SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG QUA CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM
Người thực hiện : Hoàng Thị Lệ
Chức vụ : Giáo viên giảng dạy
SKKN thuộc lĩnh vực: Giáo dục công dân
THANH HÓA NĂM 2013
1
MỤC LỤC
Đặt vấn đề Trang3
Giải quyết vấn đề Trang4
Cơ sở lý luận Trang4
Thực trạng trước khi thực hiện đề tài Trang 5
Các biện pháp tiến hành giáo dục Trang 6
Những yêu cầu sư phạm đối với GVCN Trang 6
Những kỹ năng cần giáo dục cho HS Trang 6
Những biện pháp để giáo dục kỹ năng cho HS Trang 7
Kiểm nghiệm Trang 16
Kết luận và đề xuất Trang 18
2
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Báo giáo dục và thời đại:
2.Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm( NXB Hà Nội).
3.Kỹ năng sống (UNICEF)
4.Hoạt động giáo dục giá trị sốngvà kỹ năng sống cho học sinh trung
KNS một cách đầy đủ, để có thể đương đầu với sự biến động và cám dỗ trong
xã hội hiện nay. Do vậy việc giáo dục KNS cho HS là rất cần thiết.
Thực tế cho thấy việc giáo dục KNS trong nhà trường chưa được quan tâm
đúng mức, mới chỉ dừng lại ở bộ môn GDCD và một số buổi sinh hoạt tập thể.
Do vậy, chưa đáp ứng được mục tiêu của Bộ Giáo Dục đề ra.
Để giáo dục KNS cho HS cần có sự phối hợp của gia đình- nhà trường và
xã hội. Một trong những yếu tố góp phần quan trọng để hoàn thành mục tiêu
này là đội ngũ GV. Đặc biệt là GVCN.
Có thể nói GVCN là người đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa
nhà trường với HS, là người gần gũi, tiếp xúc thường xuyên với HS. Là kênh
truyền đạt những mong muốn, suy nghĩ của các em tới BGH nhà trường và
ngược lại.Trong tuần GVCN có ít nhất một buổi sinh hoạt lớp vào cuối tuần để
gặp gỡ, trao đổi với HS. Hiện nay Trường THPT Triệu Sơn I có chủ trương
GVCN tham gia sinh hoạt 15 Phút đầu giờ cùng với HS. Như vậy, thời gian để
GVCN tiếp xúc với học sinh nhiều hơn. Nhưng hầu hết các buổi sinh hoạt đều
diễn ra khô khan và cứng nhắc, chủ yếu là xử lý các trường hợp vi phạm. Thời
gian sinh hoạt 15 phút đầu giờ thì diễn ra nhàm chán, lặp đi lặp lại như; tập hát,
chữa bài tập…
Từ những vấn đề nêu trên, với tư cách là một người GV, nhất là GVCN, tôi
nhận thấy việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh có ý nghĩa quan trọng.
Do vậy tôi chọn đề tài “ Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT qua công
tác chủ nhiệm” 4
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Trên thế giới đã tồn tại nhiều khái niệm, nhiều định nghĩa khác nhau về
KNS, mỗi định nghĩa, mỗi khái niệm được thể hiện dưới những hình thức khác
nhau. Thông thường, KNS được hiểu là những kỹ năng thực hành mà con
học công nghệ và vững vàng, tự tin bước tới tương lai. Cụ thể là:
- Trong quan hệ với chính mình: Giáo dục KNS giúp HS biết gieo những kiến
thức vào thực tế để gặt hái những hành động cụ thể và biến hành động thành thói
quen, rồi lại gieo những thói quen tích cực để tạo ra số phận cho mình.
- Trong quan hệ với gia đình: Giáo dục KNS giúp HS biết kính trọng ông
bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi ốm đau, động viên,
an ủi nhau khi gia quyến có chuyện chẳng lành…
5
- Trong quan hệ với xã hội: Giáo dục KNS giúp HS biết cách ứng xử thân
thiện với môi trường tự nhiên, với cộng đồng như: có ý thức giữ gìn trật tự an
toàn giao thông; giữ vệ sinh đường làng, ngõ phố; bảo vệ môi trường thiên
nhiên…Từ đó, góp phần làm cho môi trường sống trong sạch, lành mạnh, bớt đi
những tệ nạn xã hội, những bệnh tật do sự thiếu hiểu biết của chính con người
gây nên; góp phần thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực để hài hoà
mối quan hệ giữa nhu cầu – quyền lợi – nghĩa vụ trong cộng đồng.
Do những ý nghĩa đặc biệt nêu trên, việc giáo dục hình thành nhân cách
cho HS nói chung và đối với giáo dục KNS nói riêng ngày càng trở nên quan
trọng và cấp thiết.
Tuy nhiên, việc giáo dục kỹ năng sống chưa được quan tâm đúng mức
trong nhà trường, chưa đáp ứng được nhu cầu rèn luyện kỹ năng cho các em.
Vì vậy, vai trò của GVCN rất quan trọng trong việc giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh.
II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.
1. Thuận lợi:
a: Về phía giáo viên: -Rèn luyên kỹ năng sống cho HS là một trong những
chương trình trọng điểm của Bộ Giáo Dục. Do vậy được áp dụng cho tất cả
các môn học, cấp học.
-Nhà trường đang thực hiện phong trào thi đua xây dựng “ Trường học thân
thiện, học sinh tích cực”. Trọng điểm của phong trào là rèn luyện KNS cho
HS.
Làm chủ nhiệm là một “ nghệ thuật”, nếu không có sự nhiệt tình sẽ không đem
lại kết quả như mong muốn. Khi xác định được vai trò của mình GVCN sẽ gần
gũi được HS, chiếm được cảm tình từ phía HS, từ đó sẽ có những biện pháp
thiết thực để hoàn thành nhiệm vụ của mình.
GVCN phải biết lập được kế hoạch chủ nhiệm cho riêng mình để có thể
giáo dục được KNS cho HS. Căn cứ vào kế hoạch chung của Sở GD, của nhà
trường, đặc điểm của lớp, của địa phương GVCN phải lập được cho mình một
kế hoạch cụ thể, chi tiết, khoa học cho từng tuần, từng tháng và trong cả năm
học. Phải biến việc giáo dục KNS cho HS thành một thói quen, thành kỹ năng
của mình trong suốt quá trình làm công tác chủ nhiệm.
GVCN phải là tấm gương cho HS soi vào về đạo đức, lối sống, hành vi. Có
thể nói; để giáo dục được HS thì người GV nói chung và GVCN nói riêng phải
là người biết dùng nhân cách của mình để dạy HS “Dùng nhân cách để giáo
dục nhân cách”. GVCN phải là người có tấm lòng khoan dung, độ lượng, là
quan toà mẫu mực trong khi giải quyết tình huống. Đặc biệt, GVCN phải hết
lòng thương yêu HS, xem HS như con, em của mình, phải mở lòng mình với
HS, có như vậy GVCN mới được học sinh tin tưởng, gần gũi, gửi gắm tâm sự.
Đây cũng là kênh thông tin quan trọng để GVCN có phương pháp tốt để giáo
dục đạo đức và KNS cho HS.
GVCN phải là người có năng lực quản lý và năng lực tổ chức. Không phải
lúc nào GVCN cũng ở trên lớp cùng với HS. Do vậy, GVCN phải xây dựng đội
ngũ cán sự lớp có năng lực và trách nhiệm, điều hành một tập thể tự quản.
GVCN còn phải biết ứng xử, giải quyết đúng các mối quan hệ giữa HS đối với
nhau, giữa HS với GV, giữa GV bộ môn đối với GVCN, giữa GVCN với Đoàn
thanh niên, với cha mẹ HS. Thầy cô chủ nhiệm phải là cầu nối quan trọng
kết nối ba môi trường giáo dục; gia đình, nhà trường và xã hội.
2. NHỮNG KỸ NĂNG CẦN GIÁO DỤC CHO HỌC SINH
Có rất nhiều kỹ năng cần giáo dục cho học sinh, trong phạm vi đề tài này tôi
xin đưa ra phương pháp giáo dục một số KNS như sau:
• Kỹ năng tự nhận thức giá trị bản thân
làm tốt những việc sau:
- Phải tạo ra một không khí thảo luận cởi mở, tôn trọng lẫn nhau giữa HS với
nhau.
- Vấn đề được đưa ra để HS thảo luận phải phù hợp với lứa tuổi, phải khơi
gợi được khả năng tư duy phê phán, khả năng sáng tạo của HS.
Ví dụ1:
*Khi giáo dục kỹ năng “tự nhận thức giá trị bản thân”. GVCN cho HS tiến
hành các hoạt động nhóm trong các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ
Hoạt động : Chia sẻ về tự nhận thức bản thân
GV phát các tờ rơi in sẵn mệnh đề
- Sở thích của em là gì?(đọc báo, xem TV, xem bóng đá )
- Cuốn truyện/ sách, chương trình TV mà em thích nhất.
- Điểm mạnh và năng khiếu của em là gì?
8
- Ai là người bạn thân nhất của mình? Người đó như thế nào?Có đặc điểm
gì nổi bật?
- Mình muốn làm nghề gì trong tương lai? GV chia lớp thành những nhóm
nhỏ gồm có 3 người mỗi em tự suy nghĩ và điền vào tờ rơi trong vòng 5
phút, sau đó chia sẻ với những bạn trong nhóm mình.
Tiếp theo GVCN cho đại diện các nhóm trình bày những quan điểm chung
của các thành viên trong nhóm mình, chia sẻ với các nhóm khác?
Ví dụ 2:
*Khi giáo dục kỹ năng kiên định, trong các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ
GVCN cho HS tiến hành hoạt động: Tranh luận đôi bên.
GVCN chia lớp thành hai nhóm: Yêu cầu các em đưa ra các tình huống lôi
kéo của bạn bè hay gặp nhất( hút thuốc, trốn học, chơi điện tử ). Phân một
nhóm chuẩn bi lý lẽ ủng hộ ý kiến (nên hút thuốc), một nhóm chóng lại ý kiến
(không nên hút thuốc).Để hai nhóm chuẩn bị lý lẽ trong vòng 7 phút. Sau đó
cho hai nhóm tranh luận, chất vấn.
Sau khi HS tranh luận xong GVCN hướng dẫn HS đi đến thống nhất ý kiến
dung phù hợp với thời gian ngắn, hấp dẫn, ít gây sự xáo trộn trong tổ chức lớp.
Ví dụ:
Khi giáo dục kỹ năng tư duy phê phán, GVCN tổ chức cho HS chơi trò chơi
“cùng nhau viết tiếp câu chuyện” trong vòng 15 phút. Cho HS đứng thành
vòng tròn trong lớp, GVCN ra nhan đề cho câu chuyện như “ Tôi học như thế
nào”. Sau đó GVCN cho một em viết câu mở đầu như “trước tiên tôi học bằng
chính nghị lực của mình”. Sau đó chuyền cho các em tiếp theo viết tiếp các câu
sau theo logic của câu trước thành một câu truyện.
3.1.2: Tổ chức tốt các buổi sinh hoạt cuối tuần:
Phần lớn các tiết sinh hoạt chủ nhiệm hiện nay chủ yếu được thực hiện
dưới hình thức là tổng kết, đánh giá và đề ra phương hướng tuần tới. Hình thức
sinh hoạt này dễ gây cho học sinh sự nhàm chán, đặc biệt là gây áp lực về các
lỗi mà các em mắc phải trong tuần qua. Vì lẽ đó mà một số em cảm thấy không
thích tiết sinh hoạt chủ nhiệm, thậm chí là sợ hãi. Người thầy chủ nhiệm trong
quá trình đánh giá ưu khuyết điểm của học sinh trong tuần vừa qua thường chủ
quan xem việc vi phạm nội quy và những biểu hiện chưa tốt của học sinh là do
các em không cố gắng, đôi khi xem đó là biểu hiện đạo đức không tốt. Biện
pháp thường được áp dụng là xử lí kỉ luật, làm tờ tự kiểm và đôi lúc là hạ hạnh
kiểm.
Điều này dễ dẫn đến việc học sinh không tin vào thầy cô, bạn bè và có khi
là không tin vào bản thân mình. Các em cần sự hướng dẫn và giáo dục của giáo
viên chủ nhiệm. Trong tiết sinh hoạt lớp, GVCN sẽ cung cấp cho học sinh
những hiểu biết thông qua các hoạt động sinh hoạt chuyên đề sinh động và vui
nhộn. Sự sinh động và hứng thú của việc được tham gia vào các hoạt động có
liên quan sẽ giúp học sinh nâng cao ý thức một cách tự nhiên và dễ dàng. Cũng
nhờ vào các hoạt động này cùng với sự tin tưởng và sẻ chia của thầy cô mà các
em sẽ có được niềm tin, định hướng và nghị lực để phát triển nhân cách.
Thứ nhất: GVCN xử lý hành vi vi phạm của HS phải gắn việc giáo dục
kỹ năng sống , xử lý khoa học, nhẹ nhàng nhưng phải nghiêm khắc, gắn
với kỷ luật.
rút ra được kỹ năng khi xử lý tình huống cho mình.
Ví dụ 3:
Vào buổi sinh hoạt cuối tuần, khi xử lý hai HS trong giờ học đã có hành vi
đánh nhau. Tôi dùng phương pháp phát vấn, để hỏi hai HS: Vì sao lại dẫn dến
xung đột giữa hai người? Nếu bình tĩnh như bây giờ em có hành động như
vậy không? Em sẽ xử lý như thế nào? Sau khi cho HS trình bày ý kiến của
mình GV tổng kết lại và phổ biến trước lớp kỹ năng giải quyết xung đột như:
kiềm chế cảm xúc, sử dụng kỹ năng thư giãn ( như thở vào, hít ra, nói ra cảm
xúc của mình bằng giọng kiên định nhưng nhẹ nhàng). Cuối cùng tôi cho hai
HS giảng hoà với nhau và mỗi bạn viết một bản kiểm điểm trình bày trước lớp
về hành vi sai trái của mình.
Thứ hai: Thông qua các buổi sinh hoạt cuối tuần GVCN có thể lồng
ghép các chuyên đề giáo dục KNS cho học sinh
Trong giờ sinh hoạt cuối tuần GVCN dành 15 hoặc 20 phút để tổng kết tuần
và đề ra phương hướng cho tuần sau, hoặc xử lý học sinh vi phạm. Thời gian
còn lại( hoặc có thể là cả buổi tuỳ theo công việc của tuần ít hay nhiều) GVCN
có thể lồng ghép các chuyên đề giáo dục KNS cho HS. GVCN có thể dùng các
phương pháp sau:
31 2.1: Phương pháp “trò chơi”:
Những ưu điểm và nhược điểm của phương pháp này tôi đã trình bày ở trên.
Để thành công khi áp dụng phương pháp này trong buổi sinh hoạt cuối tuần
GVCN cần phải làm tốt công việc sau:
GVCN phải đưa ra trò chơi mang tính cộng đồng, tập thể, kích thích khả
năng tư duy, động não của các em.
11
GVCN phải tìm ra một người điều khiển trò chơi có khả năng giao tiếp tốt
và đóng vai trò như một MC để dẫn dắt trò chơi.
GVCN nên áp dụng phương pháp này nhiều trong các buổi sinh hoạt cuối
tuần.
Ví dụ1:
Minh đúc kết thành một chân lý, bài học lịch sử của dân tộc ta trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc!. Nếu HS vẫn chưa đoán được. GV đưa ra gợi ý
cuối cùng. Cụm từ này bắt đầu bằng chữ Đ!
31 2.2: Phương pháp thuyết trình kết hợp với các phương pháp khác.
Áp dụng phương pháp này trong buổi sinh hoạt cuối tuần sẽ giúp cho
GVCN và HS có thời gian trò chuỵện, trao đổi với nhau nhiều hơn, giúp HS
hiểu được các KNS có ý nghĩa với con người như thế nào.
12
Tuy nhiên áp dụng phương pháp này dễ gây cho HS sự nhàm chán nếu
GVCN không khéo léo kết hợp tốt với các phương pháp khác. Do vậy, GVCN
phải lựa chọn các phương pháp tạo ra sự thu hút và nhu cầu muốn tìm hiểu ở
HS.
Ví dụ:
Để giáo dục kỹ năng “ giải quyết vấn đề và ra quyết định”. GVCN đọc cho
học sinh nghe mẫu truyện “ Hãy thử một cách khác” ( Hạt giống tâm hồn và ý
nghĩa cuộc sống). Câu chuyện kể về một chú ruồi cố tìm cách thoát thân bằng
cách chui qua tấm kính của cửa sổ, mặc dù chú đã dồn hết sức lực nhưng vẫn
không qua được và cuối cùng chú đã chết. Trong khi đó chỉ cách mười buớc
chân là một cánh cửa đang rộng mở GV nhấn mạnh chi tiết “Nếu chú ruồi
không khoá chặt mình vào một lối nghĩ duy nhất và thử tìm cách khác, chú đã
tìm ra lối thoát một cách dễ dàng”.
Sau khi đọc xong, GVCN dùng phương pháp thuyết trình kết hợp với
phương pháp động não để tiến hành vói những câu hỏi sau: Em có thích mẫu
truỵên này không? Vì sao em thích? Nếu em ở trong trường hợp như chú ruồi
em sẽ làm gì để thoát thân? Tại sao em lại làm như vậy? Câu chuyện nhắc
nhở chúng ta điều gì?
Cho HS lần lượt trả lời xong, GVCN thuyết trình cho các em hiểu về ý nghĩa
của mẫu truyện. Từ đó thuyết trình cho HS hiểu về ý nghĩa của KNS giải quyết
vấn đề và ra quyết định. Năm bước căn bản để giải quyết vấn đề và ra quyết
định như; Xác định vấn đề; động não về các khả năng; đánh giá các khả năng;
và các tổ chức khác trong Nhà trường.
3.2.1:GVCN kết hợp với GV bộ môn :
Hiệu quả giáo dục của một lớp phụ thuộc một phần quan trọng vào hoạt
động và phẩm chất của giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên bộ môn. Vì vậy
giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên bộ môn phải có sự phối hợp, trao đổi
thống nhất tác động sư phạm đến học sinh thông qua một số hoạt động:- Giáo
viên chủ nhiệm thường xuyên theo dõi kết quả học tập của học sinh thông qua
giáo viên bộ môn (trao đổi trực tiếp với giáo viên bộ môn, thông qua nhận xét
đánh giá của giáo viên bộ môn ở sổ theo dõi tiết học, sổ gọi tên ghi điểm của
lớp mình quản lý) Giáo viên chủ nhiệm thông qua việc dự giờ trên lớp các
giáo viên bộ môn lớp mình quản lý để quan sát thái độ, hứng thú học tập từng
bộ môn của học sinh lớp mình chủ nhiệm Giáo viên chủ nhiệm có thể trao đổi
với giáo viên bộ môn về hoàn cảnh gia đình, sức khỏe, tâm lý,năng lực, sở
trường… của từng học sinh. Từ đó có những đề xuất với giáo viên bộ môn về
phương pháp hướng dẫn học sinh học tập và cũng thông qua đó tiếp thu những
ý kiến phản ánh của giáo viên bộ môn về lớp mình phụ trách. Bên cạnh đó,
giáo viên chủ nhiệm cũng nên nêu những nguyện vọng của lớp đối với giáo
viên bộ môn.Thông qua nhận xét của giáo viên bộ môn, kết hợp với sự theo dõi
và quan sát của giáo viên chủ nhiệm, mỗi người giáo viên chủ nhiệm sẽ tìm
được một giải pháp phù hợp với thực trạng của lớp, với việc giảng dạy kỹ năng
sống phù hợp với đặc điểm học sinh của mình.
Ví dụ:
Học sinh A có khả năng về môn toán, GVCN có thể gặp giáo viên môn toán
để phối kết hợp, có biện pháp bồi dưỡng và định hướng tương lai cho HS.
3.2.2: GVCN phối kết hợp với Đoàn thanh niên, Ban giám hiệu và các tổ
chức khác trong Nhà trường.
Trước hết GVCN phải phối kết hợp thường xuyên với Ban giám hiệu và tổ
chức Đoàn thanh niên. Dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu, một trong những
vai trò của Đoàn là đảm nhận hoạt động bề nổi như: tổ chức các hoạt động
26/3; kỷ niệm ngày 20/11 thông qua các hoạt động của đoàn GVCN có thể dễ
biểu hiện bằng những thái độ và hành vi cụ thể như: khi về nhà các em có tự
tin hơn không, có còn lúng túng khi giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc
sống không? Trong quan hệ với bạn bè, làng xóm có hoà nhập hơn không? Các
em có ý thức sống tự lập hơn không? Để tạo thành kỹ năng, phản xạ tốt thì
cần phải được rèn luyện thường xuyên, liên tục đến mức thuần thục Do đó vai
trò của gia đình là không thể thiếu và giữ vị trí hết sức quan trọng.
3.4: GVCN cung cấp cho phụ huynh HS những kiến thức cần giáo dục
kỹ năng sống cho HS thông qua các buổi họp phụ huynh:
Ở các nước phát triển, trẻ em sống độc lập, vì vậy tránh được những rủi ro
đáng tiếc. Nhưng ở Việt Nam vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức. Phần
lớn trong các gia đình vẫn còn tâm lý xem các em như là những đứa trẻ, cần
được bao bọc. Dẫn đến các em thiếu kỹ năng tự vệ, kỹ năng xử lý tình huống,
kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp Một số phụ huynh thiếu kiến thức về giáo dục
kỹ năng sống cho con em mình( nhất là các vùng nông thôn). Một số phụ
huynh do mải mê với công việc làm ăn nên lãng quên việc giáo dục con. Do
vậy trong mỗi lần họp phụ huynh, tôi thường cung cấp và tư vấn cho phụ
15
huynh HS những nội dung giáo dục KNS như; Kiến thức về giáo dục HS phù
hợp với tâm lý, lứa tuổi, đặc biệt việc phát hiện sớm biểu hiện rối loạn tâm
thần của học sinh, bệnh tật học đường, định hướng nghề nghiệp, năng khiếu
của từng HS
3.5. Xây dựng quy tắc ứng xử giữa HS với GVCN, với GV bộ môn:
Trong xã hội hiện nay, mối quan hệ thầy trò có phần thay đổi hơn so với thời
xưa. Thể hiện rõ nhất ở những khía cạnh như; dân chủ hơn, thân thiện và hoà
đồng hơn. Tuy nhiên, để việc giáo dục đạo đức và KNS cho HS có hiệu quả
hơn GVCN phải xây dựng cho lớp mình một quy chế giao tiếp và ứng xử giữa
“thầy với thầy, trò với trò”gần gũi, thân thiện, rèn luyện cho HS kỹ năng ứng
xử văn hoá, phòng chống tệ nạn xã hội, bạo lực. Tránh tình trạng thầy không ra
thầy, trò không ra trò.
GVCN phải dùng đúng ngôn từ, chuẩn mực lời nói trước học sinh, vừa
16
tượng HS, đúng đặc điểm từng lớp, đúng hoàn cảnh có như vậy thì hiệu quả
giáo dục KNS cho HS sẽ thu được hiệu quả cao hơn.
4 . KIÊM NGHIỆM :
4.1:Ưu điểm:
-Giáo dục kỹ năng cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm sẽ giúp cho tình
cảm giữa GVCN và học sinh gắn bó hơn. Thầy hiểu trò và trò cũng cảm thấy tin
tưởng, gần gũi hơn đối với thầy cô ,giúp cho GVCN dễ dàng hơn trong công tác
giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Tăng cường khả năng phối, kết hợp giữa GVCN với gia đình và các tổ chức
khác trong Nhà trường trong việc giáo dục đạo đức, rèn luyện KNS cho học sinh
-Giúp giáo viên có một thói quen giáo thường xuyên dục kỹ năng sống cho HS,
không chỉ trong lớp chủ nhiệm mà trong mỗi tiết dạy của bộ môn mình.
- Giúp cho HS có thể chủ động và tích cực hơn trong quá trình rèn luyện cho
mình một số kỹ năng thiết yếu cho bản thân một cách thường xuyên.
-Khắc phục sự nhàm chán và khô khan trong mỗi tiết sinh hoạt 15 phút đầu giờ
và buổi sinh hoạt cuối tuần.
- Học sinh thân thiện, cởi mở với nhau hơn, đoàn kết và tương trợ giúp đỡ nhau
trong quá trình học tập.
-Góp phần tích cực vào phong trào “ xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực.
4.2: Nhược điểm:
- Khi GVCN lồng ghép chương trình giáo dục KNS cho HS vào những tiết sinh
hoạt 15 phút đầu giờ, sinh hoạt cuối tuần sẽ gây ra sự ồn ào, mất trật tự cho các
lớp bên cạnh.
4.3: kết quả;
Phương pháp này tôi đã áp dụng đối với các khoá học: Lớp C5, khoá học
2010-2013.
Lớp 10C5 năm học 2010-2011: Sĩ số HS 43 trong đó 25 HS nam, 18 HS nữ:
Số HS cá biệt 13. Với đặc điểm là một lớp đông HS nam, số HS cá biệt nhiều,
- Các hoạt động bề nổi đã có 100% HS tham gia nhiệt tình
- Lớp đã có sự đoàn kết, các em hoà đồng vui vẻ, giúp đỡ nhau trong học tập.
- Về nề nếp, lớp có sự tiến bộ nhiều so với đầu năm, số lượng HS cá biệt
giảm xuống còn 4 HS, xếp thứ 8/28 lớp toàn trường.
Lớp 11C5 năm học 2012-2013: Sĩ số HS 37 trong đó 20 HS nam, 17HS nữ.
Kết quả học lực và hạnh kiểm nửa học kỳ I năm học 2012-2013:
SSố Hạnh kiểm Học lực
37
HS
Tốt Khá TB Yếu Giỏi Khá TB Yếu Kém
62,2% 29,7% 8,1% 0 0 37,8% 62,2% 0 0
-Về nề nếp: xếp thứ 5/27 lớp vào tháng 9. Xếp thứ 2/27 lớp vào tháng 10.
- Về lao động: 100% HS có thái độ lao động nhiệt tình.
- Về hoạt động bề nổi. 100% HS hăng hái tham gia và đóng góp ý kiến để
hoàn thành các tiết mục văn nghệ, TDTT chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam
20/11.
Kết quả học lực và hạnh kiểm học kỳ I năm học 2012-2013.
SSố Hạnh kiểm Học lực
37
HS
Tốt Khá TB Yếu Giỏi Khá TB Yếu Kém
70,2% 29,7% 0 0 0 40,5% 59,5% 0 0
- Về nề nếp:Cuối học kỳ I xếp thứ 4/27 lớp toàn trường
- Lớp có sự tiến bộ vượt bậc, được xếp vào lớp tinh thần đoàn kết và có nề
nếp tốt trong Nhà trường.
- Về lao động: 100% HS có thái độ lao động nhiệt tình. HS đã tự giác lao
động, thậm chí cả khi không có GVCN.
- Về hoạt động bề nổi có 100% HS tham gia nhiệt tình, tích cực.
-Tổ chức một số buổi HĐNGLL cho HS tham gia.
- Bên cạnh các hoạt động bề nổi như văn nghệ, báo tường, TDTT, Đoàn
trường nên tổ chức nhiều các cuộc thi giúp HS HS có dịp thể hiện tài năng về
kiến thức, tư duy của mình đồng thời rèn luyện được kỹ năng thiết yếu trong
thời đại ngày nay.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ.
Thanh hoá ngày 05/05/2013
Tôi cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Hoàng Thi Lệ
19
20