Dạy học phần đọc thêm các tác phẩm tự sự
trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo
hướng tự học có hướng dẫn Trần Thị Hương Mai Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Khánh Thành
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài: Xu hướng đổi
mới phương pháp dạy học; cơ sở lý luận về tự học; khảo sát phần Đọc thêm môn
Ngữ văn; thực trạng dạy-học phần Đọc thêm môn Ngữ văn trung học phổ thông
(THPT). Khảo sát về việc dạy - học phần đọc thêm các tác phẩm tự sự lớp 12 trong
trường THPT. Đề xuất phương pháp dạy học (PPDH) phần đọc thêm các tác phẩm
tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn. Hiện thực
hóa PPDH phần đọc thêm các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 12
theo hướng tự học có hướng dẫn bằng hoạt động tổ chức dạy học. Thiết kế giáo án
thể nghiệm. Kiểm chứng về mức độ đạt được khi áp dụng PPDH phần đọc thêm các
tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn
qua thực nghiệm giảng dạy.
Keywords. Phương pháp giảng dạy; Ngữ văn; Lớp 12; Tự học Content
GS đầu ngành. Trong cuộc hội thảo này, nội dung các bài viết, các bài phát biểu đều nhấn
mạnh tầm quan trọng của tự học và yêu cầu các cấp ngành phải chăm lo xây dựng phong trào
tự học toàn dân. Tạp chí nghiên cứu Giáo dục số 2 năm 1998 đã đặc biệt quan tâm đăng tải
một số bài viết tiêu biểu trong hội thảo: “Tự học – chìa khoá vàng của giáo dục” của GS.
Phan Trọng Luận, “Vì năng lực tự học sáng tạo của HS” của Nguyễn Nghĩa Dân…Bên cạnh
đó, một số cuốn sách cũng được xuất hiện như “Tôi tự học” – Nguyễn Duy Cần, “Tự học là
một nhu cầu của thời đại” – Nguyễn Hiến Lê, “Luận bàn và kinh nghiệm tự học” – GS.
Nguyễn Cảnh Toàn Đặc biệt, trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học còn cho ra mắt bạn
đọc tạp chí “Tự học”. Tuy vậy, các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết
chung nhất cho mọi môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học.
Cuốn “Học và dạy cách học” do GS. Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên, NXB ĐHSP, xuất
bản 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết một cách có hệ thống về
việc “học” và “dạy cách học”. Cuốn sách này đã thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi
mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học.
2.2. Tự học trong môn Ngữ văn.
Ngữ văn là một môn học có những đặc trưng riêng đòi hỏi người đọc phải có sự liên
tưởng, tưởng tượng, nên trong việc thay đổi phương pháp giảng dạy thì giảng dạy môn Ngữ
văn cũng là một vấn đề được quan tâm.
Đã có rất nhiều những bài viết, những công trình đề cập đến vấn đề tự học nói chung
và tự học môn Ngữ văn nói riêng. Các bài viết đã chỉ ra được mục tiêu, cách thức, biện pháp
để dạy tự học. Tuy nhiên, các bài viết còn thiên về mặt lí thuyết mà chưa cụ thể hoá đối với
từng môn học, phân môn của nhà trường phổ thông. Từ thực tế đó, chúng tôi đề xuất nghiên
cứu vấn đề dạy học phần đọc thêm các tác phẩm tự sự trong chương trình ngữ văn lớp 12
theo hướng tự học có hướng dẫn.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Từ việc tìm hiểu đặc trưng của tác phẩm tự sự, khảo sát về việc dạy- học phần đọc thêm
các tác phẩm tự sự lớp 12 trong trường THPT, luận văn đề xuất PPDH phần đọc thêm các tác
phẩm tự sự lớp 12 trong chương trình ngữ văn theo hướng tự học có hướng dẫn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
PGS.TS. Trịnh Văn Biều[2], một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và
trong nước ta hiện nay là :
1- Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển lối học từ thông
báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá.
2- Cá thể hóa việc dạy học.
3- Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy
học.
4- Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống . Chuyển từ lối học nặng nề về tiêu
hóa kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức.
5- Cải tiến việc kiểm tra và đánh giá kiến thức .
6- Phục vụ ngày càng tôt hơn hoạt động tự học và phương châm tự học suốt đời.
7- Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của
HS, theo cấp học, bậc học).
Trong các xu hướng trên, có thể nói, việc phát huy tính tích cực chủ động và khả năng
tự học của học sinh là những xu hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy và học hiện
nay.
1.1.2. Một số quan niệm về dạy cách học:
Một số quan niệm về việc dạy học:
- Dạy là truyền đạt thông tin.
- Dạy là truyền đạt kiến thức và thái độ đối với kiến thức đó.
- Dạy là giúp cho người học được học tập dễ dàng.
- Dạy là hỗ trợ cho việc học của học sinh.
Hai quan niệm đầu là cách dạy thiên về số lượng, GV chỉ chú trọng đến lượng kiến
thức truyền đạt cho HS. Hai quan niệm cuối thiên về chất lượng. Trọng điểm của việc dạy là
thay đổi cách nhìn, cách dùng kiến thức. Việc dạy của GV nhằm làm cho việc học được dễ
dàng hơn.
1.1.3. Phương pháp dạy học tích cực.
1.1.3.1.Quan niệm về PPDH nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở
nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,
mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Phương
pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường và sử dụng phổ biến trong
dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người.
Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề
gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ
chung. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên
quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Nền kinh tế thị trường đã xuất hiện
nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác trở thành một mục tiêu giáo
dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh.
d, Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng
và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và
điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là
năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh.
1.2. Cơ sở lý luận về tự học.
1.2.1. Khái niệm tự học.
Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở
một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống, bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục
đích nhất định.
1.2.2. Các hình thức tự học.
1.2.2.1. Tự học hoàn toàn (Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có
sách và sự hướng dẫn của giáo viên)
Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học. Tới trình độ tự học này người
học không thầy, không sách mà chỉ cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạt
động của mình.
1.2.2.2. Tự học có sách nhưng không có giáo viên bên cạnh.
Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:
Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:
Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn:
1.2.2.3. Tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên.
theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức, khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi
nhét, áp đặt. Kiến thức có được do tự học là kết quả của hứng thú, tìm tòi, lựa chọn nên bao
giờ cũng vững chắc bền lâu.
1.2.5. Năng lực tự học.
1.2.5.1. Khái niệm năng lực tự học.
Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào
tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao.
1.2.5.2. Một số năng lực tự học cần bồi dưỡng và phát triển cho học sinh.
* Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề.
Năng lực này đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện
tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở lí luận và hiểu biết sẵn
có của mình; phát hiện ra những khó khăn, mâu thuẫn xung đột, những điểm chưa hoàn chỉnh
cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần khai thông, làm sáng tỏ…
* Năng lực giải quyết vấn đề.
Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức
giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông
tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị và kết luận.
* Năng lực xác định kết luận đúng.
Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của
quá trình giải quyết vấn đề. Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả
thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới hoặc áp dụng
( nếu cần thiết).
* Năng lực vận dụng kiến thức.
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở ngay chính trong thực tiễn
cuộc sống, hoặc là học sinh vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc
trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm những kiến
thức mới.
* Năng lực đánh giá và tự đánh giá.
Dạy học đề cao vai trò tự chủ của HS, đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội, khuyến khích
học sinh đánh giá và tự đánh giá mình. Chỉ có như vậy họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách
gợi, bình luận, cắt nghĩa những quan hệ phức tạp giữa nhân vật và nhân vật, giữa nhân vật và
hoàn cảnh
- Hình thức tự sự dựa vào các kiểu kết cấu cốt truyện khác nhau. Có kiểu triển khai rõ rệt các
biến động của sự kiện, có kiểu nhấn chìm dòng biến cố vào những đoạn mô tả , thể hiện tâm
lý, hoặc bàn luận.
- Tác phẩm tự sự có thể viết bằng văn xuôi hoặc văn vần. Dung lượng tác phẩm không hạn
chế, từ các truyện rất ngắn đến các thiên sử thi, tiểu thuyết trường thiên.
- Tự sự chia ra Tự sự dân gian gồm các thể loại thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn,
truyện cười và Tự sự cổ trung đại - hiện đại gồm các thể loại truyền kì, tiểu thuyết, truyện vừa, kí.
1.4. Khảo sát phần Đọc thêm môn Ngữ văn.
1.4.1. Vị trí của phần Đọc thêm môn Ngữ văn ở nhà trường THPT.
Môn Ngữ văn THPT chia làm ba phân môn nhỏ:Văn học( gồm các tác phẩm hoặc
trích đoạn tác phẩm văn học); Làm văn( Các kĩ năng, thao tác làm văn ) và Tiếng Việt. Ở mỗi
phân môn đều có các bài Đọc thêm nhằm củng cố kiến thức cho học sinh. Những văn bản đọc
thêm do đó đều là những văn bản được chọn lựa rất kỹ càng, nội dung, nghệ thuật đều có thể
được coi là tiêu biểu, đại diện cho những tác phẩm cùng giai đoạn hoặc cùng tác giả.
1.4.2. Hướng dẫn thực hiện phần Đọc thêm.
1- Công văn số 5842/BGD ĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 với mục đích hướng
dẫn điều chỉnh nội dung dạy học các môn cấp THPT, trong đó có Ngữ văn, đã quy định thời
lượng dành cho phần đọc thêm dùng để luyện tập, củng cố, thực hành cho học sinh và không
ra bài tập, không kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh vào những nội dung này.
2- Phân phối chương trình môn Ngữ văn THPT của Sở GD_ĐT Hải Phòng hướng dẫn
thực hiện dạy các bài Đọc thêm và các bài Tự học có hướng dẫn đã ghi rõ : “Giáo viên cần
dành thời lượng nhất định (3 đến 5 phút hoặc có thể nhiều hơn tùy theo mục tiêu đề ra sau
khi đã dạy phần chính), hướng dẫn học sinh rất ngắn gọn cách thức tự học, tự đọc. Dành tỉ
trọng câu hỏi và điểm kiểm tra thích đáng để kiểm tra kiến thức và kĩ năng Tự học và Đọc
thêm” [28].
1.5. Thực trạng dạy - học phần Đọc thêm môn Ngữ văn THPT.
1.5.1. Khảo sát chương trình dạy học phần đọc thêm bậc THPT
1.5.1.1. Bảng thống kê phần đọc thêm môn Ngữ văn bậc THPT.
riêng. Thực tế hiện nay đang tồn tại hai khuynh hướng, hai cách dạy các bài đọc thêm như
sau:
- Cách 1: Để học sinh tự hoạt động thông qua hình thức giáo viên nêu một số câu hỏi
trong sách giáo khoa- trò trả lời.
- Cách 2: Thầy - trò cùng hoạt động, tìm hiểu vài nét sơ lược về nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm.
Nhận xét: Phần đọc thêm bị xem nhẹ, chưa phát huy được mục đích tối ưu. Để khắc
phục những tồn tại đó, nên có một phương pháp phát huy khả năng tự học của HS như một
yếu tố quan trọng để học tốt phần đọc thêm.
1.5.3.2. Khảo sát các nguồn tài liệu hướng dẫn đọc thêm.
a, Về phía học sinh.
Tài liệu hướng dẫn cho phần Đọc thêm môn ngữ văn bậc THPT hầu như chưa có.
Để chuẩn bị cho bài Đọc thêm, hầu như học sinh chỉ biết dựa vào hướng dẫn của SGK.
Trong SGK, bài học được biên soạn gồm có : Tiểu dẫn; Văn bản văn học; Hướng dẫn học
thêm bằng hệ thống câu hỏi. Khảo sát các câu hỏi hướng dẫn đọc thêm trong SGK chúng tôi
thấy phần lớn nội dung câu hỏi quá lớn hoặc quá khó gây cản trở cho hoạt động phát huy vai
trò chủ thể của học sinh. Mục kiến thức cần đạt và ghi nhớ không có nên các em học sinh khó
khái quát được về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, chưa có thước đo các chuẩn kiến
thức cần thiết để có định hướng điều chỉnh quá trình nhận thức phù hợp.
b, Về phía giáo viên.
- Khảo sát SGV Ngữ văn chương trình chuẩn, Phan Trọng Luận tổng chủ biên - Nxb Giáo
dục, 2007.
- Khảo sát SGV Ngữ văn chương trình nâng cao, Trần Đình Sử tổng chủ biên - Nxb Giáo dục,
2007.
1.5.3.3. Khảo sát thời gian dành cho việc hướng dẫn đọc thêm các tác phẩm tự sự trong
chương trình ngữ văn lớp 12.
- Mùa lá rụng trong vườn, Một người Hà Nội: 01 tiết
- Những ngày đầu của nước Việt Nam mới: 1/2 tiết
- Bắt sấu rừng U Minh Hạ: 01 tiết
* Nhận xét : Thời gian dành cho văn bản đọc thêm không nhiều. Trong khoảng thời gian đó,
tự học cùng các kỹ năng tự học.
Chúng tôi tiếp tục tiến hành khảo sát vị trí và hướng dẫn dạy phần đọc thêm môn ngữ
văn, khảo sát thực trạng dạy và học phần đọc thêm nói chung và đọc thêm các tác phẩm tự sự
lớp 12 ban cơ bản nói riêng. Ngoài ra chúng tôi còn điều tra thực trạng về việc tự học của học
sinh ở môn ngữ văn.
Từ những vấn đề trên, chúng tôi đề xuất phương pháp dạy phần đọc thêm các tác
phẩm tự sự theo hướng tự học có hướng dẫn trong chương tiếp theo . CHƢƠNG 2
ĐỀ XUẤT PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC PHẦN ĐỌC THÊM
CÁC TÁC PHẨM TỰ SỰ
2.1. Những tiền đề định hƣớng cho việc dạy học phần đọc thêm các tác phẩm tự sự.
2.1.1. Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh qua việc tự học, tự nghiên
cứu.
2.1.1.1. Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay đổi cách
dạy và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”, giáo viên làm
trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực
Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan với động cơ học tập. Động cơ đúng
tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo
nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm
mống của sáng tạo và ngược lại.
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái, chủ động, tự giác
tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên những
cái đã biết. Sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống …
2.1.1.2. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên cứu.
Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học, tự nghiên cứu. Điều quan
trọng là phải giúp người học biết cách khai thác, lựa chọn tìm kiếm thông tin bằng cách hình
học, năng lực tư duy, óc thẩm mĩ, phát triển khả năng tự nhận thức, tự đánh giá các hành
động hành vi đạo đức ở HS.
2.2. Nguyên tắc và thao tác hƣớng dẫn tự học tác phẩm tự sự phần đọc thêm.
2.2.1. Về nguyên tắc:
Coi trọng yếu tố hướng dẫn - tự học của loại bài hướng dẫn đọc thêm và ý nghĩa của
nó trong việc rèn luyện kỹ năng, tiến đến hình thành, xây dựng một phương pháp tự học -
một văn hóa đọc, làm cơ sở cho quá trình học văn trong nhà trường và sau này vào đời cho
học sinh.
Nhận rõ vai trò của yếu tố hướng dẫn, để thầy làm tốt nhiệm vụ của mình trong vai trò
này đối với học sinh, giúp các em "tự học" tốt hơn, có hiệu quả hơn.
Thấy được các mối quan hệ biện chứng của hai yếu tố "tự học" và "hướng dẫn". Nếu người
giáo viên hướng dẫn tốt tất yếu học sinh sẽ tự học tốt, ngược lại nếu hướng dẫn có hạn chế,
kết quả tự học sẽ không cao.
2.2.2. Hướng dẫn tự học phần đọc thêm tác phẩm tự sự trong chương trình 12 THPT.
Luận văn này muốn đề cập đến vai trò hướng dẫn của giáo viên trong việc tổ chức
một giờ Đọc thêm nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh. Giáo viên phải đưa ra những
hướng dẫn, những yêu cầu cụ thể để học sinh làm việc.
2.2.2.1. Hướng dẫn học sinh tự làm việc với sách giáo khoa( SGK).
* Quan niệm về SGK:
SGK là một công cụ không thể thiếu trong quá trình tự học của HS. Việc sử dụng
SGK có hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc nắm vững kiến thức nói chung và phát
huy tính tích cực tự giác của HS.
* Hướng dẫn HS sử dụng SGK trong phần Đọc thêm để chuẩn bị bài trước khi đến lớp (soạn
bài).
Để sử dụng SGK học tập đạt kết quả tốt, người GV cần đề ra những nhiệm vụ học tập
cụ thể cho HS đối với việc đọc hiểu văn bản đọc thêm.
- Hướng dẫn HS tự đọc văn bản và trả lời các câu hỏi.
+ Đọc văn bản.
+ Trả lời các câu hỏi trong SGK:
2.2.2.2. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản qua hệ thống câu hỏi.
chi tiết tiêu biểu và giải thích rõ lý do.
- Các câu hỏi yêu cầu học sinh trình bày ý kiến của mình về một vấn đề nào đó trong tác
phẩm.
2.2.2.3. Hướng dẫn học sinh thu thập, chọn lọc, sắp xếp tư liệu có liên quan tới các văn bản
đọc thêm.
a, Thu thập tài liệu, thông tin về tác giả :
- Nguồn : + Từ điển văn học, nxb Thế giới, 2004.
+ Wikipedia, Google( mạng thông tin điện tử).
- Sắp xếp tài liệu thu thập được về tác giả theo từng mục : Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, đặc
điểm nội dung, đề tài sáng tác và phong cách nghệ thuật.
b, Thu thập các tư liệu về tác phẩm.
- Tác phẩm( bản đầy đủ).
- Các công trình nghiên cứu, phê bình, bình luận về tác phẩm được đăng tải trên mạng điện tử
trong những trang web lớn, có uy tín.
- Các bài phân tích, bình giảng in trong sách tham khảo môn văn.
2.2.2.4. Vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
Trong luận văn này, chúng tôi chú trọng đến hình thức thứ 2 của phương pháp dạy
học phát hiện và giải quyết vấn đề, đó là “ Đàm thoại giải quyết vấn đề”. Giáo viên nêu vấn
đề dưới hình thức câu hỏi với 3 mục đích :
- Kiểm tra năng lực tự học của học sinh qua hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc thêm đã cho
trước đó.
- Kiểm tra khả năng độc lập giải quyết vấn đề của học sinh .
- Kiểm tra khả năng trình bày vấn đề một cách thuyết phục nhằm bảo vệ ý kiến của mình .
Khi nêu vấn đề, giáo viên phải đưa ra chỉ dẫn gợi ý tương đối cụ thể để học sinh
không đi chệch hướng ý đồ của giáo viên. Kiểm tra đánh giá cách giải quyết vấn đề của học
sinh bằng yêu cầu trình bày thành bài tập nghị luận về vấn đề được nêu sau một thời gian cụ
thể ( 5 ngày đến một tuần).
2.3. Tiểu kết :
Điều cốt yếu quyết định kết quả học tập là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và
sáng tạo của học sinh. Nếu không kích thích được trò suy nghĩ, hoạt động thì dù thầy có giỏi
thực nghiệm, chúng tôi nhận được sự ủng hộ của đa số GV về tính khả thi của hướng dạy
này.
3.4. Tiểu kết.
Qua phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm và thăm dò ý kiến của giáo viên giảng
dạy cũng như học sinh ở các lớp thực nghiệm, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:
- Việc dạy phần đọc thêm các tác phẩm tự sự trong chương trình lớp 12 theo hướng tự
học có hướng dẫn bước đầu đã có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
Văn, phát huy được tính chủ động trong việc tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức của học sinh.
- Kết quả bài thu hoạch đã thể hiện hệ thống câu hỏi hướng dẫn và vấn đề được giáo
viên nêu ra sau bài học có tính vừa sức, cụ thể, phù hợp với năng lực và trình độ học sinh.
Kết quả đó bước đầu cho thấy giả thuyết khoa học của đề tài luận văn đặt ra là đúng đắn.
- Đề xuất dạy học phần đọc thêm các tác phẩm tự sự theo hướng tự học có hướng dẫn
là có tính khả thi, có thể phát huy năng lực tự học và bồi dưỡng kỹ năng tự học cho học sinh
lớp 12.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Đối chiếu với mục đích và nhiệm vụ của đề tài, luận văn của chúng tôi đã giải quyết
được những vấn đề sau :
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu nội dung của đề tài :
Xu hướng đổi mới của PPDH hiện nay là dạy học hoạt động hóa người học, đổi mới
PPDH theo hướng dạy học tích cực hoạt động nhận thức, rèn năng lực và kỹ năng tự học,
hình thành phương pháp tự học cho học sinh. Từ đó hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận
về tự học và phương pháp tự học có hướng dẫn, các khái niệm và đặc trưng của loại tự sự
trong văn học.
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài:
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát phần Đọc thêm trong chương trình ngữ văn, phần đọc
thêm các tác phẩm tự sự lớp 12 và thực trạng tình hình dạy của GV, tự học phần đọc thêm
của HS để làm cơ sở thực tiễn cho đề tài và nhận thấy: Mặc dù chiếm một vị trí khá lớn trong
1. Lại Nguyên Ân biên soạn (2003), 150 thuật ngữ văn học. Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Bình (1998), “Bài phát biểu tại Hội thảo nghiên cứu và phát triển tự học tự
đào tạo”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục( 2).
3. Trịnh Văn Biều (2002), Lí luận dạy học hóa học. Nxb Đại học sư phạm TP HCM.
4. Nguyễn Duy Cần, Thu Giang (1999), Tôi tự học. Nxb Thanh niên.
5. Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học tập II, ngữ dụng học. Nxb Giáo Dục.
6. Nguyễn Văn Cƣờng (2006), “Đổi mới phương pháp dạy học trung học phổ thông, một số
vấn đề chung”, Dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông, Bộ Giáo dục và đào tạo.
7. Chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001 – 2010. (Ban hành kèm theo Quyết định số
201/2001/QĐ- TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ).
8. Nguyễn Nghĩa Dân (1998), “Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh”, Tạp chí Nghiên
cứu giáo dục (2).
9. Ngô Thu Dung (2006), Bài giảng Lý luận dạy học. Khoa sư phạm Đại học quốc gia, Hà
Nội.
10. Phạm Văn Đồng (1973), “Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện”, Tạp chí Nghiên
cứu giáo dục (11).
11. Phạm Văn Đồng (6/1/1998), “Thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học,
tự đào tạo”.
12. Phạm Văn Đồng (2000), “Phương pháp tự học và lòng ham học đó là cái quý nhất”, Tạp
chí Tự học (9).
13. Trần Bá Hoành (1998), “Vị trí của tự học tự đào tạo trong quá trình dạy học giáo dục và
đào tạo”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục (7).
14. Lê Quang Hƣng, “Cách học để đạt điểm cao tác phẩm văn xuôi tự sự”, Nguồn http.www.
baomoi.com.
15. Nguyễn Bá Kim - Vũ Dƣơng Thụy (2000), Phương pháp dạy học môn Toán. Nxb Giáo
dục.
16. Phan Trọng Luận (1969), Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học. Nxb Giáo dục, Hà Nội.
17. Phan Trọng Luận, Tự học, chuyện cũ mà mới. Nxb Giáo dục, Hà Nội.
18. Phan Trọng Luận tổng chủ biên (2007), SGV Ngữ văn chương trình chuẩn. Nxb Giáo
dục.