SKKN: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số phương pháp dạy học tích cực trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 trung học phổ thông - Pdf 14



SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH QUA MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10
THPT I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xu thế hội nhập và phát triển, thế kỉ XXI đòi hỏi con người phải
luôn năng động, sáng tạo; có khả năng tìm kiếm, xử lí thông tin và ứng phó với
các tình huống trong đời sống. Nhằm đáp ứng yêu cầu này, mục tiêu giáo dục
phổ thông của nước ta đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho học sinh
(HS) sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực
hành động, năng lực thực tiễn. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy
cũng là tất yếu nhằm phát huy tính tích cực của học sinh. Với bản chất là hình
thành và phát triển cho HS khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù
hợp với những tình huống, phương pháp giáo dục kĩ năng sống (KNS) rõ ràng
là một trong những phương pháp ưu thế đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay.
Hơn nữa, rèn luyện KNS cho HS còn được xác định là một trong những nội
dung cơ bản của Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích
cực” trong các trường phổ thông, giai đoạn 2008-2013 do Bộ Giáo dục và Đào

dạy - là một trong những yếu tố góp phần không nhỏ vào hiệu quả của tiết học,
đặc biệt là trong việc vận dụng và phát huy tối đa công năng của các phương
pháp dạy học tích cực trong việc giáo dục KNS cho HS.
Trước thực tế đó, tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu về phía HS. Cụ thể, tôi
đã phát câu hỏi cho học sinh ở ba lớp 10 mà tôi phụ trách giảng dạy, để cho
các em phát biểu những cảm nhận của mình về những tác dụng của bài học
trong việc rèn luyện KNS. Kết quả cụ thể như sau:
STT

NỘI DUNG CÂU HỎI KẾT QUẢ
1
Theo em, học Văn có giúp em nâng
cao khả năng nhận thức không?
- Có 83/132
- Có nhưng
không thực tế.
49
2
Theo em, học Văn có giúp em điều
chỉnh hành vi không?
Có 67
Không 4
Không biết
(Không trả lời)
41
3 Theo em, học Văn có ý nghĩa không? Có 132/132

4 Theo em, học Văn có cần thiết không?
Cần 73
Không c

những phương pháp giảng dạy tích cực giáo viên sẽ giúp HS nâng cao KNS
của mình một cách nhẹ nhàng nhưng hết sức sâu sắc.

Từ thực tế dạy học qua nhiều năm và việc rút kinh nghiệm của bản thân
trong quá trình giảng dạy, cũng là để trao đổi với các đồng nghiệp giảng dạy
Ngữ Văn về hướng áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để giáo dục
KNS cho HS lớp 10, khối lớp đầu cấp THPT, tôi mạnh dạn trình bày đề tài
“Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số phương pháp dạy học tích cực
trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 trung học phổ thông” mà bản thân tôi nhận
thấy có hiệu quả trong quá trình thực hiện.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Cơ sở lí luận
1.1. Quan niệm về kĩ năng sống
Theo WHO (1993) “Năng lực tâm lí xã hội là khả năng ứng phó một
cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó cũng là
khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh
thần, biểu hiện qua hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác,
với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lí xã hội có vai trò
quan trọng trong việc phát huy sức khoẻ theo nghĩa rộng nhất về mặt thể chất,
tinh thần và xã hội. KNS là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lí xã hội
này”.
Theo UNICEF, giáo dục dựa trên KNS cơ bản là sự thay đổi trong hành
vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ
và hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì)
và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào)
thành hành động (làm gì và làm như thế nào).
Như vậy, KNS chính là năng lực của mỗi người giúp giải quyết những
nhu cầu và thách thức của cuộc sống một cách có hiệu quả. Việc đưa giáo dục
KNS vào nhà trường cho thấy mục tiêu của giáo dục trong thời kì mới chú
trọng tính hữu dụng, thiết thực của chương trình nhà trường, đồng thời tăng

trình bày một số vận dụng mà bản thân nhận thấy có hiệu quả tích cực trong
giáo dục KNS cho HS ở ba phương pháp: dạy học nhóm, dạy học theo dự án và
phương pháp trò chơi.

1.2.1. Phương pháp dạy học nhóm
Dạy học theo nhóm là một hoạt động học tập có sự phân chia học sinh
theo từng nhóm nhỏ với đủ thành phần khác nhau về trình độ, cùng trao đổi ý
tưởng, một nguồn kiến thức dựa trên cơ sở hoạt động tích cực của từng cá
nhân. Từng thành viên của nhóm không chỉ có trách nhiệm với việc học tập của
mình mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việc học tập của các thành viên
trong nhóm.
Hoạt động nhóm hợp lí, tích cực sẽ giúp HS rèn luyện các kĩ năng: đảm
nhận trách nhiệm, hợp tác, chia sẻ, thương lượng, giải quyết mâu thuẫn, giải
quyết vấn đề,
1.2.2. Phương pháp dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án (DHDA) có nguồn gốc từ châu Âu (thế kỉ 16, ở Ý và
Pháp). Đầu thế kỉ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lí luận cho
DHDA (Richard, J.Dewey,.v.v.), và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện
quan điểm dạy học định hướng vào người học, nhằm khắc phục nhược điểm
của dạy học truyền thống coi GV là trung tâm.
DHDA là phương pháp trong đó cá nhân hay nhóm người học thiết lập
một dự án có nội dung gắn kết với nội dung học tập. Dựa vào tri thức, kinh
nghiệm và kĩ năng vốn có, trên cơ sở phân tích thực tiễn thuộc phạm vi học
tập, cùng với tài liệu, phương tiện, người học đề xuất ý tưởng, thiết kế dự án,
soạn thảo và hoàn chỉnh dự án.
Trong DHDA, người học tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của
quá trình dạy học, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện
dự án. Vì thế DHDA là một PPDH tích cực, hữu hiệu phát huy được năng lực
của HS, đồng thời rất ưu việt trong giáo dục KNS cho các em. Thực hiện
DHDA, HS làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề có thực mang tính

được một cách trực tiếp kết quả hành động của mình, từ đó thúc đẩy tính tích
cực, mở rộng, củng cố và phát triển vốn hiểu biết của người học.

Phương pháp trò chơi được sử dụng trong học tập để hình thành kiến thức,
kĩ năng mới hoặc củng cố kiến thức, kĩ năng đã học. Trong thực tế dạy học,
GV thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kĩ năng. Tuy nhiên
việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kĩ năng
mới là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học
mới. Việc tạo ra các trò chơi mà học không chỉ giúp HS khắc sâu tri thức, nâng
cao nhận thức mà còn tăng cường các KNS cho HS như: biết ứng xử linh hoạt,
quan hệ tích cực và hợp tác,
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.1. Phương pháp dạy học nhóm
PPDH nhóm rất đa dạng từ cách chọn chủ đề cần thảo luận cho đến cách
phân chia nhóm, cho nên GV có thể vận dụng linh hoạt tùy theo từng mục tiêu
và đặc trưng của bài học.
Trong PPDH nhóm, có rất nhiều cách phân chia nhóm khác nhau. Nếu
hoạt động nhóm diễn ra trên lớp học thì nên tạo các nhóm nhỏ, tối đa 10 HS
một nhóm, để HS có điều kiện thảo luận với nhau. Các nhóm này cũng không
nên trùng lặp trong suốt quá trình dạy của GV. Việc phân chia nhóm linh hoạt
sẽ giúp HS hứng thú hơn, đồng thời tạo cơ hội cho các HS được học hỏi, giao
lưu với các bạn trong lớp. Ví dụ như GV có thể chia nhóm theo cách gộp hai
bàn kế nhau làm một nhóm, với mô hình lớp học phổ biến trong trường phổ
thông ở Việt Nam hiện nay thì cách chia này hiệu quả vì HS dễ dàng xoay
chuyển để thảo luận cùng nhau; hoặc trong trường hợp vấn đề cần thảo luận
không quá khó ta có thể chia nhóm theo đơn vị một bàn là một nhóm; ngoài ra
cũng có thể chia nhóm theo ngày sinh, theo sở thích, theo đặc điểm, hoặc cho
HS bốc thăm tạo nhóm theo các chủ đề như: trái cây, các loại hoa, cây cối, tên
địa danh thắng cảnh,
Việc lựa chủ đề thảo luận cũng là một nhân tố quyết định đến việc phân

bày bằng PowerPoint, sưu tầm các dẫn chứng và hình ảnh minh họa.
Khi yêu cầu khác nhau thì việc tổ chức dạy học dĩ nhiên cũng không thể
giống nhau. Nếu mỗi nhóm đảm nhận một yêu cầu khác nhau thì khi một nhóm
lên trình bày, nhiệm vụ của các nhóm khác là theo dõi, đặt câu hỏi để làm sáng

tỏ vấn đề và ghi nhận những nội dung thống nhất. Còn nếu các nhóm cùng thảo
luận một vấn đề, GV lại phải theo dõi và xem xét sản phẩm của các nhóm trước
khi lên lớp. Nếu tất cả các nhóm đều làm tốt thì GV cho tiến hành bốc thăm
trình bày. Khi nhóm thứ nhất lên trình bày thì nhiệm vụ của các nhóm còn lại
là phải theo dõi, đặt câu hỏi cho nhóm được trình bày nếu thấy vấn đề được
trình bày chưa rõ và có thể dùng bài soạn của nhóm mình để trình bày minh
họa bổ sung cho những luận điểm mà nhóm đã được trình bày còn thiếu. Nếu
kết quả công việc của các nhóm có độ chênh lớn thì GV có thể chọn nhóm nổi
trội hơn trình bày. Nếu thời gian cho phép, GV cũng có thể cho các nhóm lần
lượt trình bày để HS có sự đối chiếu cụ thể. Tuy nhiên, nếu muốn giờ dạy có
hiệu quả hơn thì GV nên theo dõi quá trình hoàn thiện sản phẩm của HS để có
những gợi ý cho HS điều chỉnh phù hợp. Dĩ nhiên là để phát huy năng lực sáng
tạo của HS, GV chỉ gợi ý, khuyến khích, động viên chứ không nên gò ép HS
theo ý của mình.
Điều quan trọng là sau khi HS trình bày, thảo luận bao giờ GV cũng phải
có phần nhận xét, chốt ý và có những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt để giúp HS hiểu
rõ hơn những nội dung chưa được thể hiện, hoặc thể hiện chưa sâu.
PPDH nhóm không phải là phương pháp hoàn toàn mới, ngay từ khi Bộ
Giáo Dục chủ trương: dạy học tích cực, lấy HS làm trung tâm, PP này đã được
sử dụng rộng rãi bởi đây là một PP ưu việt trong việc thúc đẩy HS tự chiếm
lĩnh kiến thức. Tuy nhiên có nhiều giờ học, GV chỉ sử dụng PPDH nhóm chiếu
lệ, không phát huy được hết tác dụng của PP này. Nghĩa là GV vẫn tổ chức
hoạt động nhóm nhưng thực sự các thành viên trong nhóm có hợp tác với nhau
không thì GV không kiểm soát. Hoặc có nhiều GV lại quá lạm dụng, mỗi hoạt
động đều tổ chức thảo luận nhóm khiến HS rất áp lực, giờ học cũng trở nên

ghi vào giữa. Với cách này mỗi HS đều được thể hiện chính kiến của mình,
đồng thời vẫn phải hợp tác, tranh luận để đi đến thống nhất lựa chọn ý kiến
chung.
2.2. Phương pháp dạy học theo dự án

PPDH theo dự án là một trong những PP ưu việt trong việc phát huy năng
lực tư duy sáng tạo của chủ thể - trò, đồng thời lồng ghép được KNS hợp lí, tự
nhiên. Đây là phương pháp dạy học kết hợp có hiệu quả việc sử dụng máy tính
với các chương trình dạy học hiện có, giúp các GV phát huy khả năng sáng tạo
của mình và phát triển trí tưởng tượng của HS ra ngoài phạm vi học đường,
học tập kết hợp với thực hành.
Để thực hiện PPDH này, trước hết GV phải chuẩn bị một kế hoạch bài
dạy cụ thể, chi tiết. Hồ sơ và các bước thực hiện bao gồm:
 Bước 1:
- Kế hoạch bài dạy với các mục tiêu học tập của học sinh đáp ứng yêu cầu
về kiến thức, kĩ năng của chương trình do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo quy
định.
- Thu thập tư liệu, thiết kế bài trình bày đa phương tiện của GV.
- Thiết lập các tiêu chí đánh giá cho bài trình bày đa phương tiện của học
sinh.
- Bài trình bày, bài báo, tờ giới thiệu, hoặc trang web,… của GV hỗ trợ
cho bài dạy.
 Bước 2:
- Hướng dẫn HS cách thiết kế các bài trình bày đa phương tiện:
PowerPoint, cách sử dụng phần mềm làm phim: Windows Movie Maker
hoặc Corel Video Studio,
- Gợi ý cho HS hình thành ý tưởng, chọn vai.
 Bước 3:
- Theo dõi quá trình thực hiện dự án của HS.
- Gợi ý cho HS điều chỉnh để có sản phẩm tốt hơn.

năng thể hiện những bài học đa dạng. Ngoài ra, với PPDH theo dự án này HS
còn có thể tạo ra các ấn phẩm bên cạnh những bài trình chiếu.
2.3. Phương pháp trò chơi
PP trò chơi thường được tổ chức đầu tiết dạy để tạo tâm thế hứng thú cho
HS đi vào tìm hiểu bài học hoặc để kiểm tra những kiến thức đã học qua, hoặc
sử dụng ở cuối giờ để củng cố nội dung bài học. Nhưng GV cũng có thể thực

hiện PP trò chơi này ở giữa tiết học để nối kết các hoạt động của bài học; tạo sự
chuyển ngoặt sôi nổi, hợp lí. Đặc biệt là GV có thể tổ chức các trò chơi trong
các bài ôn tập nhằm củng cố, khắc sâu và hệ thống các kiến thức đã học theo
những đơn vị nhất định.
Việc tổ chức hình thức chơi rất đa dạng, cũng là câu hỏi trắc nghiệm
nhưng GV có thể cho HS thi đua dưới hình thức Ai nhanh hơn, Ai tài thế,
hoặc cũng có thể mô phỏng các trò chơi do đài truyền hình tổ chức như: Rung
chuông vàng, Chung sức, Đấu trường 100, Đuổi hình bắt chữ, Ví dụ như sau
bài học GV cho 5 câu hỏi củng cố. Nếu GV muốn tính điểm cho cả lớp và tất
cả các HS đều tham gia thì tổ chức theo hình thức là mỗi câu hỏi tất cả các HS
đều trả lời cho đến kết quả cuối cùng. Nhưng nếu GV chỉ tính điểm cho những
HS nào trả lời đến đích cuối cùng thì có thể cho loại dần bằng cách chỉ cho
phép những HS nào có câu trả lời đúng mới được trả lời câu hỏi kế tiếp, còn
HS trả lời sai sẽ phải dừng lại. Nếu GV muốn phân loại HS thì có thể chỉ cho 3
đến 4 câu hỏi trắc nghiệm, còn lại là câu hỏi suy luận có độ khó cao để phân
định điểm số của HS.
Luật chơi phụ thuộc nội dung và mục đích. Bởi cùng một nội dung nhưng
có thể chơi với nhiều cách khác nhau như ghép đáp án đúng, ghép tranh đoán
nội dung, đi tìm kho báu bằng cách qua mỗi chặng thử thách là một câu hỏi,
giải ô chữ,
Người tổ chức chơi thông thường là GV, nhưng trong một số trường hợp
GV có thể gợi ý, khuyến khích các em xây dựng trò chơi. Ví dụ đối với các bài
học có ứng dụng PPDH nhóm hoặc DH dự án, tôi khuyến khích các em xây

bằng PP trò chơi, GV phải nghĩ ra các hình thức chế tài nhất định để HS chơi
trong luật, có ổn định trật tự bởi với mô hình lớp học trong trường phổ thông
của chúng ta hiện nay rất khó cho GV khi tổ chức PP này mà không ảnh hưởng
đến các lớp học xung quanh. Đây cũng là điều mà người viết gặp khó khăn
nhất khi tổ chức dạy học bằng PP trò chơi, bởi khi đã chơi là có thắng - thua vì
vậy HS dễ phấn khích và ồn ào hơn các giờ học thông thường, ngoài ra cũng
không ngoại trừ trường hợp HS cố tình gây rối. Dù có những khó khăn nhất
định, nhưng đây vẫn là một trong những PP rất hiệu quả trong việc tạo hứng
thú cho HS trong giờ học môn Văn và rèn luyện KNS hữu hiệu cho các em.
2.4. Thiết kế tiết dạy minh họa: Tiết 99 - Làm văn
VIẾT QUẢNG CÁO

Mục tiêu
bài dạy:
 Kiến thức
 Kĩ năng - Khái niệm văn bản quảng cáo, vai trò của quảng cáo
trong đời sống.
- Yêu cầu và cách viết quảng cáo cho một sản phẩm hoặc

giảng dạy
1.

Phần chuẩn bị của Giáo viên: Thu thập các loại tư liệu về
quảng cáo; chụp hình các panô, áp phích, tờ rơi; cắt một số
quảng cáo tĩnh và động trên web, hướng dẫn HS cách làm
bài, chia nhóm, giúp HS hình thành ý tưởng; duyệt bài, góp
ý cho HS cách thực hiện, trình bày.
2. Phần chuẩn bị của Học sinh: Tất cả học sinh đều soạn bài

vào vở theo cách chia trang vở làm hai: nội dung chính ghi
bên phải tập, phần bên trái để trống dùng để bổ sung nội
dung khi lên lớp; cả 3 nhóm đều phải họp nhóm, thiết lập ý
tưởng, sưu tập thông tin và thiết kế bài; nhiệm vụ các thành
viên và công việc mà mỗi thành viên đã làm được phải
được ghi lại một cách chi tiết.
Kế hoạch giảng
dạy

1. Dẫn nhập
- Kiểm tra bài cũ
- Giới thiệu bài mới: Thời đại công nghiệp, quảng cáo mọi
nơi mọi lúc. Vậy quảng cáo là gì? Làm thế nào để quảng
cáo hiệu quả?
2. Bài mới
Hoạt động của GV & HS Nội dung cần đạt


 Cho HS xem quảng
cáo ví dụ, GV gợi ý để
I. Vai trò và yêu cầu chung
của văn bản quảng cáo:
1. Văn bản quảng cáo trong
đời sống: - Hình thức quảng cáo: áp
phích, pa-nô, báo, tờ rơi, đài
phát thanh, truyền hình.  Khái niệm:
- Thông tin về sản phẩm, dịch
vụ.
- Thuyết phục khách hàng tin
vào chất lượng, lợi ích, sự
tiện lợi của sản phẩm.
- Tăng thêm lòng ham thích
mua hàng và sử dụng dịch
vụ của họ.

2. Yêu cầu chung của văn bản
quảng cáo: HS rút ra nhận xét.
 Lưu ý học sinh về vai
trò của quảng cáo

nội dung học sinh chưa
giải quyết được. Định
hướng cho HS đi sâu vào
bài học và mở rộng nội
dung có liên quan.

II. Cách viết văn bản quảng
cáo
1. Xác định nội dung cơ bản
cho lời quảng cáo

2. Chọn hình thức quảng cáo
- Trình bày theo kiểu qui nạp,
so sánh và sử dụng từ ngữ
khẳng định tuyệt đối để
thuyết phục.
- Kết hợp với tranh ảnh, hình
thức trình bày.
3. Củng cố
- Tổng kết bài bằng cách cho học sinh sơ đồ hoá bài học.
GV đối chiếu bằng sơ đồ đã chuẩn bị (Mindmap).
- Giáo viên cho HS làm bài tập củng cố nhằm kiểm tra
mức độ hiểu bài của HS và khắc sâu kiến thức chính cũng
như mở rộng thêm nội dung bài học cho HS (Câu hỏi trắc
nghiệm – thiết kế trò chơi: Rung chuông vàng ).
Vòng 1:
 Câu 1: Văn bản quảng cáo càng nêu đầy đủ đặc điểm,
ý nghĩa, tác dụng của sản phẩm càng gây được ấn
tượng mạnh đối với khách hàng.
a.

-

Học sinh không chỉ biết cách viết quảng cáo mà còn biết
đánh giá nhận xét về một quảng cáo.
- Rèn luyện tư duy đánh giá, phân tích.
- KNS: hợp tác, chia sẻ, sáng tạo, thuyết trình,…
III. HIỆU QUẢ
Qua thực tiễn dạy học của bản thân những năm gần đây và từ thực tế dạy
học các lớp 10 ban Cơ bản tại trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh, tôi nhận thấy
các phương pháp này có những ưu điểm sau đây:
- Kiến thức đúng trọng tâm, tích hợp liên môn, lồng ghép nội dung giáo dục
KNS nhẹ nhàng nhưng hiệu quả.
- Phát huy được khả năng nhiều mặt của học sinh, kích thích động cơ, hứng
thú học tập của người học, phát huy tính độc lập, khả năng sáng tạo. Người
học tự định hướng hoạt động học tập, tự khám phá, tích hợp, trình bày, tự
chủ động tổ chức hoạt động học tập, dám chịu trách nhiệm.
- Rèn luyện cho HS năng lực làm việc theo nhóm, vận dụng kiến thức lí
thuyết, năng lực thiết kế, khả năng tổ chức, năng lực tư duy sáng tạo, năng
lực giải quyết những vấn đề phức hợp, năng lực đánh giá, kĩ năng ứng dụng
CNTT,… Đồng thời còn rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn,… cho các em.
- Gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.

- Phát huy vai trò tích cực của học sinh trong việc tự khám phá, chiếm lĩnh
tác phẩm. Tạo hứng thú, kích thích khả năng tư duy của học sinh trong mỗi
giờ học.
Đặc biệt là sau một năm học áp dụng các PP dạy học này bên cạnh các PP
truyền thống thì 100% HS đều đồng ý là môn Văn rất cần thiết và hữu ích với
các em trong cuộc sống sau này. Tuy nhiên, có đến 43% HS nói thêm là càng
yêu thích môn Văn thì lại càng thấy đây là môn học khó, đòi hỏi tư duy và sáng
tạo chứ không như các em nghĩ ban đầu: Văn chỉ là môn học thuộc bài.

với các trang thiết bị hiện đại chắc chắn hiệu quả dạy học sẽ cao hơn rất nhiều.
V. KẾT LUẬN
Tóm lại, để phát huy được chủ thể - trò và lồng ghép các KNS vào bài
học hiệu quả đòi hỏi người giáo viên Ngữ Văn phải linh hoạt trong việc vận
dụng các PP, bên cạnh đó cũng phải có một sự dụng công nhất định. PPDH
không phải là chìa khóa vạn năng, nhưng người làm nên công năng của PP
chính là GV chứ không phải ai khác. Không một phương pháp nào có tính tối
ưu và vận dụng một cách độc lập trong một bài học. Vì vậy vận dụng các
PPDH mới không có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống, vấn đề là ứng
dụng sao cho phù hợp. Đây chỉ là một vài kinh nghiệm mang tính chất cá nhân
mà bản thân tôi trong quá trình áp dụng thấy có hiệu quả phù hợp với mục tiêu
giáo dục hiện nay, nhưng cũng có thể không phù hợp với quan điểm dạy học
của từng người. Vì vậy người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và
trao đổi chân thành của các đồng nghiệp về việc áp dụng các PPDH khác nhau
trong giáo dục KNS cho HS để tôi có một sự kết hợp phương pháp tối ưu hơn,
hiệu quả hơn trong quá trình giảng dạy!
Xin chân thành cảm ơn.
Long Bình Tân, ngày 14 tháng 04 năm
2012
Người viết
Nguyễn Quỳnh Anh
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 - tập 2, Nhiều tác giả, Nxb Giáo dục, 2006.
2. Thiết kế bài giảng ngữ văn 10, Nguyễn Văn Đường (chủ biên), Nxb Hà Nội,
2006.
3. Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ Văn ở trường THPT, Nhiều tác giả,
Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010.

1.2.1. Phương pháp dạy học nhóm 6
1.2.2. Phương pháp dạy học theo dự án 6
1.2.3. Phương pháp trò chơi 7
2. Nội dung, biện pháp thực hiện . 8
2.1. Phương pháp dạy học nhóm 8
2.2. Phương pháp dạy học theo dự án 11
2.3. Phương pháp trò chơi 13
2.4. Thiết kế tiết dạy minh họa 16
III. Hiệu quả 19
IV. Đề xuất, khuyến nghị 20
V. Kết luận 21
VI. Tài liệu tham khảo 22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status