SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA TIẾT DẠY
TRUYỆN NGỤ NGÔN NGỮ VĂN 6”
PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng
Kỹ năng sống là yếu tố cần thiết trong mọi thời đại đặc biệt là trong thời kì hội
nhập. Xuất phát từ nhu cầu đó Bộ Giáo dục và Đào tạo lồng ghép kỹ năng sống vào trong
chương trình học của học sinh.
Trong “ Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020” (Dự thảo
lần thứ 14) nêu rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn
cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Giáo dục và Đào tạo phải góp phần tạo nên một thế hệ người lao động có tri thức, có đạo
đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải
quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả ở môi trưởng toàn cầu hóa,
vừa hợp tác vừa cạnh tranh”. Có thể khẳng định, mục tiêu giáo dục toàn diện không thể
đạt được nếu không giáo dục kỹ năng sống. Hơn nữa, rèn luyện kỹ năng sống cho học
sinh được xác định là một trong những nội dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Có thể nói, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, để thế hệ trẻ đáp ứng nguồn
nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, người giáo viên phải làm sao hướng
học sinh đến cách tiếp cận kĩ năng sống, kĩ năng sống thực chất là: học để biết, học để
làm gì, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống. Bởi vì mục tiêu giáo dục
hiện nay không còn là trang bị kiến thức cho học sinh như vấn đề giáo dục những năm
trước mà là cần phải trang bị năng lực cần thi đã đổi mới theo hướng phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học. Phải chăng vấn đề tích hợp kĩ năng sống
vào giảng dạy bộ môn Ngữ Văn cũng nhằm mục đích là tăng cường kĩ năng làm việc theo
nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
biết bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn và lành
mạnh của cuộc sống.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a. Đối tượng nghiên cứu
- Các biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập phần truyện ngụ ngôn cũng như
cách tích hợp giáo dục Kĩ năng sống trong một tiết dạy truyện ngụ ngôn sao cho đạt hiệu
quả tốt đối với học sinh khối lớp 6 – trường THCS Phan Sào Nam – Phù Cừ - Hưng Yên.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Khả năng tiếp nhận kiến thức trong các văn bản truyện ngụ ngôn đối với học sinh
lớp 6 – trường THCS Phan Sào Nam – Phù Cừ - Hưng Yên.
- Quá trình giảng dạy phần truyện ngụ ngôn, quá trình tích hợp nội dung này với
giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh của giáo viên Ngữ văn.
B. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Vấn đề tích hợp trong dạy học ngữ văn trung học cơ sở là một trong những nội
dung đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học trong chương trình sách giáo khoa
mới mà chúng ta đã thực hiện trong những năm qua. Tích hợp các nội dung giảng dạy đối
với các bộ môn khoa học xã hội là mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất của nội
dung – tư duy – tư tưởng, luôn tiềm ẩn và rất linh hoạt. Trong chương trình giảng dạy,
giáo viên Ngữ văn không chỉ cần có sự tích hợp nội dung kiến thức, kĩ năng của ba phân
môn Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn mà còn phải tích hợp nội dung kiến thức, kĩ năng
của các môn học khác có liên quan, các vấn đề trong thực tiễn đời sống và đặc biệt là các
nội dung giáo dục thái độ tư tưởng cho học sinh một cách linh hoạt, uyển chuyển và tinh
tế.
Đứng trước sự phát triển nhanh chóng của nhiều lĩnh vực xã hội thì giáo dục thời
đại mới đã và đang phấn đấu đổi mới về nội dung, chất lượng và phương pháp sao cho
đạt được 2 mục tiêu lớn là đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo kỹ năng sống cho học sinh.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt đuợc của toàn ngành thì gần đây chúng ta
thường thấy thực trạng trẻ vị thành niên có xu hướng gia tăng về bạo lực học đường, về
phạm tội, về liều lĩnh, ứng phó không lành mạnh, dễ mắc các tai tệ nạn xã hội, sống ích
cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chon những giá trị, phải đương đầu với những
khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, nếu
thiếu kĩ năng sống, các em sẽ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực và lối sống ích
kĩ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Chính vì vậy vấn đề giáo
dục kĩ năng sống và tích hợp giáo dục Kĩ năng sống vào các môn học trong đó có môn
Ngữ Văn rất được quan tâm.
- Việc tổ chức giáo dục kĩ năng sống trong trường THCS được tiến hành thông qua môn
học (nội khoá, ngoại khoá), thông qua việc dạy học tự chọn, qua hoạt động ngoài giờ lên
lớp và hoạt động câu lạc bộ cũng không còn xa lạ với giáo viên bởi họ đã được làm quen
với cách thức tổ chức này (qua các đợt tập huấn tích hợp một số mặt giáo dục khác của
Sở giáo dục, Phòng giáo dục ). Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc đưa
hoạt động giáo dục này vào nhà trường.
- Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục kĩ năng sống với các hoạt động giáo dục vốn đã được
lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ môi trường,
phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật,… sẽ tạo nhiều cơ hội và điều kiện để triển khai
giáo dục kĩ năng sống;
- Nhìn chung hầu hết các giáo viên nói chung và giáo viên Ngữ Văn nói riêng đã bước
đầu làm quen với thuật ngữ “kỹ năng sống”, mặc dù mức độ hiểu biết có khác nhau.
- Một số hoạt động giáo dục Kĩ năng sống đã được đa số các trường chú ý thực hiện
trong khuôn khổ và yêu cầu của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích
cực” do Bộ GD và Ðào tạo phát động.
- Giáo dục Kĩ năng sống từ nhà trường cũng như qua các phương tiện thông tin đại chúng
đã thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của xã hội, của phụ huynh HS.
- Hình thực tổ chức giáo dục Kĩ năng sống đã bước đầu được thực hiện trong một số môn
học, thông qua hoạt động ngoại khoá và sinh hoạt câu lạc bộ với nội dung khá đa dạng.
- Văn học là nhân học, từ trước đến nay đây vẫn là một bộ môn thuận lợi để “ thay thái
độ, đổi hành vi” của trẻ một cách dễ nhất thông qua các bài học ý tứ, sâu sắc mà lại rất
nhẹ nhàng.
- Lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống cho đối tượng học sinh lớp 6 – một lớp đối tượng khá
non nớt nhưng cũng đủ nhận thức để rèn luyện các kĩ năng cho bản thân mình là khá phù
giáo dục kĩ năng sống một cách đầy đủ và bài bản.
3. Kết luận
Trước những yêu cầu hết sức thiết thực, bản thân tôi đang trực tiếp giảng dạy môn
Ngữ Văn 6, luôn trăn trở để làm sao từ những câu truyện ngụ ngôn quen thuộc, các em
học sinh không chỉ thấy được những bài học sâu sắc cho mình mà còn tự rút ra và rèn
luyện được những Kĩ năng sống cho bản thân một cách tốt nhất để các em có thể tự tin
thể hiện mình trước đám đông, biết cách xử lí các tình huống đơn giản hay phức tạp, thể
hiện khả năng tiềm ẩn của mình và phát triển một cách toàn diện trong xã hội năng dộng
và hiện đại ngày nay. Từ những kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình thực hiện đề
tài, tôi mong muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp nhằm đóng góp phần nào kinh nghiệm
giáo dục cho con em chúng ta trở thành những con người toàn diện, năng động, sáng tạo
hòa nhập cùng cộng đồng, và có ích cho xã hội.
III. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, lý luận
- Nhằm hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề lý luận có tính liên quan đến khả năng
tiếp nhận các kiến thức Ngữ văn nói chung và phần truyện ngụ ngôn nói riêng trong Ngữ
văn lớp 6 bằng cách sưu tầm tài liệu, sách báo, truy cập Internet….
- Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về vấn đề
giáo dục và giáo dục KNS cho học sinh THCS, phân tích, tổng hợp những tư liệu, tài liệu
lý luận về giáo dục KNS.
2. Phương pháp quan sát
Nhằm chính xác hóa và phong phú thêm các số liệu đã thu được bằng cách quan sát sự
học tập của học sinh trong các giờ học truyện ngụ ngôn.
3. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động của học sinh
Nhằm hỗ trợ cho phương pháp Anket, thông qua các bài kiểm tra, bài tập về nhà, điểm
tổng kết…thông qua những đề cương, dàn ý của học sinh…từ đó thu thập được thông tin
nhằm hỗ trợ cho phương pháp điều tra.
4. Phương pháp đàm thoại
Nhằm chính xác hóa các số liệu điều tra về thực trạng nâng cao hiệu quả việc tích hợp
giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy truyện ngụ ngôn trong Ngữ văn lớp 6.
- Từ việc hướng dẫn của giáo viên, với những truyện ngụ ngôn khác mà các em đọc
thêm được, bản thân các em cũng có thể rút ra các bài học giá trị và các kĩ năng sống cần
thiết cho mình.
3. Thái độ
- Tán thành với ý nghĩa của ba truyện ngụ ngôn đã học và đọc thêm.
- Thêm yêu truyện ngụ ngôn nói riêng và phần Văn học dân gian nói chung.
- Trân trọng những câu truyện ngụ ngôn đã được học và những kí năng sống học
được từ truyện ngụ ngôn ấy.
- Thấy được ý nghĩa của giáo dục kĩ năng sống, để từ đó có thái độ tích cực và hợp
tác khi được học nội dung này không chỉ trong môn Ngữ văn mà với tất cả các môn học
khác.
* Tóm lại: Khi viết giải pháp này, tôi muốn các đồng nghiệp chia sẻ cùng tôi những
kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi bàn luận để tìm ra biện pháp thiết thực, khả thi nhất
nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục trong giảng dạy môn Ngữ văn bậc
trung học cơ sở theo chuẩn kiến thức, kĩ năng đã ban hành và mục tiêu giáo dục chung là
mỗi giáo viên văn sẽ góp phần đào tạo cho đất nước những thế hệ học sinh, không chỉ có
hiểu biết về tri thức mà còn giàu có về cảm xúc, có tâm hồn trong sáng, nhân ái, biết
vươn tới Chân – Thiện – Mĩ mà đặc biệt còn thành thục các kĩ năng sống cần thiết để có
một nền tảng cơ bản thích ững với cuộc sống ngày càng hiện đại hiện nay. Đây cũng là
những yêu cầu quan trọng để các em hình thành những thói quen và nếp sống, giúp các
em để trở thành những công dân tốt biết sống và làm việc cống hiến cho đất nước.
B. GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
I. Một số thuật ngữ liên quan
a. Kĩ năng
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều
khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh
trong cuộc sống.
b. Kĩ năng sống ( KNS )
Khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo tồ chức UNESCO định
nghĩa " kỹ năng sống" là: khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có
Giáo dục – 1998): truyện ngụ ngôn (hay ngụ ý) là một loại truyện dân gian mang tính
chất ngụ ý, nói bóng, hay ám chỉ ( phúng dụ) nhằm nêu lên những bài học triết lí, luân lí,
hay một kinh nghiệm sống dưới một hình thức kín đáo.
- Theo Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6, truyện ngụ ngôn là loại truyện kể bằng văn xuôi
hoặc văn vần, mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió,
kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc
sống.
II. Các tác phẩm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phần truyện ngụ ngôn trong Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6 được trích giảng bào
gồm:
- Ếch ngồi đáy giếng
- Thầy bói xem voi
- Đeo nhạc cho mèo ( Phần giảm tải, giáo viên vẫn có thể sử dụng để liên hệ)
- Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng ( Đọc thêm )
III. Khái quát tình hình nghiên cứu đề tài
Để thực hiện thành công đề tài này, trước hết tôi khái quát chung địa bàn khảo sát:
- Trường THCS Phan Sào Nam là một trường có bề dày thành tích dạy và học, năm học
2009 – 2010, trường được công nhận là trường Chuẩn quốc gia với 8 lớp học và đầy đủ
các phòng bộ môn.
- Năm học 2013 – 2014, trường có 230 học sinh. Khối lớp 6 gồm 2 lớp với 73 học sinh.
Nhìn chung trình độ nhận thức và kĩ năng của các em không đồng đều, có sự chênh lệch
giữa các em ngay trong một lớp.
- Thực tế, môn Ngữ Văn là một môn học quan trọng của các em, nhưng cũng khẳng định
rằng đây là một môn học không dễ chút nào. Việc học Ngữ văn đã khó, học phần Văn
học dân gian cách thời điểm hiện tại các em đang sống quá xa lại càng khó. Hơn nữa
truyện ngụ ngôn lại là một mảng đòi hỏi các em phải có sự suy luận, có sự hiểu biết sau
đó lại phải tích hợp với nội dung giáo dục kĩ năng sống, điều này không hề đơn giản,
nhất là với đối tượng học sinh lớp 6 còn quá non nớt và chưa có nhiều hiểu biết về thực
tế. Do vậy, cả thầy và trò cùng phải cố gắng rất nhiều để các em không chỉ cảm nhận và
tiếp thu được hết cái hay cái đẹp của mỗi tác phẩm ngụ ngôn, mà còn biết rút ra các bài
chỉ được nhắc đến khi thật cần thiết, hành động xảy ra như không có bối cảnh; nhân vật
không có nét ngoại hình, tính cách, mà hiện ra như những chủ thể của sự lựa chọn đạo lý.
Từ cuối thế kỷ 19, một loạt nhà văn đã xem sự súc tích, kiệm lời của ngụ ngôn là
mẫu mực cho sáng tác của mình, như Lep Tolstoi cuối đời đã bắt tay thực hiện ý đồ gò
văn xuôi vào quy luật của ngụ ngôn.
Thời hiện đại nhiều nhà văn chú ý dựa vào các truyền thống ngụ ngôn đã đưa tới sự
xuất hiện những tác phẩm kịch và tiểu thuyết được gọi là parabole. Về cấu trúc bên trong,
ở những tác phẩm này có hình tượng bóng gió, ngụ ý, kiểu hình tượng hướng tới tượng
trưng; chú trọng lối nói bóng gió đa nghĩa (khác với tính đơn nghĩa của phúng dụ và cũng
khác với bình diện sau vốn mang nghĩa một chiều của ngụ ngôn cổ và trung đại. Sự súc
tích về nội dung, khả năng mang nhiều tầng hàm nghĩa của ngụ ngôn đã trở thành hấp lực
đối với nhiều nhà văn như F. Kafka với “Vụ án”, H. Hesse với “Chuỗi ngọc thủy tinh”, E.
Hemingway với “Ông già và biển cả”, Abe Kobo với “ Người đàn bà trong cồn cát”
Thi pháp ngụ ngôn mở rộng sang kịch và các tiểu thuyết luận đề, được thực hiện bởi
những nhà văn muốn thoát khỏi quan niệm truyền thống về tính cách và hoàn cảnh, trong
số này có nhiều nhà văn hiện sinh như J. P. Sarche, A. Camus, G. Marcel, B. Brecht, W.
Faulkner …
Dấu hiệu về cấu trúc và nội dung ngụ ngôn cũng bộc lộ tới các loại hình nghệ thuật
khác như điện ảnh (bộ phim “Dấu ấn thứ bảy” của Ingmar Bergman; các bộ phim hoạt
hình như “Tom và Jerry”, “Hãy đợi đấy”; tranh “Gernica” của P. Picasso; một số tác
phẩm thuộc thể loại truyện tranh thiếu nhi như “Đô rê mon” …
Ở Việt Nam, ngụ ngôn dân gian tồn tại và nhiều truyện đã trở thành điển cố văn
học, như “Đẽo cày giữa đường”, “Thầy bói xem voi” v.v. Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc
trong “Truyện cổ nước Nam” có chép một số ngụ ngôn dân gian. Trong văn học viết có
thể kể đến những tác phẩm như “Truyện hai ông Phật cãi nhau” trong “Thánh Tông di
thảo”, các truyện “Lục súc tranh công”, “Trinh thử” …
Hiểu một cách đơn giản hơn thì nguồn gôc của truyện ngụ ngôn chính là do một bộ
phận truyện ngụ ngôn bắt nguồn từ truyện loài vật. Trong quá trình sống gần gũi với tự
nhiên và chưa hoàn toàn tách mình ra khỏi tự nhiên, người cổ đaị đã từng quan sát, tìm
hiểu các con vật (để dễ săn bắt và tự vệ) . Cũng do sự phân biệt giữa con người và tự
Mắt, Miệng)….
c.Triết lý dân gian trong truyện ngụ ngôn.
Truyện ngụ ngôn là một tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt nam. Qua truyện
ngụ ngôn, những tư tưởng triết học (trình độ nhận thức, tư duy, lối sống, những quan
niệm của người Việt về thế giới, về các sự vật hiện tượng ) được thể hiện một cách
phong phú mà tinh tế. Điều quan trọng là truyện ngụ ngôn đã làm cho những vấn đề
triết lý, luân lý, đạo đức tưởng chừng rất khô khan, nặng nề trừu tượng trở nên gần
gũi, sinh động và dễ hiểu, dễ cảm, dễ tiếp thu
Truyện ngụ ngôn nêu lên những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn cuộc sống. Những
kinh nghiệm này tuy chưa là ý niệm triết học đích thực nhưng là những bài học bổ ích.
Chẳng hạn, truyện ngụ ngôn khuyên con người nên đứng đúng vị trí của mình (Qụa mặc
lông công ), sống cần có lập trường (Ðẽo cày giữa đường ), tác hại của óc xa rời thực tế
(Chị bán nồi đất ), nêu lên sức mạnh của sự đòan kết ( Chuyện bó đũa )… Có những kinh
nghiệm sống của nhân dân đã được truyện ngụ ngôn khái quát lên thành những quan
niệm triết học. Ðó có thể là quan niệm về tính tương đối của sự vật hiện tượng trong tự
nhiên và xã hội (Mèo lại hoàn mèo ) sự vận động và phát triển của thế giới theo qui luật
khách quan Chính vì vậy mà so với cổ tích và truyện cười thì truyện ngụ ngôn thiên về
giáo dục hơn. Các nhà tư tưởng lớn của nhân loại, ở phương Đông cũng như phương Tây,
thời cổ đại cũng như thời hiện đại đều hay dùng hình thức ngụ ngôn để phát biểu như
Thích Ca, Lão Tử, Manh Tử, Xôcơrat…. Ở nước ta, Bác Hồ đã dùng hình thức ngụ ngôn
rất nhiều, bao gồm cả thơ ca và truyện kể ngụ ngôn như: Bài ca sợi chỉ, Hòn đá to, hòn
đá nặng…
3. Đặc điểm thi pháp truyện ngụ ngôn
3.1. Nhân vật
Nhân vật trong ngụ ngôn rất đa dạng, có thể là bất cứ cái gì trong vũ trụ: từ con
người , thần linh đến loài vật, cây cỏ Nhân vật trong truyện ngụ ngôn được xây dựng
qua sự đối lập giữa thông minh và ngu ngốc, tốt bụng và xấu xa, bé nhỏ và to lớn.
a. Nhân vật chính trong truyện ngụ ngôn thường là loài vật.
Nhìn bề ngoài, các con vật trong truyện ngụ ngôn không khác các con vật trong
truyện cổ tích loài vật: chúng cũng biết nói tiếng người, có khả năng ứng xử, có tâm tính
lông vằn của hổ và hàm răng dưới của trâu.
Truyện ngụ ngôn không nhằm kể chuyệ về loài vật mà chỉ mượn chuyện về loài vật
để nói về con người và xã hội loài người. Các con vật trong truyện ngụ ngôn không bao
giờ được miêu tả kĩ về đặc điểm và nhiều về hành động. Ví dụ: truyện Con công không đi
kể chi tiết vì sao công có bộ lông đẹp hay tác dụng của bộ lông công mà chỉ quan tâm đến
việc công sẽ che chở thế nào cho các loài chim nếu nó được làm vua.
b. Nhân vật trong truyện ngụ ngôn đôi khi là những thứ khác.
Không chỉ các con vật mà cả những vật vô tri vô giác cũng được mượn vào truyện
ngụ ngôn. Đôi khi đó là cây cỏ hoa quả (Cây sậy và cây ô liu), các vật vô tri, những điều
vô hình vạn trạng, thân thể con người và n hững bộ phận trên thân thể người, tính nết,
mượn cả thần phật, ma quỷ, hay tạo hóa (Gió và mặt trời, Người cha và các con trai,
Ông già và thần chết…).
Tuy nhiên, sau này Arixtốt chỉ thừa nhận các con vật là nhân vật trong truyện ngụ
ngôn. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Ngọc, truyện ngụ ngôn chỉ cần mượn các con
vật để diễn ra trò cũng đủ ý nghĩa và còn để phân biệt giữa truyện ngụ ngôn với truyện
cười.
3.2. Cốt truyện và kết cấu
Truyện ngụ ngôn là câu chuyện kể có tính chất thế sự . Tuy nhiên cốt truyện của
truyện ngụ ngôn khác với cổ tích ở chỗ: Cuộc đời trong ngụ ngôn gần với hiện thực hơn
trong khicuộc đời trong cổ tích gắn với lý tưởng và ước mơ
Kết cấu truyện ngụ ngôn thường ngắn, ít tình tiết thường mỗi truyện chỉ một tình tiết
trong khi câu chuyện cổ tích thường có đầu có đuôi. Nét đặc biệt trong kết cấu của truyện
ngụ ngôn là phần truyện kể nổi lên còn phần ý nghĩa lắng đọng lại mà người đọc tự rút ra.
Kết cấu của truyện ngụ ngôn chỉ nêu ra một hoàn cảnh, một tình huống, tron đó diễn
ra một hành động của một hoặc một vài nhân vật, nhằm minh hoa cho một điều răn dạy
nào đó. Xung đột không có quá trình hình thành, nó chỉ diễn ra trong một hành động. Đặc
trưng này tạo nên kiểu kết cấu tiêu biểu một màn kịch của truyện ngụ ngôn. Nó gần giống
như quy tắc “tam duy nhất” của kịch cổ điển.
Nét đặc trưng của kiểu kết cấu này:
- Tình huống, hoàn cảnh được chỉ dẫn cụ thể .
của mình vì cho rằng nó đẹp. Bị sư tử vồ vì cặp sừng vướng vào cây không chạy thoát
được. Lúc đó chân lí mà nó nhận ra: “những người có thể cứu mình thì mình nghĩ là họ