần HS chuẩn bị bài là đối phó, soạn qua quýt cho xong để đối phó với sự
kiểm tra của GV. Nếu GV có dạy tốt mà HS không chuẩn bị tốt thì không thể nói
đến hiệu quả của giờ học.
Tuy nhiên, ở lứa tuổi 14 - 18 các em HS có sự phát triển mạnh mẽ về thể lực
và trí tuệ, tình cảm. HS ở lứa tuổi này có nhu cầu tự khẳng định khá cao, có sự
nhạy bén khi đứng trước cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn chương, một sự vật
hoặc một hiện tượng. Các em có khả năng tự đọc, tự học, hiểu thấu đáo vấn đề và
khả năng sáng tạo. Tuy nhiên, khả năng đó của các em chỉ phát huy cao độ đưa đến
phẩm thơ trữ tình là con đường đi từ đặc trưng thể loại. Vì thế, người GV trên cơ sở
những hiểu biết của mình về thể loại hướng dẫn HS khám phá tiếp nhận giá trị tư
tưởng của tác phẩm từ góc độ này. Có như vậy, dạy học phần đọc thêm mới đảm
bảo sự toàn diện khi chiếm lĩnh tác phẩm là chiếm lĩnh cả nội dung và hình thức,
không thiên về nội dung cũng không thiên về hình thức nghệ thuật.
17
3.1.4. Rèn năng lực quy chiếu ngữ cảnh cho HS.
- Quy chiếu với ngữ cảnh văn bản: Đây là quá trình đặt các đơn vị cần được xem
xét của văn bản trong những mối liên hệ với các đơn vị cùng cấp độ và ở cấp độ lớn
hơn để hiểu trọn vẹn chỉnh thể văn bản. Trong thơ, các đơn vị này thường xuất phát
từ cấp độ từ, ngữ, dòng thơ, khổ thơ
- Quy chiếu với ngữ cảnh thời đại: Mỗi một tác phẩm là một lời nói của một tác giả,
một con người cụ thể sống trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định. Do đó
không thể hiểu thấu đáo nghĩa của một tác phẩm nếu không đặt nó trong ngữ cảnh
thời đại đã sản sinh ra nó, xem tác phẩm ấy đối thoại gì với những chủ ngôn trước
đó, từ đó rút ra những đóng góp của tác giả về mặt tư tưởng nghệ thuật.
3.1.5. Phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ và giao tiếp xã hội cho HS.
Học tác phẩm văn chương là HS học cách ứng xử giao tiếp trong cuộc sống,
trong xã hội, học cách giao tiếp thẩm mĩ. Từ việc học, đọc một tác phẩm cụ thể, các
em sẽ dần dần đưa tác phẩm vào một văn cảnh mới, quan hệ mới, từ đó phát hiện ra
ý nghĩa mới, nội dung mới của tác phẩm đó. Bởi việc tiếp nhận của mỗi HS đều
mang đậm sắc thái chủ quan, các em có thể tái tạo, bổ sung, phát triển hình tượng
nghệ thuật trong tâm trí của mình, biến vốn văn hóa của nhân loại thành phẩm chất
trí tuệ, năng lực hoạt động của bản thân.
Để phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ, giao tiếp xã hội cho HS, môn Văn
có vị trí hết sức quan trọng. Từng bước ở trên lớp, từ việc đọc tác phẩm, hướng dẫn
HS chuẩn bị bài ở nhà, từ việc đặt câu hỏi đến việc giảng bình, cắt nghĩa người
GV dạy văn phải khai thác triệt để khả năng tác động giáo dục thẩm mĩ của mỗi tác
phẩm văn chương cho HS và dẫn dắt các em học theo những hành vi cao thượng,
biện pháp nghệ thuật đều là những tác nhân kích thích mạnh vào tâm hồn của người
thưởng thức tạo nên một ấn tượng riêng trong chất thơ. Việc đọc diễn cảm bài thơ là
con đường ngắn nhất để đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
3.2.2. Phương pháp đặt câu hỏi.
Hướng dẫn HS đọc - hiểu qua việc xây dựng một hệ thống những câu hỏi để
kiểm tra, phát hiện mức độ nhận thức năng lực tư duy của HS về tác phẩm cũng là
một phương pháp quan trọng cần được ứng dụng triệt để và sáng tạo trong quá trình
hướng dẫn HS tiếp nhận các văn bản trong chương trình Ngữ văn .
Trong quá trình xây dựng hệ thống các câu hỏi, GV phải chú ý quán triệt
những nguyên tắc sau:
19
- Hệ thống câu hỏi phải bám sát vào văn bản, tập trung vào giá trị độc đáo của tác
phẩm và có cách diễn đạt trong sáng.
- Hệ thống câu hỏi phải tập trung kích thích được trí thông minh, tư duy sáng tạo
của HS, tức là phải tập trung chú ý vào loại câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi tìm tòi phát
hiện.
- Hệ thống câu hỏi vừa phải vạch ra được quá trình phân tích, cắt nghĩa, bình giá tác
phẩm, vừa phải nêu ra được những nhận thức về tri thức cũng như tác dụng của tác
phẩm đối với HS.
- Hệ thống câu hỏi phải giúp HS hình thành được những phương pháp và kĩ năng tự
đọc, tự khám phá và chiếm lĩnh tác phẩm văn chương. Câu hỏi phải đảm bảo tính
khoa học, tính hệ thống, tính nghệ thuật, tính sư phạm và phải phù hợp với quy luật
tiếp nhận tác phẩm văn chương.
Đối với việc đọc - hiểu các tác phẩm thơ trữ tình thuộc phần đọc thêm trong
chương trình Ngữ văn lớp 12, GV nên khai thác triệt để hệ thống câu hỏi trong phần
hướng dẫn đọc thêm. Các câu hỏi này bám sát những vấn đề trong bài học từ dễ đến
khó. Hệ thống câu hỏi này sẽ có tác dụng dẫn dắt các em từng bước khám phá các
giá trị của tác phẩm. Bên cạnh đó GV có thể bổ sung thêm các câu hỏi cảm xúc,
hình dung tưởng tượng. Đặc biệt cần khai thác vốn kiến thức sẵn có của các em để
các em HS phải rất tự giác trong việc chuẩn bị. Nhưng muốn làm được tốt thì các
tiết học trước phải có sự hướng dẫn các em chu đáo, GV cần hướng dẫn HS tự đọc -
hiểu trước ở nhà như sau:
3.3.1.1. Hướng dẫn học sinh tự làm việc với SGK.
* Quan niệm về SGK.
Một công cụ không thể thiếu trong quá trình tự học của HS là SGK. Việc sử
dụng SGK có hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc nắm vững kiến thức nói
chung và phát huy tính tích cực tự giác của HS.
* Hướng dẫn HS sử dụng SGK trong phần đọc thêm.
Để sử dụng SGK học tập đạt kết quả tốt, người GV cần đề ra những nhiệm
vụ học tập cụ thể cho HS đối với việc đọc hiểu văn bản đọc thêm.
- Hướng dẫn HS tự đọc văn bản và trả lời các câu hỏi.
+ Đọc văn bản: Đọc là một lao động sáng tạo mang tính nghệ thuật. Hoạt động đọc
có tác dụng đánh thức hệ thống kí hiệu trong văn bản, làm cho các kí hiệu trở nên
sinh động với những ý nghĩa, giá trị mới. Đọc là một phương pháp tiếp nhận nghệ
thuật một cách sáng tạo. Khi tiếp xúc với văn bản một cách nghiêm túc và có mục
21
đích thì sẽ đánh thức được ở HS những tiềm năng có sẵn ở liên tưởng, tưởng
tượng
+ Trả lời các câu hỏi trong SGK: Ngoài văn bản được trích đọc, trong SGK còn có
hệ thống các câu hỏi hướng dẫn đọc thêm. Vì vậy bên cạnh việc nắm vững nội
dung, bố cục văn bản, HS cần nghiên cứu để giải quyết hết số câu hỏi trong SGK.
Quá trình tự trả lời câu hỏi chính là quá trình HS bước đầu tự mình khám phá, phân
tích, cắt nghĩa cả nội dung lẫn hình thức của văn bản thơ.
3.3.1.2. Hướng dẫn HS thu thập, chọn lọc, sắp xếp tư liệu có liên quan tới các văn
bản đọc thêm.
Bên cạnh việc đọc hiểu SGK, trong quá trình dạy học các bài đọc thêm, GV
còn cần hướng dẫn HS sưu tầm các tài liệu liên quan tới văn bản. Việc sưu tầm này
giúp các em có một vốn kiến thức sâu rộng và cũng để các em nắm được vấn đề bài
hoặc thể loại.
Tạo tâm thế cho HS khi tiếp nhận tác phẩm văn chương còn thể hiện ở lời
dẫn dắt vào bài của GV. Làm thế nào gây được sự kích thích, sự hứng khởi để HS
cuốn vào bài học mà phải thỏa mãn "đủ", "đúng", "trúng", "hay"? Điều này quả
không dễ.
3.3.3. Hoạt động đọc - hiểu.
3.3.3.1. Đọc - hiểu phần tiểu dẫn và chú thích.
Trong đọc - hiểu phần tiểu dẫn và chú thích, cần lưu ý hai loại kiến thức:
*Loại 1: Những kiến thức về tác giả, tác phẩm.
Phần này GV chỉ hướng dẫn HS tìm được yếu tố nào trong cuộc đời của tác
giả đã ảnh hưởng và chi phối sâu sắc đến quá trình thai nghén tác phẩm. Đây là yếu
tố quan trọng để giúp các em hiểu sâu nội dung tác phẩm.
*Loại 2: Loại chú thích về từ ngữ và các điển tích.
Phần này chỉ hướng dẫn các em tìm hiểu và nắm từ ngữ khó, điển tích khó
với mục đích giúp các em khai thông - giải mã văn bản bước đầu.
3.3.3.2. Đọc - hiểu văn bản.
Bước 1: Tri giác hình tượng ngôn ngữ
Đọc diễn cảm để nắm vững giọng điệu của tác phẩm, làm sống dậy tâm tư,
tình cảm mà tác giả gửi gắm, giãi bày trong đó đồng thời xác định được thể loại, bố
cục và hình tượng thơ.
Bước 2: Đọc với sức mạnh của hồi ức, liên tưởng, tưởng tượng để cẩm nhận ý nghĩa
của hình tượng nghệ thuật. Một hình tượng nghệ thuật thường có nhiều lớp nghĩa,