Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
PHẦN LÍ LỊCH
Họ và tên: Đoàn Thị Kim
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Phan Sào Nam – Phù Cừ - Hưng Yên
ĐỀ TÀI:
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA TIẾT DẠY
TRUYỆN NGỤ NGÔN TRONG NGỮ VĂN LỚP 6
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
1
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng
Kỹ năng sống là yếu tố cần thiết trong mọi thời đại đặc biệt là trong thời kì
hội nhập. Xuất phát từ nhu cầu đó Bộ Giáo dục và Đào tạo lồng ghép kỹ năng
sống vào trong chương trình học của học sinh.
Trong “ Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020”
(Dự thảo lần thứ 14) nêu rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người
Việt Nam phát triển toàn diện góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất
Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh
nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng
lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, môn Ngữ văn còn giúp
học sinh có được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời sống nội
tâm của con người.
Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp học sinh có năng
lực ngôn ngữ để học tập, khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và con người.
Với tính chất là môn học giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp học sinh bồi dưỡng
năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh để
hoàn thiện nhân cách.
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THCS nói chung, đặc biệt
là năm học 2013 – 2014 khi dạy môn Ngữ văn lớp 6, tôi thấy phần truyện ngụ
ngôn không chỉ có giá trị là những bài học răn dạy quý báu, mà còn là cả một kho
kĩ năng sống nếu người giáo viên biết cách khai thác. Những vấn đề trên tuy
không khó nhưng để thực hiện được thì đòi hỏi người giáo viên phải có cái tâm
nghề nghiệp, phải thật sự tâm huyết với nghề và hết lòng vì học sinh thân yêu mới
có khả năng giáo dục các em tự tìm tòi, học hỏi, tự vận dụng những điều đã học
vào thực tế cuộc sống. Đó chính là lí do tôi chọn đề tài “Giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh qua tiết dạy truyện ngụ ngôn trong Ngữ Văn 6”.
2. Ý nghĩa, tác dụng của đề tài
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
3
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
Đề tài mong giúp các em học sinh trước hết hiểu và thấy được cái hay, cái
Năm học 2013 - 2014
- Quá trình giảng dạy phần truyện ngụ ngôn, quá trình tích hợp nội dung
này với giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh của giáo viên Ngữ văn.
B. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Vấn đề tích hợp trong dạy học ngữ văn trung học cơ sở là một trong những
nội dung đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học trong chương trình sách
giáo khoa mới mà chúng ta đã thực hiện trong những năm qua. Tích hợp các nội
dung giảng dạy đối với các bộ môn khoa học xã hội là mối liên hệ bên trong, mối
liên hệ bản chất của nội dung – tư duy – tư tưởng, luôn tiềm ẩn và rất linh hoạt.
Trong chương trình giảng dạy, giáo viên Ngữ văn không chỉ cần có sự tích hợp
nội dung kiến thức, kĩ năng của ba phân môn Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn mà
còn phải tích hợp nội dung kiến thức, kĩ năng của các môn học khác có liên quan,
các vấn đề trong thực tiễn đời sống và đặc biệt là các nội dung giáo dục thái độ tư
tưởng cho học sinh một cách linh hoạt, uyển chuyển và tinh tế.
Đứng trước sự phát triển nhanh chóng của nhiều lĩnh vực xã hội thì giáo dục
thời đại mới đã và đang phấn đấu đổi mới về nội dung, chất lượng và phương pháp
sao cho đạt được 2 mục tiêu lớn là đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo kỹ năng
sống cho học sinh. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt đuợc của toàn ngành
thì gần đây chúng ta thường thấy thực trạng trẻ vị thành niên có xu hướng gia tăng
về bạo lực học đường, về phạm tội, về liều lĩnh, ứng phó không lành mạnh, dễ
mắc các tai tệ nạn xã hội, sống ích kỷ, vô tâm, khép mình,….Đồng thời rèn kỹ
năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng tự phục
vụ bản thân cũng là nhu cầu cần thiết…Hơn thế nữa đứng trước thềm hội nhập
quốc tế đòi hỏi thế hệ trẻ phải tự tin; phải nắm bắt kịp thời các cơ hội cũng như
phải có một số kỹ năng: sống khỏe, sống lành mạnh, giỏi lập trình, giỏi tiếng
Anh…
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song
còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo,
kích động. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
6
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và
tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chon những giá trị, phải đương đầu
với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục
kĩ năng sống, nếu thiếu kĩ năng sống, các em sẽ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu
cực, bạo lực và lối sống ích kĩ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về
nhân cách. Chính vì vậy vấn đề giáo dục kĩ năng sống và tích hợp giáo dục Kĩ
năng sống vào các môn học trong đó có môn Ngữ Văn rất được quan tâm.
- Việc tổ chức giáo dục kĩ năng sống trong trường THCS được tiến hành thông
qua môn học (nội khoá, ngoại khoá), thông qua việc dạy học tự chọn, qua hoạt
động ngoài giờ lên lớp và hoạt động câu lạc bộ cũng không còn xa lạ với giáo viên
bởi họ đã được làm quen với cách thức tổ chức này (qua các đợt tập huấn tích hợp
một số mặt giáo dục khác của Sở giáo dục, Phòng giáo dục ). Đây là một trong
những điều kiện thuận lợi cho việc đưa hoạt động giáo dục này vào nhà trường.
- Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục kĩ năng sống với các hoạt động giáo dục vốn đã
được lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ
môi trường, phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật,… sẽ tạo nhiều cơ hội và
điều kiện để triển khai giáo dục kĩ năng sống;
- Nhìn chung hầu hết các giáo viên nói chung và giáo viên Ngữ Văn nói riêng đã
tính áp đặt.
- Trường THCS Phan Sào Nam, cũng như hầu hết các trường trong huyện đều rất
chú ý đến nội dung giáo dục Kĩ năng sống tích hợp trong các hoạt động ngoại
khóa, trong môn Hoạt động ngoài giờ lên lớp, trong tiết sinh hoạt và đặc biệt là
lồng ghép trong khi dạy các môn văn hóa. Bản thân tôi, luôn nhận được sự quan
tâm của Ban giám hiệu trường THCS Phan Sào Nam, sự ủng hộ nhiệt tình của các
em học sinh khi thực hiện triển khai đề tài này trong năm học 2013 – 2014.
2. Khó khăn
- Vấn đề thời gian cũng là vấn đề quan trọng trong việc lồng ghép kĩ năng sống
vào tiết dạy, một tiết học thường đi rất nhanh phần lí thuyết, đôi khi hết giờ mà
học sinh chưa thực hiện được một kĩ năng nào, ngoài ra không có một tiết dạy kĩ
năng riêng cho học sinh, điều này cũng khó với giáo viên vì nếu quá chú trọng vào
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
8
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
giáo dục kĩ năng sống thì lại chậm tiến độ bài dạy theo Phân phối chương trình,
mà dạy cho kịp nội dung bài đôi khi lại rất khó lồng ghép Kĩ năng sống.
- Khi thực hiện nhiệm vụ lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống vào các môn học, đặc
biệt với môn Ngữ văn, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn (chưa có tài liệu cho giáo
viên và học sinh, kế hoạch thực hiện, tiêu chí đánh giá,…).
- Tổ chức giáo dục kĩ năng sống có những đặc thù riêng khác với các hoạt động
giáo dục khác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong môn học mà còn thông
qua một số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ,...) cho nên
- Nhằm hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề lý luận có tính liên quan đến
khả năng tiếp nhận các kiến thức Ngữ văn nói chung và phần truyện ngụ ngôn nói
riêng trong Ngữ văn lớp 6 bằng cách sưu tầm tài liệu, sách báo, truy cập
Internet….
- Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về
vấn đề giáo dục và giáo dục KNS cho học sinh THCS, phân tích, tổng hợp những
tư liệu, tài liệu lý luận về giáo dục KNS.
2. Phương pháp quan sát
Nhằm chính xác hóa và phong phú thêm các số liệu đã thu được bằng cách quan
sát sự học tập của học sinh trong các giờ học truyện ngụ ngôn.
3. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động của học sinh
Nhằm hỗ trợ cho phương pháp Anket, thông qua các bài kiểm tra, bài tập về nhà,
điểm tổng kết…thông qua những đề cương, dàn ý của học sinh…từ đó thu thập
được thông tin nhằm hỗ trợ cho phương pháp điều tra.
4. Phương pháp đàm thoại
Nhằm chính xác hóa các số liệu điều tra về thực trạng nâng cao hiệu quả việc tích
hợp giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy truyện ngụ ngôn trong Ngữ văn lớp 6.
5. Phương pháp Anket
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
10
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
Là phương pháp chủ yếu nhằm giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, qua đó phát
hiện và thấy được thực trạng của học sinh trong việc học truyện ngụ ngôn cũng như rèn
luyện kĩ năng sống cho các em.
- Biết cách tìm và phân tích những đặc điểm nội dung và nghệ thuật của ba
truyện ngụ ngôn đã học và đọc thêm.
- Biết cách tìm hiểu, phân tích những ngụ ý, bài học của truyện ngụ ngôn.
- Biết liên hệ các truyện đã học, đọc thêm với tình huống có thể xảy ra trong
cuộc sống để ứng xử kịp thời.
- Biết cách rút ra Kĩ năng sống cần thiết qua bài học và áp dụng kĩ năng
sống vừa học được vào thực tế cuộc sống.
- Từ việc hướng dẫn của giáo viên, với những truyện ngụ ngôn khác mà các
em đọc thêm được, bản thân các em cũng có thể rút ra các bài học giá trị và các kĩ
năng sống cần thiết cho mình.
3. Thái độ
- Tán thành với ý nghĩa của ba truyện ngụ ngôn đã học và đọc thêm.
- Thêm yêu truyện ngụ ngôn nói riêng và phần Văn học dân gian nói chung.
- Trân trọng những câu truyện ngụ ngôn đã được học và những kí năng sống
học được từ truyện ngụ ngôn ấy.
- Thấy được ý nghĩa của giáo dục kĩ năng sống, để từ đó có thái độ tích cực
và hợp tác khi được học nội dung này không chỉ trong môn Ngữ văn mà với tất cả
các môn học khác.
* Tóm lại: Khi viết giải pháp này, tôi muốn các đồng nghiệp chia sẻ cùng
tôi những kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi bàn luận để tìm ra biện pháp thiết thực,
khả thi nhất nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục trong giảng dạy
môn Ngữ văn bậc trung học cơ sở theo chuẩn kiến thức, kĩ năng đã ban hành và
mục tiêu giáo dục chung là mỗi giáo viên văn sẽ góp phần đào tạo cho đất nước
những thế hệ học sinh, không chỉ có hiểu biết về tri thức mà còn giàu có về cảm
xúc, có tâm hồn trong sáng, nhân ái, biết vươn tới Chân – Thiện – Mĩ mà đặc biệt
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
12
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
- Học để sống với người khác (learning to live together): bao gồm các KN
xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm,
thể hiện sự cảm thông
- Học để làm: (Learning to do): KN thực hiện công việc và các nhiệm vụ
như: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm
- KNS bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể cần thiết cho cuộc sống hàng
ngày của con người.
- Bản chất của KNS là KN làm chủ bản thân và KN xã hội cần thiết để cá
nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.
Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng
ứng xử phù hợp với những người khác và với XH, khả năng ứng phó tích cực
trước các tình huống của cuộc sống.
+ Kĩ năng sống là tất cả các kĩ năng cần có giúp người ta có thể học tập,
làm việc có hiệu quả hơn, sống tốt hơn. Có hàng trăm kĩ năng sống khác nhau, tùy
hoàn cảnh, môi trường sống, điều kiện sống mà chúng ta cần dạy cho trẻ em
những kĩ năng cần thiết khác nhau.
Ví dụ trẻ em vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cần dạy kĩ năng bơi lội, đi
xuồng, ghe… Trẻ em thành phố cần dạy các kĩ năng tự bảo vệ bản thân, phòng
chống xâm hại tình dục, kĩ năng từ chối ( khi được mời thử ma túy, đi quán
Bar….)
c. Truyện ngụ ngôn
- Theo Văn học dân gian Việt Nam ( sách giáo trình Cao đẳng sư phạm – Nhà
xuất bản Giáo dục – 1998): truyện ngụ ngôn (hay ngụ ý) là một loại truyện dân
gian mang tính chất ngụ ý, nói bóng, hay ám chỉ ( phúng dụ) nhằm nêu lên những
- Thực tế, môn Ngữ Văn là một môn học quan trọng của các em, nhưng cũng
khẳng định rằng đây là một môn học không dễ chút nào. Việc học Ngữ văn đã
khó, học phần Văn học dân gian cách thời điểm hiện tại các em đang sống quá xa
lại càng khó. Hơn nữa truyện ngụ ngôn lại là một mảng đòi hỏi các em phải có sự
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
15
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
suy luận, có sự hiểu biết sau đó lại phải tích hợp với nội dung giáo dục kĩ năng
sống, điều này không hề đơn giản, nhất là với đối tượng học sinh lớp 6 còn quá
non nớt và chưa có nhiều hiểu biết về thực tế. Do vậy, cả thầy và trò cùng phải cố
gắng rất nhiều để các em không chỉ cảm nhận và tiếp thu được hết cái hay cái đẹp
của mỗi tác phẩm ngụ ngôn, mà còn biết rút ra các bài học Kĩ năng sống thiết yếu
cho mình.
IV. Giải pháp cụ thể
Như phần trên tôi đã trình bày, dạy phần Truyện ngụ ngôn tích hợp giáo dục
kĩ năng sống cho học sinh lớp 6 là tương đối khó. Tuy nhiên, với sự chuẩn bị kĩ
lưỡng bài dạy, nghiên cứu, tìm tòi bước đầu tôi đã thực hiện khá tốt một số giờ
học, giúp các em không chỉ hứng thú với bài mà còn có thêm một số kĩ năng, tạo
được những sản phẩm nhất định từ các kĩ năng học được. Tôi xin mạnh dạn trình
bày một số phương pháp và ứng dụng dạy một bài cụ thể:
1. Tìm hiểu về nguồn gốc truyện ngụ ngôn
Ngụ ngôn là một trong những thể loại tự sự cổ xưa nhất, ở Văn học dân gian
của mọi dân tộc đều có thơ hoặc truyện ngụ ngôn. Ngụ ngôn xuất hiện trước công
nguyên trong kho tàng văn hóa các dân tộc như Hy Lạp, Ấn Độ, Ai Cập, Trung
xuôi cổ đại hay kiểu châu Âu cận đại; thiên nhiên và sự vật chỉ được nhắc đến khi
thật cần thiết, hành động xảy ra như không có bối cảnh; nhân vật không có nét
ngoại hình, tính cách, mà hiện ra như những chủ thể của sự lựa chọn đạo lý.
Từ cuối thế kỷ 19, một loạt nhà văn đã xem sự súc tích, kiệm lời của ngụ
ngôn là mẫu mực cho sáng tác của mình, như Lep Tolstoi cuối đời đã bắt tay thực
hiện ý đồ gò văn xuôi vào quy luật của ngụ ngôn.
Thời hiện đại nhiều nhà văn chú ý dựa vào các truyền thống ngụ ngôn đã
đưa tới sự xuất hiện những tác phẩm kịch và tiểu thuyết được gọi là parabole. Về
cấu trúc bên trong, ở những tác phẩm này có hình tượng bóng gió, ngụ ý, kiểu
hình tượng hướng tới tượng trưng; chú trọng lối nói bóng gió đa nghĩa (khác với
tính đơn nghĩa của phúng dụ và cũng khác với bình diện sau vốn mang nghĩa một
chiều của ngụ ngôn cổ và trung đại. Sự súc tích về nội dung, khả năng mang nhiều
tầng hàm nghĩa của ngụ ngôn đã trở thành hấp lực đối với nhiều nhà văn như F.
Kafka với “Vụ án”, H. Hesse với “Chuỗi ngọc thủy tinh”, E. Hemingway với
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
17
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
“Ông già và biển cả”, Abe Kobo với “ Người đàn bà trong cồn cát” ... Thi pháp
ngụ ngôn mở rộng sang kịch và các tiểu thuyết luận đề, được thực hiện bởi những
nhà văn muốn thoát khỏi quan niệm truyền thống về tính cách và hoàn cảnh, trong
số này có nhiều nhà văn hiện sinh như J. P. Sarche, A. Camus, G. Marcel, B.
Brecht, W. Faulkner …
Dấu hiệu về cấu trúc và nội dung ngụ ngôn cũng bộc lộ tới các loại hình
nghệ thuật khác như điện ảnh (bộ phim “Dấu ấn thứ bảy” của Ingmar Bergman;
Mỗi truyện ngụ ngôn đều có hai loại nội dung: Nội dung trực tiếp ( nghĩa
đen – phần xác), nội dung gián tiếp ( nghĩa bóng – phần hồn). Nội dung ý nghĩa
đích thực của truyện ngụ ngôn là phần hồn – nghĩa bóng chứ không phải là phần
xác, phần nghĩa đen của truyện. Căn cứ vào nghĩa bóng ( phần hồn), có thể quy
truyện ngụ ngôn của người Việt vào hai bộ phận chính. Bộ phận thứ nhất gồm
những truyện thiên về việc phản ánh, nhận xét đặc điểm tính cách của các loại
người khác nhau trong xã hội phong kiến. Bộ phận thứ hai gồm những truyện
thiên về việc nêu lên những bài học luân lí, triết lí, những kinh nghiệm sống sâu
sắc, giàu ý nghĩa. Có thể cụ thể nội dung, ý nghĩa của truyện ngụ ngôn như sau:
a.Truyện ngụ ngôn có nội dung đả kích giai cấp thống trị.
Truyện ngụ ngôn được nhân dân dùng làm vũ khí đấu tranh chống giai cấp
thống trị. Bộ phận truyện này nêu lên được những nhận xét sâu sắc về tầng lớp
thống trị trong xã hội cũ: đó là thói ngang ngược của kẻ quyền thế ( Khi chúa sơn
lâm ngọa bệnh, Đeo nhạc cho mèo ), tội cướp của hại người(Chèo bẻo và ác là )
thói đạo đức giả của chúng (Mèo ăn chay ).
b . Truyện ngụ ngôn phê phán thói hư tật xấu của mọi người.
Truyện ngụ ngôn cũng là tiếng nói giáo dục, phê bình nhắm vào các thói hư
tật xấu của con người như: thói huênh hoang đi kèm với bệnh chủ quan (Ếch ngồi
đáy giếng) , tính tham lam vô độ ( Người nông dân và con lừa, Thả mồi bắt bóng
), thói đoán mò của người kém hiểu biết ( Cà cuống với người tịt mũi, Thầy bói
xem voi ), thói thay lòng đổi dạ, phản phúc ( Bồ câu và sáo), sự đố kị, ganh ghét
không đoàn kết ( Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng)….
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
19
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
20
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
xây dựng qua sự đối lập giữa thông minh và ngu ngốc, tốt bụng và xấu xa, bé nhỏ
và to lớn.
a. Nhân vật chính trong truyện ngụ ngôn thường là loài vật.
Nhìn bề ngoài, các con vật trong truyện ngụ ngôn không khác các con vật
trong truyện cổ tích loài vật: chúng cũng biết nói tiếng người, có khả năng ứng xử,
có tâm tính như người và cũng có đủ cả thú, chim, cá, côn trùng… Nhưng xét kĩ
hơn sẽ thấy sự khác biệt.
- Một là, khác biệt về bản thân đối tượng (đối tượng miêu tả hay đối tượng
kể chuyện).
Các con vật trong truyện cổ tích ít nhiều có liên quan đến cuộc sống của chủ
nhân nguồn truyện kể. Con vật trong truyện cổ tích được phân loại cụ thể nhằm
mang ý nghĩa nào đó (người nghiên cứu có thể thông qua sự phân loại đó để xác
định những truyện của người đi săn, người làm ruộng hay người chăn nuôi). Ví
dụ: Sự tích con khỉ cho ta biết truyện kể của loại người trưởng giả, Con voi với
người quản tượngcho biết về cuộc sống của người chăn nuôi…
Các con vật trong truyện ngụ ngôn được chọn lựa theo tiêu chí hoàn toàn
khác. Đó có thể là bất cứ con vật nào, có thể không liên quan gì đến cuộc sống của
con người. Việc phân loại các con vật trong truyện ngụ ngôn không có ý nghĩa cụ
thể nào. Nếu có cũng chỉ mang tính hình thức. Ví dụ: truyện Con cáo, Muỗi và sư
tử…
- Hai là, khác biệt về thái độ đối với đối tượng.
Trong truyện cổ tích về loài vật, người kể và người nghe có thể thể hiện tình
cảm yêu ghét rõ rệt đối với con vật, cũng như thể hiện tình cảm với nhân vật trong
b. Nhân vật trong truyện ngụ ngôn đôi khi là những thứ khác.
Không chỉ các con vật mà cả những vật vô tri vô giác cũng được mượn vào
truyện ngụ ngôn. Đôi khi đó là cây cỏ hoa quả (Cây sậy và cây ô liu), các vật vô
tri, những điều vô hình vạn trạng, thân thể con người và n hững bộ phận trên thân
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
22
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
thể người, tính nết, mượn cả thần phật, ma quỷ, hay tạo hóa (Gió và mặt trời,
Người cha và các con trai, Ông già và thần chết…).
Tuy nhiên, sau này Arixtốt chỉ thừa nhận các con vật là nhân vật trong truyện
ngụ ngôn. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Ngọc, truyện ngụ ngôn chỉ cần
mượn các con vật để diễn ra trò cũng đủ ý nghĩa và còn để phân biệt giữa truyện
ngụ ngôn với truyện cười.
3.2. Cốt truyện và kết cấu
Truyện ngụ ngôn là câu chuyện kể có tính chất thế sự . Tuy nhiên cốt truyện
của truyện ngụ ngôn khác với cổ tích ở chỗ: Cuộc đời trong ngụ ngôn gần với hiện
thực hơn trong khicuộc đời trong cổ tích gắn với lý tưởng và ước mơ
Kết cấu truyện ngụ ngôn thường ngắn, ít tình tiết thường mỗi truyện chỉ một
tình tiết trong khi câu chuyện cổ tích thường có đầu có đuôi. Nét đặc biệt trong kết
cấu của truyện ngụ ngôn là phần truyện kể nổi lên còn phần ý nghĩa lắng đọng lại
mà người đọc tự rút ra.
Kết cấu của truyện ngụ ngôn chỉ nêu ra một hoàn cảnh, một tình huống, tron
đó diễn ra một hành động của một hoặc một vài nhân vật, nhằm minh hoa cho một
ngôn và những câu tục ngữ có ý vị ngụ ngôn (mật ngọt chết ruồi, giậu đổ bìm leo,
thừa nước đục thả câu…).
Kết cấu hàm súc của truyện ngụ ngôn đã tự tạo cho nó đầy đủ ý nghĩa mà
không ai có thể di dịch hay bình phẩm được nữa, chỉ có thể từ đó rút ra bài học.
3.3. Nghệ thuật Ẩn dụ
Truyện ngụ ngôn thường dùng những ẩn dụ thông qua ngôn ngữ hàm súc.
Tác giả dân gian còn miêu tả đặc điểm phổ biến của các con vật để biểu trưng cho
con người . Từng con vật tiêu biểu cho từng loại người trong xã hội. Chẳng hạn,
cáo xảo quyệt, mèo giả dối ...
3.4. Xung đột trong truyện ngụ ngôn.
Trong truyện cổ tích, xung đột của nhân vật được biểu hiện thông qua hành
động. Đó là sự đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cái tốt với cái xấu. Xung đột tiêu
Đoàn Thị Kim – Trường THCS Phan Sào Nam
24
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 6
Năm học 2013 - 2014
biểu trong truyện ngụ ngôn là xung đột giữa cái đúng với cái sai, cái chân lí với
cái ngụy lí. Xung đột trong truyện ngụ ngôn biểu hiện ở lí lẽ hành động, triết lí
ứng xử của nhân vật.
Truyện ngụ ngôn Con hươu chỉ có 1 nhân vật, nó không có mâu thuẫn hay
xung đột với bất kì con vật nào khác ngoài chính bản thân nó. Con hươu tự hào
với cặp sừng đồ sộ của mình vì cho rằng nó đẹp. Bị sư tử vồ vì cặp sừng vướng
vào cây không chạy thoát được. Lúc đó chân lí mà nó nhận ra: “những người có
thể cứu mình thì mình nghĩ là họ tồi, yếu ớt còn những kẻ làm mình mất đời thì
mình lại từng thích thú.” Đây là loại xung đột nằm sau hành động.