Sáng kiến kinh nghiệm 2012
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
QUA MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
************************
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xu thế hội nhập và phát triển, thế kỉ XXI đòi hỏi con người phải luôn
năng động, sáng tạo; có khả năng tìm kiếm, xử lí thông tin và ứng phó với các tình
huống trong đời sống. Nhằm đáp ứng yêu cầu này, mục tiêu giáo dục phổ thông
của nước ta đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho học sinh (HS) sang
trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng
lực thực tiễn. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy cũng là tất yếu nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh. Với bản chất là hình thành và phát triển cho
HS khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những tình huống,
phương pháp giáo dục kĩ năng sống (KNS) rõ ràng là một trong những phương
pháp ưu thế đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay. Hơn nữa, rèn luyện KNS cho HS
còn được xác định là một trong những nội dung cơ bản của Phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong các trường phổ thông, giai
đoạn 2008-2013 do Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo.
Giáo dục KNS là một yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ. Đó là lí do khiến
giáo dục KNS trở thành xu thế chung của nhiều nước trên thế giới. Dù Ngữ Văn là
một môn học có khả năng đặc biệt trong việc giáo dục KNS cho HS nhưng thực tế
cho thấy vấn đề giáo dục KNS ở trường phổ thông mới chỉ được chú trọng từ năm
học 2010-2011. Do vậy việc làm thế nào để tích hợp nội dung giáo dục KNS trong
nội dung bài học và thông qua các phương pháp triển khai nội dung bài học đến
nay vẫn là sự thử nghiệm tìm đường của các giáo viên dạy văn.
Bản chất của môn Văn là sự kết hợp giữa tính khoa học và nghệ thuật. Làm
sao để HS vừa cảm thụ, rung động với tác phẩm văn chương lại vừa tích hợp được
các KNS cũng không phải là đơn giản. Hơn nữa, cùng với xu thế chung của xã hội
hiện nay, hầu như học sinh chỉ chú trọng đến các môn học khoa học tự nhiên và
- 1 -
không thực tế.
49
2
Theo em, học Văn có giúp em điều
chỉnh hành vi không?
Có 67
Không 4
Không biết
(Không trả lời)
41
3 Theo em, học Văn có ý nghĩa không? Có 132/132
- 2 -
Sáng kiến kinh nghiệm 2012
4 Theo em, học Văn có cần thiết không?
Cần 73
Không cần 59
Qua kết quả khảo sát, tôi nhận thấy có sự mâu thuẫn trong nhận thức của HS
khi các em nhận định văn học là môn học bổ ích, có ý nghĩa nhưng có đến 37,12%
HS cho rằng học văn có giúp em nâng cao khả năng nhận thức nhưng không thực
tế vì các tác phẩm văn học toàn phản ánh những cái đã qua nên chỉ giúp các em
nhìn nhận lại quá khứ mà không giúp các em hội nhập với cuộc sống hiện đại.
Thậm chí có đến 31,1% HS không biết là học Văn có giúp em điều chỉnh hành vi
của mình hay không và 44,70% HS kết luận không cần học môn Văn là một tỉ lệ
không nhỏ. Từ đó ta dễ dàng nhận ra HS cảm nhận được Văn là môn học có ý
nghĩa nhưng còn mơ hồ về khả năng áp dụng thực tiễn của môn học này. Thực tế
ấy khiến người giáo viên dạy Văn không khỏi không suy nghĩ.
Từ thực trạng trên, để việc dạy học môn Văn nói chung và giảng dạy môn
Văn ở chương trình lớp 10, lớp đầu cấp của khối THPT - HS còn nhiều bỡ ngỡ, đạt
hiệu quả, hấp dẫn, lôi cuốn và tác động tích cực hơn đối với HS nhằm giáo dục
KNS cho các em, chúng tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp dạy học
là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lí xã hội này”.
Theo UNICEF, giáo dục dựa trên KNS cơ bản là sự thay đổi trong hành vi
hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và
hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái
độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành
hành động (làm gì và làm như thế nào).
Như vậy, KNS chính là năng lực của mỗi người giúp giải quyết những
nhu cầu và thách thức của cuộc sống một cách có hiệu quả. Việc đưa giáo dục
KNS vào nhà trường cho thấy mục tiêu của giáo dục trong thời kì mới chú trọng
tính hữu dụng, thiết thực của chương trình nhà trường, đồng thời tăng khả năng
đáp ứng yêu cầu đào tạo con người mới năng động, tích cực, tự tin, hội nhập thành
công trong xã hội.
Mục tiêu và nội dung môn Ngữ Văn đã chứa đựng những yếu tố của giáo dục
KNS, phù hợp với các nội dung cơ bản của giáo dục KNS, bao gồm kĩ năng tư duy
sáng tạo, kĩ năng hợp tác nhóm, kĩ năng giao tiếp, phù hợp với cách tiếp cận làm
- 4 -
Sáng kiến kinh nghiệm 2012
thay đổi hành vi của người học trên cơ sở nhận thức về các nội dung của môn Ngữ
Văn. Nhiều bài học của môn Ngữ Văn hướng đến việc giúp HS nhận thức được
các giá trị trong cuộc sống, hình thành lối sống, cách ứng xử có văn hóa trong các
tình huống đa dạng của cuộc sống. Mặt khác, các KNS còn được giáo dục thông
qua phương pháp học tập tích cực, dựa trên sự tương tác giữa nội dung bài học với
những hiểu biết, kinh nghiệm vốn có của bản thân người học và quá trình đối thoại,
tương tác người học với nhau để thực hành, vận dụng linh hoạt vào các tình huống
trong cuộc sống phù hợp với lứa tuổi của các em.
1.2. Đặc điểm của các phương pháp
Phát biểu tại buổi tọa đàm “Đổi mới phương pháp giảng dạy” do báo Tuổi Trẻ
phối hợp với Sở Giáo Dục - Đào Tạo TP.Hồ Chí Minh tổ chức chiều 17/11/2010,
Phó thủ tướng – nguyên Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh:
“Đổi mới phương pháp không phải lấy từ trên xuống mà phải từ dưới lên để thúc
án có nội dung gắn kết với nội dung học tập. Dựa vào tri thức, kinh nghiệm và kĩ
năng vốn có, trên cơ sở phân tích thực tiễn thuộc phạm vi học tập, cùng với tài
liệu, phương tiện, người học đề xuất ý tưởng, thiết kế dự án, soạn thảo và hoàn
chỉnh dự án.
Trong DHDA, người học tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của
quá trình dạy học, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự
án. Vì thế DHDA là một PPDH tích cực, hữu hiệu phát huy được năng lực của HS,
đồng thời rất ưu việt trong giáo dục KNS cho các em. Thực hiện DHDA, HS làm
việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề có thực mang tính thách đố, dựa trên
bài học và thường có tính liên môn. Vì vậy, đặc điểm này còn được gọi là học tập
mang tính xã hội. Các dự án học tập góp phần gắn liền nhà trường với thực tiễn đời
sống xã hội và có thể mang lại những tác động xã hội tích cực. DHDA không chỉ
rèn luyện cho HS các kĩ năng sống cần thiết mà còn tạo ra các sản phẩm cụ thể.
Các sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết mà trong
đa số trường hợp, các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động
thực tiễn, thực hành.
1.2.3. Phương pháp trò chơi
- 6 -
Sáng kiến kinh nghiệm 2012
A.I Xôrôkina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan trọng về đặc thù của dạy
học kết hợp với trò chơi: “Trò chơi học tập là một quá trình phức tạp, nó là hình
thức dạy học và đồng thời nó vẫn là trò chơi… Khi các mối quan hệ chơi bị xóa
bỏ, ngay lập tức trò chơi biến mất và khi ấy, trò chơi biến thành tiết học, đôi khi
biến thành sự luyện tập”. Vì vậy có thể kết luận: học và chơi là hai việc không loại
trừ lẫn nhau. Trò chơi có thể được điều chỉnh cho phù hợp với hầu hết các chủ đề
hoặc đề tài trong nội dung học tập.
Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy học thông qua việc
tổ chức hoạt động cho học sinh. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS được hoạt động
bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của
bài học. Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là
trong suốt quá trình dạy của GV. Việc phân chia nhóm linh hoạt sẽ giúp HS hứng
thú hơn, đồng thời tạo cơ hội cho các HS được học hỏi, giao lưu với các bạn trong
lớp. Ví dụ như GV có thể chia nhóm theo cách gộp hai bàn kế nhau làm một nhóm,
với mô hình lớp học phổ biến trong trường phổ thông ở Việt Nam hiện nay thì cách
chia này hiệu quả vì HS dễ dàng xoay chuyển để thảo luận cùng nhau; hoặc trong
trường hợp vấn đề cần thảo luận không quá khó ta có thể chia nhóm theo đơn vị
một bàn là một nhóm; ngoài ra cũng có thể chia nhóm theo ngày sinh, theo sở
thích, theo đặc điểm, hoặc cho HS bốc thăm tạo nhóm theo các chủ đề như: trái
cây, các loại hoa, cây cối, tên địa danh thắng cảnh,
Việc lựa chủ đề thảo luận cũng là một nhân tố quyết định đến việc phân chia
nhóm. Nếu vấn đề thảo luận lớn, cần dung lượng thời gian nhiều để tìm kiếm thông
tin, phân tích, tổng hợp thì GV không nên cho thảo luận trên lớp. Bởi khi đó việc
thảo luận sẽ chỉ là hình thức. Nhưng cũng không phải bất kì vấn đề nào cũng tạo
nhóm thảo luận trước bởi có những vấn đề GV có thể yêu cầu HS tìm hiểu cá nhân
trước sau đó khi lên lớp mới tạo nhóm để cho HS thảo luận, thống nhất ý kiến trên
cơ sở nội dung tìm hiểu của các cá nhân.
Đối với những bài văn học sử như: Tổng quan văn học Việt Nam, Khái quát
văn học dân gian Việt Nam, Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ
XIX, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, GV có thể cho HS thảo luận nhóm trước để tìm
- 8 -
Sáng kiến kinh nghiệm 2012
hiểu vấn đề, thống nhất ý kiến và trình bày trong buổi học. Bằng hình thức thảo
luận nhóm, các bài học này sẽ bớt khô khan và HS cũng dễ tiếp nhận hơn vì đã
thảo luận và tìm hiểu từ trước. Vấn đề của GV là phải đưa ra những yêu cầu cụ thể
để HS không thể thảo luận chiếu lệ mà thực sự phải tìm tòi, động não và tranh luận
thì bài học mới được lĩnh hội dễ dàng hơn, sâu sắc hơn và các KNS từ đó cũng
được gia tăng.
Chẳng hạn khi dạy bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ
XIX, tôi chia lớp thành bốn nhóm và yêu cầu mỗi nhóm tìm hiểu một giai đoạn
phát triển của văn học Việt Nam tương ứng với nội dung bài học:
Điều quan trọng là sau khi HS trình bày, thảo luận bao giờ GV cũng phải có
phần nhận xét, chốt ý và có những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt để giúp HS hiểu rõ hơn
những nội dung chưa được thể hiện, hoặc thể hiện chưa sâu.
PPDH nhóm không phải là phương pháp hoàn toàn mới, ngay từ khi Bộ Giáo
Dục chủ trương: dạy học tích cực, lấy HS làm trung tâm, PP này đã được sử dụng
rộng rãi bởi đây là một PP ưu việt trong việc thúc đẩy HS tự chiếm lĩnh kiến thức.
Tuy nhiên có nhiều giờ học, GV chỉ sử dụng PPDH nhóm chiếu lệ, không phát huy
được hết tác dụng của PP này. Nghĩa là GV vẫn tổ chức hoạt động nhóm nhưng
thực sự các thành viên trong nhóm có hợp tác với nhau không thì GV không kiểm
soát. Hoặc có nhiều GV lại quá lạm dụng, mỗi hoạt động đều tổ chức thảo luận
nhóm khiến HS rất áp lực, giờ học cũng trở nên nhàm chán. Điều này dẫn tới việc
HS đối phó bằng cách đem sách giải ra chép để trả lời. Hơn nữa với tiêu chí lồng
ghép giáo dục KNS cho HS bằng chiến thuật mưa dầm thấm lâu thì GV cần phải
lựa chọn PP hợp lí để phát huy tác dụng của PP và có những biện pháp để tất cả
các thành viên trong nhóm đều phải hợp tác tham gia và có cơ hội rèn luyện KNS
như nhau.
Ngoài ra, GV cũng nên có những yêu cầu cụ thể với mức độ lũy tiến về độ
khó để phát triển đồng đều KNS của tất cả HS trong lớp. Chẳng hạn như khi dạy
bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy, với những vấn đề như: Bàn
luận về chi tiết ngọc trai -giếng nước, chi tiết An Dương Vương chém đầu con gái,
chi tiết An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc đi xuống biển, GV có thể chia
nhóm nhỏ theo kiểu đôi bạn hoặc ba em một nhóm nhưng phải trình bày theo kiểu
bàn tròn. Nghĩa là các thành viên trong nhóm phải phối hợp để cùng trình bày chứ
- 10 -
Sáng kiến kinh nghiệm 2012
không phải chỉ cử một HS lên trình bày mà thôi. Và trong quá trình HS trình bày,
GV nên khuyến khích các nhóm khác tham gia thảo luận để bảo vệ quan điểm của
mình. Đồng thời khi nhận xét cho điểm GV cũng nên hướng các em đến các kĩ
năng xử lí tình huống như là: không trừ điểm nếu HS không trả lời được câu hỏi
của HS khác nhưng có cách xử lí hay. Chẳng hạn như HS biết cách chất vấn ngược
bài dạy.
Bước 2:
- Hướng dẫn HS cách thiết kế các bài trình bày đa phương tiện: PowerPoint,
cách sử dụng phần mềm làm phim: Windows Movie Maker hoặc Corel
Video Studio,
- Gợi ý cho HS hình thành ý tưởng, chọn vai.
Bước 3:
- Theo dõi quá trình thực hiện dự án của HS.
- Gợi ý cho HS điều chỉnh để có sản phẩm tốt hơn.
Bước 4:
- Thực hiện giờ dạy:
+ HS các nhóm trình bày.
+ GV nhận xét, củng cố nội dung bài học theo từng phần, dùng những câu hỏi
gợi mở để HS các nhóm thảo luận đưa ra ý kiến, sử dụng bài trình bày đa
phương tiện để chốt ý.
+ Đánh giá, cho điểm.
Lưu ý là khi xây dựng dự án, khâu chọn vai rất quan trọng. Nếu vai trò đảm
nhiệm quá khó hoặc nếu vai không phù hợp HS cũng khó mà thực thi được nhiệm
vụ của mình. Chẳng hạn như khi dạy bài Trình bày một vấn đề, GV có thể cho
trước một số vấn đề để HS lựa chọn. Sau khi HS thống nhất chọn đề tài, GV cho
HS tìm vai thích hợp. Nếu đề tài là: Thời trang cuộc sống hoặc Thời trang học
đường thì HS có thể vào vai nhà thiết kế thời trang, phóng viên chuyên mục thời
trang, Nếu đề tài là: Vấn đề bạo lực học đường, Tuổi trẻ và tình yêu, HS cũng
có thể vào vai phóng viên, biên tập viên, chuyên gia tâm lí, Và quan trọng là sau
- 12 -
Sáng kiến kinh nghiệm 2012
khi trình bày HS phải rút ra được các bước thực hiện trình bày và xác định được
tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề.
Bên cạnh đó, GV nhất thiết phải có một bài trình bày để hệ thống kiến thức
cho HS nếu không PPDH này sẽ phản tác dụng. Mặc dù thực hiện PPDH theo dự
đúng mới được trả lời câu hỏi kế tiếp, còn HS trả lời sai sẽ phải dừng lại. Nếu GV
muốn phân loại HS thì có thể chỉ cho 3 đến 4 câu hỏi trắc nghiệm, còn lại là câu
hỏi suy luận có độ khó cao để phân định điểm số của HS.
Luật chơi phụ thuộc nội dung và mục đích. Bởi cùng một nội dung nhưng có
thể chơi với nhiều cách khác nhau như ghép đáp án đúng, ghép tranh đoán nội
dung, đi tìm kho báu bằng cách qua mỗi chặng thử thách là một câu hỏi, giải ô
chữ,
Người tổ chức chơi thông thường là GV, nhưng trong một số trường hợp GV
có thể gợi ý, khuyến khích các em xây dựng trò chơi. Ví dụ đối với các bài học có
ứng dụng PPDH nhóm hoặc DH dự án, tôi khuyến khích các em xây dựng trò chơi
củng cố sau phần trình bày của mình. Kết quả rất khả quan, HS các nhóm theo dõi
tập trung vào bài trình bày của bạn hơn để có thể trả lời câu hỏi của các nhóm, HS
thích thú hơn khi được tham gia trò chơi do chính bạn mình thiết kế, trò chơi càng
độc đáo thì sự phấn khích của HS càng cao, các HS trong nhóm cũng gắn kết hơn,
chủ động sáng tạo trong việc thiết kế các trò chơi.
PP này đặc biệt ứng dụng hiệu quả ở các bài ôn tập. Vì những kiến thức ở bài
học này HS đều đã học qua, vấn đề là kiến thức phải được hệ thống lại và nâng cao
hơn. Nhưng nếu GV sử dụng cách dạy lâu nay như nêu vấn đề hay phát vấn thôi thì
HS rất thụ động. Áp dụng PP trò chơi cho bài ôn tập, tôi phân khối lượng bài cho
từng nhóm để tránh trùng lặp, yêu cầu đặt ra là HS các nhóm phải thiết kế một trò
chơi sử dụng toàn bộ các bài được giao để đặt câu hỏi, ngoài ra phải ôn tập lại các
nội dung còn lại để tham gia trò chơi của nhóm khác. Đặc biệt phải giới hạn thời
gian để HS thiết kế trò chơi phù hợp. Điểm số của mỗi HS được tính bằng tổng
điểm của quá trình tham gia thảo luận trong nhóm, những công việc đã làm, biểu
hiện trên lớp học (có tham gia điều hành cùng nhóm mình không, có trả lời tốt câu
hỏi của nhóm khác không, ).
- 14 -
Sáng kiến kinh nghiệm 2012
Tuy nhiên để HS làm tốt vai trò của mình, GV phải có những chỉ dẫn cụ thể
như đưa ra những hình thức chơi mà HS có thể áp dụng và hình dung ra phải áp
- Khái niệm văn bản quảng cáo, vai trò của quảng cáo
trong đời sống.
- Yêu cầu và cách viết quảng cáo cho một sản phẩm hoặc
một dịch vụ.
- Biết lựa chọn hình thức quảng cáo phù hợp với nội dung
quảng cáo.
- Biết viết các văn bản quảng cáo thông thường.
Yêu cầu về
kiến thức của
học sinh
1. Kiến thức về CNTT: HS biết soạn thảo văn bản, biết cách
tìm thông tin, biết sử dụng các phần mềm, biết xử lí thông
tin và thiết kế bài học.
2. Kiến thức chung về môn học: HS nắm được cách hành văn,
cách sử dụng từ ngữ chọn lọc, và đặc điểm của quảng cáo.
Yêu cầu về
trang thiết bị
dạy học
1. Trang thiết bị/Đồ dùng dạy học liên quan đến CNTT:
a. Phần cứng: Máy tính, máy chiếu, máy chụp hình kĩ thuật
số, máy quay phim (điện thoại).
b. Phần mềm: MS Word, MS PowerPoint, Windows Media
Player, Herosoft, SnagIt 7, Hot Potatoes 6, eMindMaps…
2. Những đồ dùng dạy học khác: Bảng, phấn màu, áp phích,
panô, tờ rơi, quảng cáo…
Chuẩn bị việc
giảng dạy
1. Phần chuẩn bị của Giáo viên: Thu thập các loại tư liệu về
quảng cáo; chụp hình các panô, áp phích, tờ rơi; cắt một số
quảng cáo tĩnh và động trên web, hướng dẫn HS cách làm
+ Văn bản quảng cáo ở
đâu? (Ti vi, báo, đài, tờ
rơi,…)
+ Mục đích của quảng
cáo là gì?
+ Quảng cáo có vai trò
như thế nào?
+ Yêu cầu chung của văn
bản quảng cáo?
- Giáo viên theo dõi, nhận
xét về phần trình bày và
thảo luận của học sinh,
củng cố những nội dung
chính của phần 1 bằng
phần trình chiếu: MS
PowerPoint.
+ Cho HS xem quảng
cáo ví dụ, GV gợi ý để
HS rút ra nhận xét.
+ Lưu ý học sinh về vai
trò của quảng cáo
trong đời sống hàng
ngày.
+ Chú ý các yêu cầu cụ
thể đối với một văn
bản quảng cáo.
I. Vai trò và yêu cầu chung
của văn bản quảng cáo:
1. Văn bản quảng cáo trong
đời sống:
văn bản quảng cáo).
Yêu cầu:
+ Các nhóm phải thực
hành viết quảng cáo.
+ Xác định được cách
viết quảng cáo về nội
dung và hình thức.
- Giáo viên theo dõi
nhận xét về phần thảo
luận của các nhóm, nội
dung trình bày của nhóm
2, nhấn mạnh trọng tâm
bài học. Và chú ý những
nội dung học sinh chưa
giải quyết được. Định
hướng cho HS đi sâu vào
bài học và mở rộng nội
dung có liên quan.
1. Xác định nội dung cơ bản
cho lời quảng cáo
2. Chọn hình thức quảng cáo
- Trình bày theo
kiểu qui nạp, so sánh và sử
dụng từ ngữ khẳng định
tuyệt đối để thuyết phục.
- Kết hợp với tranh
ảnh, hình thức trình bày.
3. Củng cố
- Tổng kết bài bằng cách cho học sinh sơ đồ hoá bài học.
GV đối chiếu bằng sơ đồ đã chuẩn bị (Mindmap).
đã học về mục đích, yêu cầu của văn bản quảng cáo để
nhận xét.
- Giao bài tập cho cả lớp, HS làm ấn phẩm với nội dung:
Viết quảng cáo về các hoạt động chào mừng 26/3 ở lớp
em.
Kiến thức,
KNS:
- Học sinh không chỉ biết cách viết quảng cáo mà còn biết
đánh giá nhận xét về một quảng cáo.
- Rèn luyện tư duy đánh giá, phân tích.
- KNS: hợp tác, chia sẻ, sáng tạo, thuyết trình,…
III. HIỆU QUẢ
Qua thực tiễn dạy học của bản thân những năm gần đây và từ thực tế dạy học
các lớp 10 ban Cơ bản tại trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh, tôi nhận thấy các
phương pháp này có những ưu điểm sau đây:
- Kiến thức đúng trọng tâm, tích hợp liên môn, lồng ghép nội dung giáo
dục KNS nhẹ nhàng nhưng hiệu quả.
- Phát huy được khả năng nhiều mặt của học sinh, kích thích động cơ,
hứng thú học tập của người học, phát huy tính độc lập, khả năng sáng tạo.
Người học tự định hướng hoạt động học tập, tự khám phá, tích hợp, trình bày,
tự chủ động tổ chức hoạt động học tập, dám chịu trách nhiệm.
- Rèn luyện cho HS năng lực làm việc theo nhóm, vận dụng kiến thức lí
thuyết, năng lực thiết kế, khả năng tổ chức, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực
giải quyết những vấn đề phức hợp, năng lực đánh giá, kĩ năng ứng dụng CNTT,
… Đồng thời còn rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn,… cho các em.
- Gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã
hội.
- Phát huy vai trò tích cực của học sinh trong việc tự khám phá, chiếm
lĩnh tác phẩm. Tạo hứng thú, kích thích khả năng tư duy của học sinh trong mỗi
giờ học.
HS khó khăn, Vì vậy, nếu được kiến nghị người viết mong các cấp lãnh đạo cao
- 20 -
Sáng kiến kinh nghiệm 2012
hơn như Sở Giáo Dục và Đào Tạo, Bộ Giáo Dục Đào Tạo thay đổi quy chế, cho
phép giáo viên được lựa chọn một số bài nằm trong khung để dạy mà không phải
dạy hết tất cả các bài để có nhiều thời gian đầu tư hơn, hiệu quả bài dạy cao hơn;
thêm nữa đề thi mở cũng là một cách giảm tải cho GV và HS; ngoài ra nếu được
đầu tư hơn về cơ sở vật chất để HS được học hai buổi với các trang thiết bị hiện đại
chắc chắn hiệu quả dạy học sẽ cao hơn rất nhiều.
V. KẾT LUẬN
Tóm lại, để phát huy được chủ thể - trò và lồng ghép các KNS vào bài học
hiệu quả đòi hỏi người giáo viên Ngữ Văn phải linh hoạt trong việc vận dụng các
PP, bên cạnh đó cũng phải có một sự dụng công nhất định. PPDH không phải là
chìa khóa vạn năng, nhưng người làm nên công năng của PP chính là GV chứ
không phải ai khác. Không một phương pháp nào có tính tối ưu và vận dụng một
cách độc lập trong một bài học. Vì vậy vận dụng các PPDH mới không có nghĩa là
loại bỏ các PPDH truyền thống, vấn đề là ứng dụng sao cho phù hợp. Đây chỉ là
một vài kinh nghiệm mang tính chất cá nhân mà bản thân tôi trong quá trình áp
dụng thấy có hiệu quả phù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay, nhưng cũng có thể
không phù hợp với quan điểm dạy học của từng người. Vì vậy người viết rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến và trao đổi chân thành của các đồng nghiệp về việc
áp dụng các PPDH khác nhau trong giáo dục KNS cho HS để tôi có một sự kết hợp
phương pháp tối ưu hơn, hiệu quả hơn trong quá trình giảng dạy!
Xin chân thành cảm ơn.
Long Bình Tân, ngày 14 tháng 04 năm 2012
Người viết
Nguyễn Quỳnh Anh
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 - tập 2, Nhiều tác giả, Nxb Giáo dục, 2006.
- 21 -
2. Nội dung, biện pháp thực hiện
2.1. Phương pháp dạy học nhóm 8
2.2. Phương pháp dạy học theo dự án 11
2.3. Phương pháp trò chơi 13
2.4. Thiết kế tiết dạy minh họa 16
III. Hiệu quả 19
IV. Đề xuất, khuyến nghị 20
V. Kết luận 21
VI. Tài liệu tham khảo 22
- 23 -