SKKN Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua môn Ngữ văn lớp 12 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA MÔN NGỮ
VĂN LỚP 12"
1
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Ngữ văn là môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh việc hình thành và phát
triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản và các văn bản
khác trong SGK ngữ văn 12. Môn ngữ văn còn là công cụ đắc lực giúp các em hiểu biết
về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử không chỉ trong nước mà còn hiểu biết rộng hơn về
các nước trên thế giới. Để giáo dục kĩ năng sống cho các em, đặc biệt là học sinh lớp 12,
lứa tuổi được xem là nhạy cảm nhất, một hành trang mới để các em bước vào cuộc sống
độc lập và có cách nhìn nhận đúng đắn về hiện thực xã hội. Giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh thông qua một số tác phẩm trong chương trình là giúp các em vận dụng kiến
thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn: tạo niềm tin, hứng
thú học tập. Từ đó hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất để đáp ứng những yêu cầu
của cuộc sống hiện tại và tương lai.
II. Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận
Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp các em có năng lực ngôn ngữ
để học tập, có khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và con người, đặc biệt giúp các em
có đời sống nội tâm phong phú.
Với tính chất là môn học giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp các em bồi dưỡng năng
lực tư duy, làm giàu cảm xúc thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện
nhân cách.
2
Với những đặc trưng trên, Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt trong giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 12, lứa tuổi bắt đầu làm quen với
cuộc sống độc lập.
2.2. Thực trạng của vấn đề

cách.
Để thấy được điều này, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số ví dụ thông qua một số tiết dạy
trong chương trình Ngữ văn 12.
VD1: Bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
- Kĩ năng sống:
+ Tự nhận thức được sự trong sáng của tiếng Việt là một trong những phẩm chất của
tiếng Việt, là kết quả phấn đấu lâu dài của ông cha ta. Phẩm chất đó được biểu hiện ở
nhiều phương diện khác nhau.
4
+ Giao tiếp và trình bày ý tưởng: Thảo luận, trao đổi với thầy cô, bạn bè về việc giữ
gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt qua thực tiễn sử dụng, qua hệ thống các
chuẩn mực và quy tắc chung.
+ Ra quyết định: Xác định muốn giữ gìn sự trong sáng của TV, mỗi chúng ta cần phải
làm gì?
- Qua bài học lưu ý học sinh khi sử dung tiếng Việt trong giao tiếp.
VD2: Bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS
- Kĩ năng sống
+ Tự nhận thức được đây là căn bệnh thế kỷ có tính chất nóng bỏng toàn cầu. Từ đó xác
định được trách nhiệm của mỗi cá nhân khi tham gia vào cuộc chiến đấu này và có những
hành động thiết thực góp phần vào việc ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh thế kỷ.
+ Giao tiếp và trình bày ý tưởng: Thảo luận, trao đổi với bạn bè, thầy cô về hiện tượng
của căn bệnh và tham gia vào việc phòng chống AIDS hiện nay. Từ đó chỉ ra nguyên
nhân, tác hại và nguy cơ lây lan của căn bệnh thế kỷ, những giải pháp góp phần vào cuộc
chiến này.
+ Ra quyết định: Xác định đây là việc làm quan trọng và sự bức thiết của công cuộc
phòng chống HIV/ AIDS đối với toàn nhân loại và mỗi cá nhân, từ đó nhận thức rõ trách
nhiệm của mỗi quốc gia và từng cá nhân trong việc sát cánh, chung tay đẩy lùi hiểm hoạ.
- Phương pháp dạy học: ở bài này yêu cầu HS đọc hiểu, thảo luận và trình bày quan điểm.
2. Quan điểm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua môn học Ngữ văn lớp 12
Quan điểm của chúng tôi đặt ra ở đây là bám sát vào bài giảng để giáo dục kĩ năng sống

học cụ thể, ví dụ như bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân
tộc”.
Về kĩ năng: tự làm chủ bản thân, có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội, biết
ứng xử linh hoạt, hiệu quả, tự tin trong qúa trình sử dụng và giao tiếp tiếng Việt hàng
ngày. Có suy nghĩ và hành động tích cực, có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống.
Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trước những cám
dỗ của đời sống, những nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn, lành mạnh trong cuộc sống.
Ví dụ như bài “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS”
Về thái độ: có hứng thú và nhu cầu qua các kĩ năng sống mà bản thân đúc rút và rèn
luyện được, đồng thời hướng những người khác cùng thực hiện các kĩ năng sống đó.
Hình thành và thay đổi hành vi, nhất là những hành vi liên quan đến lối sống lành mạnh,
có trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội. Ví dụ như bài “Chiếc thuyền
ngoài xa”
Có ý thức về quyền và nghĩa vụ đối với người công dân, có ý thức định hướng nghề
nghiệp.
4. Giáo án minh hoạ
Bài : Người lái đò sông Đà
(Nguyễn Tuân)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
7
Giúp HS :
1. Về kiến thức:
- Nhận thức rõ và yêu quý hơn vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước và con người lao động
Việt Nam.
- Cảm phục, mến yêu tài năng sáng tạo của Nguyễn Tuân, người nghệ sĩ tài hoa, uyên bác
đã dùng văn chương để khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của nhân dân và Tổ quốc.
2. Về kĩ năng:
- Nâng cao kĩ năng đọc – hiểu tác phẩm
- Rèn luyện kĩ năng tự đọc, tự học một cách chủ động, sáng tạo.
- Kĩ năng sống:

(đã được học ở
CTNV 11)
* Gọi 1 HS đọc
phần tiểu dẫn.
?. Cho biết thể loại
và xuất xứ tác
phẩm?
?. Người lái đò
* Tái hiện kiến
thức và trình
bày.
* 1 HS đọc, cả
lớp theo dõi.
* Nêu thể loại
và xuất xứ.
* Trình bày
hoàn cảnh sáng
I/ Tìm hiểu chung:
1. Tác giả Nguyến Tuân :
(Xem lại phần TD bài Chữ
người tử tù, SGK Ngữ văn
11, tập I, tr 107).
2. Tác phẩm Người lái đò
sông Đà:
+Xuất xứ: Bài tùy bút được in
trong tập Sông Đà (1960).
+Hoàn cảnh ra đời:Thành quả
thu hoạch được trong chuyến
đi gian khổ và hào hứng tới
miền Tây Bắc rộng lớn, xa

lời.
* Phát biểu
cảm hứng chủ
xôi.
+ Tiêu biểu cho phong cách
nghệ thuật độc đáo của NT:
uyên bác, tài hoa, không quản
nhọc nhằn để cố gắng khai
thác kho cảm giác và liên
tưởng phong phú, bộn bề,
nhằm tìm ra những chữ nghĩa
xác đáng nhất.
+ Cho thấy diện mạo của một
NT mới mẻ, khao khát được
hòa nhịp với đất nước và cuộc
đời (không giống với NT
trước CM, con người chỉ
muốn xê dịch cho khuây cảm
giác “thiếu quê hương”)
+ Cảm hứng chủ đạo: Nhiệt
tình ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi
nhân dân của một nhà văn mà
10
mới?
?. Từ điều vừa tìm
hiểu thử phát biểu
cảm hứng chủ đạo
của tác phẩm?
đạo. trái tim đang tràn đầy niềm
hứng khởi khi thấy nay mình

a. Một con sông hung bạo:
- Quan sát công phu, tìm hiểu
kĩ càng để khắc họa sự hung
bạo trên nhiều dạng vẻ:
+ Trong phạm vi 1 lòng sông
hẹp, như chiếc yết hầu bị đá
bờ sông chẹt cứng.
+ Trong khung cảnh mênh
mông hàng cây số của một
thế giới đầy gió gùn ghè, đá
giăng đến chân trời và sóng
bọt tung trắng xóa.
+ Những cái hút nước xoáy tít
lôi tuột mọi vật xuống đáy
sâu.
+ Những trùng vi thạch trận
11
bạo? Gợi ý:
+ Tác giả đã khắc
họa sự hung bạo ấy
trên nhiều dạng vẻ.
Chỉ ra những dạng
vẻ đó?
+ Để diễn tả chính
xác và sinh động
những gì NT quan
sát thấy về sự hung
bạo của dòng sông,
tác giả đã sử dụng
nhiều chi tiết NT

đèn điện”.
+ Tả cái hút nước quãng Tà
Mường Vát:
o nước thở và kêu như
cửa cống cái
bị sặc.
12
cho ta thấy, bên
cạnh và cả bên trong
sự hung bạo ấy,
hình ảnh con sông
vẫn nổi bật lên như
một biểu tượng cho
điều gì?
?. Nếu phải cho một
lời nhận xét ngắn
gọn về khả năng sử
dụng ngôn từ của
NT, em sẽ nói thế
nào?
* GV chuyển ý.
* Hướng dẫn HS
tìm hiểu hình tượng
con sông Đà trữ
tình:
* Gọi 1 HS đọc các
đoạn văn ở trang
190, 191.
?. Chứng minh rằng
những đoạn văn viết

quả của những công
phu tìm tòi khó
nhọc của một người
nhất quyết không
bao giờ chịu bằng
lòng với những tri
thức hời hợt?
* Nêu vấn đề và tổ
chức cho HS thảo
luận: Cách viết của
nhà văn đã thay đổi
thế nào khi chuyển
sang biểu hiện sông
Đà như một dòng
chảy trữ tình? Dẫn
chứng minh hoạ?
(Câu 3, SGK)
* GV chốt lại ý
chính
* Chuyển ý
xét.
* Lắng nghe,
góp ý kiến trao
đổi
* Lắng nghe,
góp ý kiến trao
đổi thống
nhất* 1 HS
đọc, cả lớp
theo dõi.

Đường thi “yên hoa tam
nguyệt”
+ Mũi thuyền lặng lẽ trôi trên
dòng nước lững lờ như
thương như nhớ.
+ Con hươu thơ ngộ trên áng
cỏ sương như biết cất lên câu
14
* Hướng dẫn HS
tìm hiểu hình tượng
người lái đò trong
cuộc chiến đấu với
con sông Đà hung
bạo:
* Gọi HS đọc đoạn
miêu tả 1 quãng
thuỷ chiến ở mặt
trận sông Đà.
* Tổ chức cho HS
thảo luận câu 4
SGK: Phân tích hình
tượng người lái đò
trong cuộc chiến với
con sông Đà hung
bạo?
Gợi ý:
+ Thoạt nhìn, em có
nhận xét gì về tính
chất của cuộc chiến?
+ Kết quả ra sao?

2. Hình tượng người lái đò
trong cuộc chiến đấu với con
sông Đà hung bạo:
- Tính chất cuộc chiến: không
cân sức
+ Sông Đà: sóng nước hò reo
quyết vật ngửa mình thuyền;
thạch trận với đủ 3 lớp trùng
vi vây bủa, được trấn giữ bởi
những hòn đá ngỗ ngược, hỗn
hào và nham hiểm  dữ dội,
hiểm độc với sức mạnh được
15
+ Nguyễn Tuân cho
thấy nguyên nhân
làm nên chiến thắng
của con người có hề
bí ẩn không? Đó
chính là điều gì?
?. Hãy cắt nghĩa vì
sao, trong con mắt
của NT, thiên nhiên
Tây Bắc quý như
vàng nhưng con
người Tây Bắc mới
thật xứng đáng là
vàng mười của đất
nước ta?
* GV thuyết giảng
sự gợi ý của

dòng sông.
+ Những thằng đá tướng phải
lộ sự tiu nghỉu, thất vọng qua
bộ mặt xanh lè.
- Nguyên nhân làm nên chiến
thắng: sự ngoan cường, dũng
cảm, tài trí, chí quyết tâm và
16
? Thử phát hiện nét
độc đáo trong cách
khắc hoạ nhân vật
ông lái đò?
* Hướng dẫn HS
vận dụng phép so
sánh Người lái đò
sông Đà với tp Chữ
người tử tù viết
trước CM ở phương
diện khắc họa con
người.
* Phát hiện và
trả lời.
* Tái hiện kiến
thức cũ và so
sánh
(Gv: nhìn con
người ở
phương diện
tài hoa, nghệ
sĩ; tạo tình

Con Người.
 Nét độc đáo trong
17
? Có thể xem
NLĐSĐ như một
khúc hùng ca, ca
ngợi điều gì?
hội)
* Suy nghĩ trả
lời.
cách khắc hoạ:
- Tô đậm nét tài hoa
nghệ sĩ.
- Tạo tình huống đầy thử
thách để
nhân vật bộc lộ phẩm chất.
- Sử dụng ngôn ngữ miêu
tả đầy cá
tính, giàu chất tạo hình.
=>Khúc hùng ca ca ngợi con
người,
ca ngợi ý chí của con người,
ca ngợi lao động vinh quang
đã đưa con người tới thắng lợi
trước sức mạnh tựa thánh
thần của dòng sông hung dữ.
Đó chính là những yếu tố làm
nên chất vàng mười của nhân
dân Tây Bắc và của những
người lao động nói chung.

nhiên và nhất là của con
người lao động bình dị ở
miền Tây Bắc
- Tác giả Nguyễn Tuân:
+ Tình yêu đất nước say đắm,
thiết tha.
+ Lao động nghệ thuật
nghiêm túc, cần cù, công phu.
+ Tài hoa, uyên bác trong
việc dùng chữ nghĩa.
IV/ Luyện tập:
- Làm câu 5 phần Hướng dẫn
học bài ở lớp
- Làm bài tập 1,2 phần Luyện
tập ở nhà
19
Đây là một trong số những tác phẩm được xem là khó về mặt ngôn từ, HS đọc khó hiểu
và hầu như các em không yêu thích tác phẩm này. Nhưng, để thay đổi theo cách dạy này
thì các em cảm thấy ngôn từ của Nguyễn Tuân có nhiều nét khám phá.
Qua việc tìm hiểu nội dung của tác phẩm đã giúp HS giáo dục kĩ năng sống: giao tiếp, tư
duy sáng tạo.
5. Kết quả kiểm nghiệm:
Tác phẩm này được dạy thí điểm theo phương pháp tích cực ở lớp 12A và đã có
những thành công đáng kể, hầu hết các em đều có sự hứng thú với cách dạy này. Tuy
nhiên, dạy theo nhóm thì lớp hơi ồn, mất trật tự, nhưng các em đều cảm thấy giờ văn
không còn nhàm chán, buồn ngủ như trước. Và chúng tôi thống nhất áp dụng đổi mới
hình thức dạy học theo phương pháp này vào năm học tiếp theo.
KẾT LUẬN
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là việc làm cần thiết và cần phải đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hoá xã hội. Nhất là đối với học sinh lớp 12, lứa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status