Khoá luận tốt nghiệp
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Ngữ văn
Đỗ Thị Hạnh
Đọc hiểu các tác phẩm thơ mới trong chương trình
phân ban thí điểm trung học phổ thông
Hà nội 2007
Đỗ Thị Hạnh
1 K29H - Khoa Văn - ĐHSP 2
Khoá luận tốt nghiệp
Lời cảm ơn
Trong thời gian nghiên cứu hoàn thành khoá luận, em đã nhận được sự giúp
đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn- Trường ĐHSP Hà Nội 2. Em
xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô, đặc biệt là thầy giáo Thạc sĩ Vũ
Ngọc Doanh, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian qua.
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp của các
bạn sinh viên khoa Ngữ văn đã giúp tôi thực hiện khoá luận này.
Là một sinh viên lần đầu nghiên cứu khoa học, chắc chắn đề tài của em
không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong sự đóng góp ý kiến của các
thầy cô và các bạn .
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2007
Mục lục
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu3
4. Đối tượng nghiên cứu3
5. Phương pháp nghiên cứu3
6. Cấu tạo đề tài5
7. Tiếp nhận văn học6
8. Phương pháp sáng tác của nhà văn7
9. Cơ chế của hoạt động tiếp nhận8
10. Những khó khăn khi tiếp nhận9
11. Loại thể với vấn đề tiếp nhận văn học9
12. Loại thể10
13. Sự phân chia loại thể11
14. Tiếp nhận văn học theo đặc điểm loại thể11
15. Khái niệm đọc hiểu12
16. Mối quan hệ giữa đọc- hiểu13
17. Đọc hiểu là con đường đặc trưng khi tiếp nhận văn học14
18. Quan niệm về thể loại trữ tình14
19. Thơ- thơ trữ tình hiện đại14
20. Khái quát về Thơ mới14
21. Đặc trưng của thơ trữ tình15
22. Đặc trưng của Thơ mới29
23. Đọc thông, đọc thuộc
24. Đọc kỹ, đọc sâu
25. Đọc hiểu, đọc sáng tạo
26. Đọc đánh giá, đọc ứng dụng
27. ý nghĩa của việc đọc tác phẩm
28. Tình trạng dạy tác phẩm trữ tình trong nhà trường phổ thông
29. Cơ sở đọc hiểu các tác phẩm Thơ mới trong trường phổ thông
giả. Trong đó Thơ mới ( 1932-1945 ) được coi là thành tựu nổi bật, tạo nên “ một
thời đại trong thi ca” (Hoài Thanh). Với hơn 1001 sắc điệu thẩm mĩ khác nhau “
mỗi nhà Thơ là một ngôi sao băng, băng qua bầu trời để lại vệt sáng không lặp lại”,
Thơ mới đã làm nên một sức sống mới. Hơn 70 năm qua, Thơ mới đã trải qua nhiều
chặng đường, trải qua những bước thăng trầm để có một vị trí, một chỗ đứng trên
thi đàn văn học dân tộc.
Việc giảng dạy Thơ mới hiện nay trong nhà trường phổ thông vẫn còn nhiều
điều bất cập. Làm thế nào để học sinh có khả năng tiếp nhận tác phẩm trữ tình nói
chung, Thơ mới nói riêng có hiệu quả hơn, thấu đáo, sâu sắc hơn đã thực sự trở
thành câu hỏi lớn, đặt ra đối với tất cả các thầy cô giáo dạy văn. Đặc biệt lại giảng
dạy các tác phẩm giai đoạn này theo phương pháp đọc- hiểu. Trong khi nhu cầu học
tập của xã hội ngày càng được quan tâm, chú trọng để nâng cao tri thức, kỹ năng
cho mọi người, để sống, để làm việc tốt hơn.
Với mong muốn trình bày cách hiểu của mình và góp một tiếng nói nhỏ
trong việc tháo gỡ những băn khoăn khi giảng dạy các tác phẩm Thơ mới, đề tài đặt
Đỗ Thị Hạnh
5 K29H - Khoa Văn - ĐHSP 2
Khoá luận tốt nghiệp
ra vấn đề nghiên cứu: “ Đọc- hiểu các tác phẩm Thơ mới trong chương trình phân
ban thí điểm THPT”.
2. Lịch sử vấn đề.
Thể loại và loại trữ tình đã và đang là đối tượng nghiên cứu của đông đảo các
nhà văn, nhà thơ
*Vấn đề loại thể
Aristôt trong “ Nghệ thuật thi ca” đã định nghĩa ba phương thức mô phỏng
Hoàn, “ Đọc văn học văn” của Trần Đình Sử , “ Hiểu văn, dạy văn ” của Nguyễn
Thanh Hùng cùng một số bài báo, bài viết khác.
*Đọc hiểu tác phẩm trữ tình.
- Trong “ thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường”,
Nguyễn Thị Dư Khánh đã đưa ra cách tiếp cận và giảng dạy thơ trữ tình theo các
bước:
+ Thâm nhập thế giới tâm hồn của chủ thể.
+ Xác lập hệ thống hình thức biểu dạt nội dung.
- Trong “ Hiểu văn, dạy văn”, Nguyễn Thanh Hùng cũng chỉ ra khi tìm
hiểu tác phẩm trữ tinh cần lưu ý:
+ Nhà thơ - tác giả
+ Quan tâm đến bình diện ngôn ngữ nghệ thuật.
- Trần Thanh Đạm đề xuất cách giảng dạy thơ trong “ Vấn đề
giảngdạy tác phẩm văn học theo loại thể”
Có thể thấy rằng vấn đề tiếp nhận và giảng dạy tác phẩm trữ tình đã đươc đề
cập đến ở nhiều cuốn sách , nhiều bài viết nhưng chưa ai chỉ rõ giảng dạy theo
phương pháp đọc hiểu, đặc biệt là đọc hiểu các tác phẩm Thơ mới . Vì vậy đề tài
mạnh dạn đề xuất để tìm ra cách tiếp nhận Thơ mới theo đọc hiểu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài đặt ra 2 nhiệm vụ lớn đối với người nghiên cứu.
+ Nghiên cứu, khảo sát các tài liệu về tiếp nhận văn chương theo phương pháp
đọc hiểu.
+ Vận dụng đọc hiểu các tác phẩm Thơ mới (1932-1945).
4. Đối tượng nghiên cứu.
Với đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu.
- Lý thuyết chung về tiếp nhận văn chương, vấn đề loại thể, đặc trưng loại thể
trữ tình ( thời Thơ mới 32- 45); lý thuyết đọc – hiểu và vận dụng trong giảng
dạy ở nhà trường phổ thông.
- Tư liệu nghiên cứu
Vấn đề tiếp nhận văn học
Thể loại với vấn đề tiếp nhận văn học
Đọc – hiểu
+ Chương 2: Đọc hiểu các tác phẩm Thơ mới
Thơ trữ tình
Đặc trưng của thơ trữ tình giai đoạn 1932 – 1945
Đọc hiểu Thơ mới
+ Chương 3: Giáo án thực nghiệm
Tình trạng giảng dạy tác phẩm Thơ mới trong trường phổ thông
Cơ sở đọc hiểu Thơ mới
Thiết kế giáo án
- Phần kết luận.
Đỗ Thị Hạnh
8 K29H - Khoa Văn - ĐHSP 2
Khoá luận tốt nghiệp
Phần nội dung
Chương 1 : Cơ sở lý luận
1. Vấn đề tiếp nhận văn học.
1.1.Tiếp nhận văn học
Theo “từ điển tiếng Việt 2005” ( Hoàng Phê chủ biên ): “Tiếp nhận là đón
cái từ người khác, nơi khác chuyển giao đến”.
Còn tiếp nhận văn học được hiểu như sau.
Theo giáo trình Lý luận văn học ( Đại học sư phạm Hà Nội ) : Tiếp nhận
văn học là giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác, giao tế văn học. Thực chất quá trình
sáng tác là quá trình chuyển cảm xúc đến bạn đọc cộng hưởng cảm xúc đó.
tượng văn học”. Hình tượng văn học không chỉ xuất hiện với tư cách là “ phương
tiện giao tiếp” và còn là “chủ thể giao tiếp”.
Quá trình tiếp nhận văn học là qúa trình đi ngược lại hành trình sáng tác của
nhà văn mà như đã nói hình tượng tác phẩm là điểm gặp gỡ và tạo nên mối đồng
cảm thẩm mĩ giữa người sáng tác và người thưởng thức. Với tư cách là người tiếp
nhận, người đọc phải tham gia với tất cả tâm hồn, trí tuệ hứng thú và nhân cách, tri
thức và sáng tạo.
1.2 . Phương pháp sáng tác của nhà văn
Nhà văn với tư cách là người nghệ sĩ ngôn từ “họ chính là người sáng tác và
biểu diễn nghệ thuật, họ có năng khiếu nổi trội, và sự sáng tác biểu diễn của họ có
tính chất chuyên nghiệp. Nghệ sĩ ngôn từ là người chuyên sáng tác văn thơ, có tài
năng và có tác phẩm có giá trị được mọi người thừa nhận”
(Lý luận văn học)
Trong 4 thành tố tạo nên quá trình sáng tác và thưởng thức văn học ( thời đại –
nhà văn – tác phẩm – bạn đọc) thì nhà văn với tư cách là chủ thể sáng tạo giữ vai trò
quan trọng nhất.
Trong quá trình sáng tạo văn chương, mỗi nhà văn tự tìm cho mình một cách
làm riêng, mà nói như Tố Hữu:” Mỗi người có cách làm của mình, cách sáng tạo
của mình không ai bắt chước được”. Puskin – Nhà thơ Nga vĩ đại chỉ có thể tuôn
chảy dòng cảm xúc ngọt ngào khi sống giữa chốn thôn quê, thả hồn mình nơi miền
quê yên ả. Laphôngten thích được viết ngoài trời, giữa không gian bao la, những
cũng có cách viết như Gớt khoá trái cửa phòng, thoát ly vợ con để nhập tâm vào
trang giấy.
Quá trình sáng tác của nhà văn có thể khái quát hoá bằng sơ đồ sau: Hình
thành ý đồ – Thu thập tư liệu – Lập sơ đồ – Viết – Sửa chữa. Muốn vậy ngay từ đầu
nhà văn phải có sự quan sát. Hoạt động quan sát đó diễn ra trên 2 bình diện song
song: Quan sát đối tượng thẩm mĩ khách quan nảy sinh trong thời đại và quan sát
Đỗ Thị Hạnh
Hoạt động sáng tạo của nhà văn là một qúa trình, vì vậy để tiếp nhận tác phẩm
đòi hỏi cũng cần diễn ra theo quy trình nhất định. Đọc chính là sự khởi đầu cho quy
trình ấy. Văn bản tồn tại khách quan vì nó là sản phẩm do nhà văn sáng tạo, đó là
một tập hợp các ký hiệu ngôn ngữ, vì vậy người đọc chỉ có thể tiếp nhận tác phẩm
khi giải mã được các ký hiệu ngôn ngữ ấy. Hoạt động đọc không chỉ mở đầu cho sự
tiếp nhận mà đọc tìm hiểu tác phẩm, tìm ra ý nghĩa mới, con người mới.
b). Phân tích.
Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất, trọn vẹn về nội dung hoàn
chỉnh về hình thức. Phân tích tác phẩm nghĩa là chia nhỏ tác phẩm thành từng phần
Đỗ Thị Hạnh
11 K29H - Khoa Văn - ĐHSP 2
Khoá luận tốt nghiệp
rồi sau đó tổ hợp lại. Nhờ việc tháo gỡ mối tương quan tưởng như không thể tách
rời ấy sau khi phân cắt, tổng hợp sẽ giúp cho người đọc có cái nhìn sâu sắc, nhiều
chiều đối với tác phẩm.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý trong hoạt động phân tích này, không phải chỗ
nào cũng chia cắt nhỏ ra mà cần phải xác định được đâu là trọng tâm. Phải lựa chọn
ra những yếu tố bản sắc của tác phẩm, biết đi sâu vào cảm xúc mãnh liệt, trung thực
nhất trong thế giới nội tâm, vượt qua sự đầy đủ, quen thuộc sáo mòn, để kiếm tìm
sự súc tích của ngôn ngữ nghệ thuật.
c). Cắt nghĩa.
Đây được coi là hoạt động quan trọng trong cơ chế tiếp nhận tác phẩm văn
chương, bao hàm đánh giá cả tác phẩm hoặc các phần nhỏ của tác phẩm.
Cắt nghĩa theo gốc La tinh có nghĩa là giải thích có suy nghĩ. Cắt nghĩa
trong ngành khoa học phương pháp giảng dạy Văn học được đánh giá một cách có
tác phẩm .
- Khoảng cách tâm lý: phụ thuộc vào tâm lý của tác giả, tâm lý của người tiếp
nhận và tâm lý thời đại ( tác phẩm thuộc thời đại nào, nhà văn chịu sự chi phối của
thời đại đó, đồng thời còn phụ thuộc vào thời đại mà bạn đọc đang sống)
- Khoảng cách lịch sử : lịch sử được phản ánh trong tác phẩm, lịch sử phản ánh
với lịch sử ra đời của tác phẩm ; khoảng cách thời đại mà tác phẩm ra đời.
Những khó khăn đó tạo ra một khoảng cách lớn giữa bạn đọc –tác phẩm- tác
giả.Vậy làm thế nào để khắc phục được những khó khăn này? Có thể thấy rằng có
rất nhiều cách, rất nhiều biện pháp đều nhằm mục đích khắc phục những khó khăn
này, song có một con đường được coi là hữu ích nhất đó là đọc và tiếp nhận tác
phẩm trên cơ sở loại thể.
2. Loại thể với vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học.
2.1. Loại thể.
Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác
phẩm,trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định
tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể.
Thực chất của loại thể là hai khái niệm loại và thể
- Loại : phương thức mà nhà văn sử dụng để tạo ra hình tượng nghệ thuật
của tác phẩm
Quan niệm truyền thống chia văn học thành ba loại : tự sự, trữ tình, kịch.
-Thể : là phương thức tổ chức hình thức ngôn ngữ của tác phẩm.
Thể loại là yếu tố không thể thiếu đối với tác phẩm văn chương. Tác phẩm
văn học dù phong phú đa dạng đến đâu cũng thuộc vào một thể loại nào đó và chịu
sự quy định bởi đặc trưng chung của thể loại ấy.
2.2. Sự phân chia thể loại.
Đỗ Thị Hạnh
13 K29H - Khoa Văn - ĐHSP 2
đường của việc tiếp nhận tác phẩm .
Hơn nữa thể loại mang tính quy luật ổn định nhưng có mối quan hệ với tất cả
các phương diện khác của văn học: quan hệ chặt chẽ với lịch sử văn học, quan hệ
Đỗ Thị Hạnh
14 K29H - Khoa Văn - ĐHSP 2
Khoá luận tốt nghiệp
chặt chẽ với dân tộc, quan hệ với phong cách thời đại cá nhân nghệ sĩ, có quan hệ
với cả phương pháp sáng tác .
Với tất cả lý do trên, loại thể được quan tâm và được coi là cách tiếp cận tác
phẩm văn chương hiệu quả . Một vấn đề đặt ra đọc theo loại thể là đọc như thế
nào? Nội dung này được triển khai làm rõ trong các phần tiếp theo.
3.Đọc – hiểu .
3.1.Khái niệm đọc hiểu.
Đọc hiểu xuất hiện từ thời loài người sáng tạo ra chữ viết để ghi lại các hiện
tượng tự nhiên, xã hội, những tư tưởng, tình cảm.
Theo “từ điển tiếng Việt 2005’’ (Hoàng Phê chủ biên), đọc có mấy nghĩa sau
đây:
+ Phát thành lời những điều đã được viết ra theo đúng trình tự .
+ Tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí hiệu bằng cách nhìn vào tập
hợp kí hiệu đó .
+ Hiểu thấu bằng cách nhìn vào những biểu hiện bề ngoài .
Có thể hiểu một cách khái quát đọc là một hoạt động (người). Đó là một hoạt
động mang tính văn hoá, phản ánh đời sống văn minh của loài người .
Đọc là một hoạt động để con người lĩnh hội tri thức, để làm giàu vốn sống, hoàn
thiện nhân cách của mình .
3.3. Đọc – hiểu là con đường đặc trưng trong tiếp nhận văn học.
Văn học là một loại sách giáo khoa về đời sống , tiếp nhận tri thức văn học do
đó cũng là tiếp nhận loại tri thức đem lại cho con người hiểu biết đời sống sâu rộng
hơn, khả năng cảm nhận đời sống tinh nhạy hơn. Là một trong bảy hình thái nghệ
thuật, văn học phản ánh cuộc sống con người và biểu đạt điều đó bằng hình tượng
Nhưng hình tượng văn học không hoàn toàn giống như hình tượng âm nhạc, hội hoạ
hay điêu khắc. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng một
chất liệu riêng. Hội hoạ dùng màu sắc, đường nét. Âm nhạc dùng âm thanh, giai
điệu. Điêu khắc dùng hình khối. Riêng văn học lấy một chất liệu đặc biệt, đó là
ngôn từ.
Vì vậy muốn có được tri thức văn học thì con người không thể không tiếp xúc
trực tiếp với tác phẩm, muốn thế phải đọc tác phẩm, đó là con đường quan trọng
không thể thiếu. Việc đọc văn tiêu biểu đến mức người đến với văn học được gọi là
độc giả. Một lần nữa cần khẳng định đọc văn, tri giác văn bản là con đường đầu
tiên, con đường không thể thay thế trong khám phá tác phẩm .
Đọc văn chính là hoạt động giao tiếp giữa người học với tác giả thông qua văn
bản, làm cho khoảng cách giữa người đọc với tác phẩm được rút ngắn. Đọc tác
phẩm là biến chữ viết thành lời nói sinh động, biến dòng chữ vô hình thành dòng
chữ hữu hình, từ đó giúp học sinh đi sâu vào thế giới hình tượng, thế giới cảm xúc
làm chúng hiện lên trong suy nghĩ của người học .
Đỗ Thị Hạnh
16 K29H - Khoa Văn - ĐHSP 2
Khoá luận tốt nghiệp
Đọc văn là một hoạt động phân tích tổng hợp phức tạp, thông qua hoạt động đó
nội dung, ý nghĩa chứa đựng trong từ và câu được thể hiện trong hình tượng ngôn
Theo “từ điển Hán Việt’’: Trữ tình là bày tỏ tình cảm. Tác phẩm trữ tình là tác
phẩm bày tỏ tình cảm .
Nội dung phương thức trữ tình trong văn học nói chung đòi hỏi một hình thức
thể hiện phù hợp tương ứng. Lời văn của tác phẩm trữ tình có thể được viết bằng
thơ hoặc văn xuôi, nhưng thơ vẫn là tổ chức ngôn từ hợp lý nhất . Thơ cũng là loại
hình nghệ thuật ra đời sớm nhất, tồn tại bền vững và là thể loại tiêu biểu cho văn
chương nghê thuật nói chung. Vậy thơ là gì?
1.2.Thơ- thơ trữ tình hiện đại .
a)Thơ.
Nói như Trần Thanh Đạm , có những hiện tượng rất quen thuộc, người ta nhắc
nhở nghe nói hàng ngày, nhưng khi phải tìm cho nó một định nghĩa chính xác thì lại
rơi vào lúng túng . Trong văn học thì thơ là một hiện tượng như vậy .
Đã có rất nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về thơ:
- Trong mối quan hệ với hiện thực khách quan có những quan niệm như:
Đỗ Thị Hạnh
18 K29H - Khoa Văn - ĐHSP 2
Khoá luận tốt nghiệp
+ “Thơ là biểu hiện con người và thời đại một cách cao đẹp . Đó là những
viên kim cương lấp lánh dưới ánh mặt trời’’.(Sóng Hồng )
+ “ Cái đẹp là cuốc sống. Thơ là cái đẹp”(Tsecnưsepxki)
+ Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện cổ tích do chính cuộc
đời viết ra”(Anđecxen)
- Nhấn mạnh yếu tố cảm xúc trong thơ:
+ “ Thơ là điệu hồn đi tìm hồn đồng điệu”(Tố Hữu)
+ “Thơ là hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng
Khoá luận tốt nghiệp
b) Thơ trữ tình hiện đại .
- Thơ trữ tình .
Tiếng Hi Lap là liricos- hát dưới đàn . Như vậy sinh mệnh của thơ trữ tình là
âm điệu. Nó ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt – sự giao cảm linh diệu giữa con người
và tự nhiên, xã hội vào giây phút có sự thăng hoa của tình cảm .
Thơ trữ tình xuất hiện vào lúc tâm linh cao sáng, cái chủ quan biểu hiện thật
nhất để vươn tới xung quanh .
- Khái niệm hiện đại: Thuật ngữ hiện đại xét trong phạm vi văn học Việt Nam
chính là quá trình hiện đại hoá của văn học kéo dài từ 1932 đến nay và trải qua
nhiều giai đoạn khác nhau .
Thơ trữ tình hiện đại đăt trong mối quan hệ với lịch sử văn học. Qua mỗi thời
kì lịch sử thể loại trữ tình có sự thay đổi. Trong văn học Việt Nam thơ trữ tình hiện
đại được tính bắt đầu từ Thơ mới, thơ kháng chiến, thơ sau 1975. Đề tài nghiên cứu
phần Thơ mới (1932- 1945)
1.3. Khái quát về Thơ mới.
ảnh hưởng của văn hoá phương Tây, sự ra đời của các đô thị cùng với sự hiện
diện đầy đủ của cái tôi cá nhân đã tạo tiền đề cho sự ra đời của phong trào Thơ mới
. Sự ra đời đó cũng nằm trong quy luật tất yếu sự vận động nội tại của nền văn học
Thuật ngữ Thơ mới được hiểu là danh từ riêng chỉ một phong trào thơ ca phát triển
mạnh mẽ 1932- 1945. Người mở đầu cho phong trào Thơ mới là Phan Khôi, Thế Lữ
Trong đó Phan Khôi với bài thơ “tình già” được đánh giá là “ một tiếng chuông
cảnh tỉnh làng thơ giữa lúc đang triền miên trong cõi chết”(Lưu Trọng Lư)
Ban đầu thuật ngữ Thơ mới đựơc dùng để chỉ một loại thơ để phân biệt với
thơ cũ( cần phải hiểu thơ cũ ở đây không bao hàm thơ ca cổ điển, mà đó là thứ thơ ý
tứ sáo rỗng, không có gì mới mẻ được sáng tác vào khoảng năm 1932), về thực chất
nó là thứ thơ cặn bã của một lối thơ đã đến lúc tàn . Sau này Thơ mới gắn với quan
niệm là sự đổi mới thơ ca về cả nội dung và hình thức. Yếu tố cốt lõi chính là ở nội
và đánh giá, đồng thời là sự đánh giá ý thức và thái độ của nhà văn. Nói như vậy để
thấy rằng nội dung của tác phẩm văn học là một thể thống nhất giữa các khách
quan và cái chủ quan. Nó vừa phản ánh vừa tái hiện đời sống khách quan, vừa bộc
lộ cảm xúc, lý tưởng nhiệt hứng, lý tưởng của tác giả trước các hiện tượng đời
sống.
Tuy nhiên ở mỗi loại văn khác nhau, nội dung được biểu hiện khác nhau. Nếu
như trong tác phẩm truyện nội dung phong phú đa dạng, khám phá cả cái bên trong
và cái bên ngoài tạo nên một hiện thực cuộc sống phong phú; Trong kịch đó là sự
miêu tả xung đột, tập trung miêu tả ở dòng xoáy của nó, thì trong thơ đó là dòng
cảm xúc bên trong của nhân vật trữ tình. Trong thơ không thuật lại, tái hiện lại đời
sống khách quan mà nội dung ấy được thể hiện thông qua nhân vật, để nhân vật
trực tiếp bày tỏ tình cảm.
Đỗ Thị Hạnh
21 K29H - Khoa Văn - ĐHSP 2
Khoá luận tốt nghiệp
ở mỗi giai đoạn khác nhau, nội dung trữ tình có những đặc điểm khác nhau.
Nếu thơ trung đại, tập trung miêu tả cái nhìn quy phạm, với tư tưởng “ văn dĩ tải
đạo”, “thi dĩ ngôn chí”, là khát vọng của những con người mang tầm vóc lịch sử,
đó là khát vọng kinh bang tế thế, phò vua giúp nước. Nói cách khác cái tôi ở đây
không có đất sống, nó đã chan hoà vào cái ta, cái chung cộng đồng. Đến thơ hiện
đại, tất cả những quy phạm gò bó ấy không còn. Các nhà thơ đã đi sâu vào từng
ngõ ngách tâm tư tình cảm của con người và tự bộc bạch thành thực. Đây là thời
đại của cái tôi vươn mình bứt phá, tự khẳng định.
b). Đặc điểm ngôn ngữ thơ trữ tình.
* Ngôn ngữ thơ bão hoà cảm xúc.
* Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh.
Thế giới hình ảnh được thể hiện trong thơ hết sức đa dạng, phong phú. Tất cả
những hình ảnh từ gần gũi quen thuộc đến những hình ảnh độc đáo đã tạo nên sự
thú vị, hấp dẫn cho thơ.
c). Đặc điểm nhân vật trữ tình.
Nhân vật trữ tình là hình tượng người trực tiếp thổ lộ những suy nghĩ, những
cảm xúc, những tâm trạng trong tác phẩm.
Cần phân biệt nhân vật trữ tình và đối tượng tâm tình, đối tượng tâm tình
xuất hiện gián tiếp chi phối tâm trạng cảm xúc của nhân vật trữ tình. Trong tác
phẩm thường chỉ có một nhân vật trữ tình. Đó là nhân vật giàu cảm xúc, xuất hiện
trong tác phẩm có nhu cầu tâm sự, giãi bày.
Nhân vật trữ tình không hành động, mọi tác động của đời sống chỉ khiến
nhân vật vui buồn mà không khiến nhân vật đó hành động.
Nhân vật trữ tình không xuất hiện khi cuộc sống sôi động với tất cả sự gay
cấn của nó mà xuất hiện khi cuộc sống đã lắng xuống.
Nhân vật trữ tình mang cảm xúc của một lớp người, ít nhiều gắn bó với cuộc
đời thực của tác giả.
2.1.Đăc trưng của Thơ mới.
Thơ mới mang đầy đủ những đặc trưng của loại hình trữ tình nói chung.
Nhưng bên cạnh đó có những đặc điểm riêng làm nên giá trị độc đáo, diện mạo
văn học một thời.
a). Về nội dung.
* Thoát khỏi quan niệm “ Thi dĩ ngôn chí”, “ văn dĩ tải đạo”, Thơ mới nhằm
trình bày cảm nhận của cái tôi cá nhân về cuộc sống.
Văn học trung đại nói tới đạo, chí, sùng cổ, tôn trọng, hướng tới quá khứ. Cái
đẹp ứng với quá khứ, ứng với bậc tiền nhân, liệt tổ, liệt tông. Thơ mới có quan
niệm khác và cho rằng thơ ca nhằm trình bày cảm nhận của con người về thế giới
xung quanh, về cuộc đời. Họ coi chức năng của văn học gần gũi với con người hơn
và dùng thơ ca để trình bày những quan niệm của mình về cuộc sống. Họ đề cao
cái tôi trữ tình cá nhân, thơ ca phải là tiếng lòng của mỗi cá thể. Cái đẹp của thơ ca
Đến thời hiện đại, tách thiên địa khỏi nhân, do đó con người thấy mình như
một thế giới độc lập để quan sát, nhìn ngắm thế giới xung quanh, cái tôi cá nhân
được tách khỏi thế giới, nhìn bằng con mắt riêng của mình. Cái tôi chủ thể tự xác
nhận mình có tư cách để quan sát, đánh giá thế giới, đồng thời cũng vừa tự quan
sát, soi ngắm chính mình. Do đó cái tôi Thơ mới có cảm giác cô đơn phải tự giễu
cợt mình, tự than cho thân phận mình , tự định nghĩa mình là ai. Toàn bộ Thơ mới
là câu trả lời “ta là ai ?”, “tôi là ai?”
+ Tôi chỉ là một khách tình si.
+ Tôi chỉ là một kiếp đi hoang .
Đỗ Thị Hạnh
24 K29H - Khoa Văn - ĐHSP 2
Khoá luận tốt nghiệp
+ Tôi chỉ là một cô hồn.
Thơ mới quan niệm cái đẹp gắn với cái buồn. Có thể nói Thơ mới đã giãi bày
mọi bí mật của cõi lòng riêng tư, từ nỗi buồn, sự trống trải cô đơn, những khao khát
phi chuẩn mực, những phút giây yếu đuối, sự thất vọng chán chường, cả những
ghen tuông và những thèm khát trần gian.
Các nhà thơ cổ chủ yếu vịnh cảnh, vịnh sử, tỏ chí, tỏ lòng mà ít nhìn trở lại thế
giới tâm linh, thế giới cảm giác của chính mình. Song chính thế giới thầm kín này
lại có tầm phổ biến khác là tính nhân loại hay tính người như Hoài Thanh nói: “Các
nhà Thơ mới lấy hồn mình để hiểu hồn người - đi vào hồn một người ta sẽ thấy hồn
nòi giống, đi sâu vào hồn nòi giống ta sẽ gặp hồn chung của loài người”. Cũng cần
khẳng định rằng Thơ mới có một ý thức mới về chủ thể sáng tạo, họ quan niệm “
Tôi là tôi, tôi khác người khác”. Cái tôi ấy đòi hỏi một biên độ mới của tự do.
Lòng rộng qua chẳng chịu khung nào hết