SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THANH HOÁ
TRƯỜNG TRUNG CẤP THUỶ SẢN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
QUA MÔN NGỮ VĂN LỚP 12
Người thực hiện: Trương Thị Hằng
Chức vụ: Phó trưởng Khoa, Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2013
1
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Ngữ văn là môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh việc
hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp
nhận văn bản và các văn bản khác trong SGK ngữ văn 12. Môn ngữ văn còn
là công cụ đắc lực giúp các em hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử
không chỉ trong nước mà còn hiểu biết rộng hơn về các nước trên thế giới. Để
giáo dục kĩ năng sống cho các em, đặc biệt là học sinh lớp 12, lứa tuổi được
xem là nhạy cảm nhất, một hành trang mới để các em bước vào cuộc sống độc
lập và có cách nhìn nhận đúng đắn về hiện thực xã hội. Giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh thông qua một số tác phẩm trong chương trình là giúp các em
vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong
thực tiễn: tạo niềm tin, hứng thú học tập. Từ đó hình thành hiểu biết, năng lực
và phẩm chất để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai.
II. Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận
Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp các em có
năng lực ngôn ngữ để học tập, có khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và
con người, đặc biệt giúp các em có đời sống nội tâm phong phú.
Với tính chất là môn học giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp các em
đường “Mưa dầm thấm lâu” nhẹ nhàng, tự nhiên, không gượng ép.
- Cách thức tổ chức thực hiện:
Trong khuôn khổ của sách giáo khoa Ngữ văn 12 này, chúng tôi đi vào
trọng tâm một số tiết dạy để thấy được việc giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh là việc rất cần thiết.
3
NỘI DUNG
1. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua môn học Ngữ văn lớp 12
Bất cứ môn học nào cũng đòi hỏi giữa kiến thức sách vở và thực tế đời
sống, hay nói cách khác lý thuyết phải gắn với thực hành. Vì vậy, đòi hỏi
người học phải biết vận dụng vào trong đời sống của mình. Môn Ngữ văn
cũng vậy, giúp các em bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu cảm xúc thẩm mĩ
và định hướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện nhân cách.
Để thấy được điều này, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số ví dụ thông
qua một số tiết dạy trong chương trình Ngữ văn 12.
VD1: Bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
- Kĩ năng sống:
+ Tự nhận thức được sự trong sáng của tiếng Việt là một trong những
phẩm chất của tiếng Việt, là kết quả phấn đấu lâu dài của ông cha ta. Phẩm
chất đó được biểu hiện ở nhiều phương diện khác nhau.
+ Giao tiếp và trình bày ý tưởng: Thảo luận, trao đổi với thầy cô, bạn bè
về việc giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt qua thực tiễn sử
dụng, qua hệ thống các chuẩn mực và quy tắc chung.
+ Ra quyết định: Xác định muốn giữ gìn sự trong sáng của TV, mỗi chúng
ta cần phải làm gì?
- Qua bài học lưu ý học sinh khi sử dung tiếng Việt trong giao tiếp.
VD2: Bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS
- Kĩ năng sống
+ Tự nhận thức được đây là căn bệnh thế kỷ có tính chất nóng bỏng toàn
cầu. Từ đó xác định được trách nhiệm của mỗi cá nhân khi tham gia vào cuộc
Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn hoá, văn học, tình yêu
gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự
cường Nâng cao ý thức trách nhiệm của một người công dân đối với đất
nước, phát huy và bảo tồn các giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại.
5
3. Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua môn học Ngữ
văn lớp 12.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực, chủ động,
sáng tạo, khả năng tự học của học sinh. Vì vậy, sau mỗi bài học học sinh cần
phải đạt được những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ.
Về kiến thức: nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc
cũng như các giá trị tốt đẹp của nhân loại, cần góp phần cũng cố và bổ sung
những kiến thức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình,
nhà trường và xã hội, về định hướng nghề nghiệp.
Nhận thức được sự cần thiết của các kĩ năng sống thông qua các bài học
để giúp cho bản thân sống tự tin, phòng tránh những ảnh hưởng xấu đến sự
phát triển thể chất, tinh thần của bản thân và những người xung quanh mình.
Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các kĩ năng
sống trong các bài học cụ thể, ví dụ như bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao
sáng trong văn nghệ của dân tộc”.
Về kĩ năng: tự làm chủ bản thân, có trách nhiệm đối với bản thân, gia
đình và xã hội, biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả, tự tin trong qúa trình sử dụng
và giao tiếp tiếng Việt hàng ngày. Có suy nghĩ và hành động tích cực, có
những quyết định đúng đắn trong cuộc sống.
Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác
trước những cám dỗ của đời sống, những nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn,
lành mạnh trong cuộc sống. Ví dụ như bài “Thông điệp nhân ngày thế giới
phòng chống HIV/AIDS”
Về thái độ: có hứng thú và nhu cầu qua các kĩ năng sống mà bản thân
đúc rút và rèn luyện được, đồng thời hướng những người khác cùng thực hiện
II. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH:
- GV tiến hành giờ dạy theo các phương pháp: Đọc sáng tạo, tái hiện,
gợi tìm, thảo luận, so sánh, thuyết giảng.
III. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
7
- SGK, SGV, thiết kế bài giảng.
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
- Tạo tâm thế cho HS thông qua lời giới thiệu bài mới hoặc đặt câu hỏi
giúp HS tích hợp kiến thức đã học để tìm hiểu nội dung bài học mới.
Hoạt động của GV: Hoạt động của
HS:
Nội dung cần đạt
• Hoạt động 1:
Hướng dẫn HS tìm
hiểu chung về tác
giả và tác phẩm
* GV tổ chức cho HS
nhớ lại và trình bày
những nét cơ bản về
tác giả NT (đã được
học ở CTNV 11)
* Gọi 1 HS đọc phần
tiểu dẫn.
?. Cho biết thể loại và
xuất xứ tác phẩm?
?. Người lái đò sông
Đà được sáng tác
trong hoàn cảnh nào?
?. Thiên tùy bút đã kế
thừa những nét riêng
* Suy nghĩ trả
lời.
* Phát biểu cảm
hứng chủ đạo.
I/ Tìm hiểu chung:
1. Tác giả Nguyến Tuân : (Xem
lại phần TD bài Chữ người tử
tù, SGK Ngữ văn 11, tập I, tr
107).
2. Tác phẩm Người lái đò sông
Đà:
+Xuất xứ: Bài tùy bút được in
trong tập Sông Đà (1960).
+Hoàn cảnh ra đời:Thành quả
thu hoạch được trong chuyến đi
gian khổ và hào hứng tới miền
Tây Bắc rộng lớn, xa xôi.
+ Tiêu biểu cho phong cách
nghệ thuật độc đáo của NT:
uyên bác, tài hoa, không quản
nhọc nhằn để cố gắng khai thác
kho cảm giác và liên tưởng
phong phú, bộn bề, nhằm tìm ra
những chữ nghĩa xác đáng nhất.
+ Cho thấy diện mạo của một
NT mới mẻ, khao khát được
hòa nhịp với đất nước và cuộc
đời (không giống với NT trước
CM, con người chỉ muốn xê
dịch cho khuây cảm giác “thiếu
sông Đà hung bạo?
Gợi ý:
+ Tác giả đã khắc họa
sự hung bạo ấy trên
nhiều dạng vẻ. Chỉ ra
những dạng vẻ đó?
+ Để diễn tả chính
xác và sinh động
những gì NT quan sát
thấy về sự hung bạo
của dòng sông, tác
giả đã sử dụng nhiều
chi tiết NT độc đáo?
Thử nêu vài dẫn
chứng minh họa?
?. Nguyễn Tuân còn
* 1-2 HS đọc,
cả lớp theo dõi.
* HS thảo luận
theo 4 nhóm; 2
nhóm thực hiện
1 câu hỏi gợi ý
của GV.
* Nhóm 1 trình
bày kết quả thảo
luận, nhóm 2 bổ
sung.
* Nhóm 3 trình
bày kết quả thảo
luận, nhóm 4 bổ
đỗi hoang sơ bằng cách liên
tưởng đến hình ảnh của chốn thị
thành, có hè phố, có khung cửa
sổ trên “cái tầng nhà thứ mấy
nào vừa tắt phụt đèn điện”.
+ Tả cái hút nước quãng Tà
Mường Vát:
o nước thở và kêu như cửa
cống cái
9
cho ta thấy, bên cạnh
và cả bên trong sự
hung bạo ấy, hình ảnh
con sông vẫn nổi bật
lên như một biểu
tượng cho điều gì?
?. Nếu phải cho một
lời nhận xét ngắn gọn
về khả năng sử dụng
ngôn từ của NT, em
sẽ nói thế nào?
* GV chuyển ý.
* Hướng dẫn HS tìm
hiểu hình tượng con
sông Đà trữ tình:
* Gọi 1 HS đọc các
đoạn văn ở trang 190,
191.
?. Chứng minh rằng
những đoạn văn viết
đổi thống nhất*
1 HS đọc, cả lớp
theo dõi.
* HS có thể đơn
cử 1 ví dụ: Để
chắc chắn dòng
Đà không hề
đen->mấy lần
bay tạt ngang
trên con sông,
quan sát kĩ càng
để đi đến quả
quyết:
+ Vào mùa
xuân: nước sông
Đà có sắc xanh -
xanh ngọc bích.
+ Mỗi độ thu
về: lừ lừ chín đỏ
như da mặt
người bầm đi vì
bị sặc.
o ặc ặc lên như vừa rót dầu
sôi vào.
+ Lấy hình ảnh “ô tô sang số
nhấn ga” trên “quãng đường
mượn cạp ra ngoài bờ vực” để
ví von với cách chèo thuyền …
+ Tưởng tượng về cú lia ngược
của chiếc máy quay từ đáy cái
+ Mũi thuyền lặng lẽ trôi trên
dòng nước lững lờ như thương
như nhớ.
+ Con hươu thơ ngộ trên áng cỏ
10
hiểu hình tượng
người lái đò trong
cuộc chiến đấu với
con sông Đà hung
bạo:
* Gọi HS đọc đoạn
miêu tả 1 quãng thuỷ
chiến ở mặt trận sông
Đà.
* Tổ chức cho HS
thảo luận câu 4 SGK:
Phân tích hình tượng
người lái đò trong
cuộc chiến với con
sông Đà hung bạo?
Gợi ý:
+ Thoạt nhìn, em có
nhận xét gì về tính
chất của cuộc chiến?
+ Kết quả ra sao?
+ Nguyễn Tuân cho
thấy nguyên nhân làm
nên chiến thắng của
con người có hề bí ẩn
không? Đó chính là
nhận.
* Nêu kết quả.
* Nêu nguyên
nhân
* Cắt nghĩa theo
cách cảm nhận
của bản thân.
* Lắng nghe và
ghi vở.
* Phát hiện và
trả lời.
sương như biết cất lên câu hỏi
không lời.
+ Bờ sông hoang dại và hồn
nhiên như một bờ tiền sử, phảng
phất nỗi niềm cổ tích.
Sự tài hoa đã đem lại cho
áng văn
những trang tuyệt bút.
Tạo dựng nên cả một
không gian
trữ tình đủ sức khiến người đọc
say đắm, ngất ngây.
2. Hình tượng người lái đò
trong cuộc chiến đấu với con
sông Đà hung bạo:
- Tính chất cuộc chiến: không
cân sức
+ Sông Đà: sóng nước hò reo
quyết vật ngửa mình thuyền;
dụng phép so sánh
Người lái đò sông Đà
với tp Chữ người tử
tù viết trước CM ở
phương diện khắc họa
con người.
? Có thể xem
NLĐSĐ như một
khúc hùng ca, ca ngợi
điều gì?
* Tái hiện kiến
thức cũ và so
sánh
(Gv: nhìn con
người ở phương
diện tài hoa,
nghệ sĩ; tạo tình
huống đầy thử
thách để nhân
vật bộc lộ phẩm
chất.
- cái đẹp, người
tài không còn
gắn với 1 số ít
con người đặc
tuyển trong xã
hội)
* Suy nghĩ trả
lời.
thắng: sự ngoan cường, dũng
=>Khúc hùng ca ca ngợi con
người,
ca ngợi ý chí của con người, ca
ngợi lao động vinh quang đã
đưa con người tới thắng lợi
trước sức mạnh tựa thánh thần
của dòng sông hung dữ. Đó
chính là những yếu tố làm nên
chất vàng mười của nhân dân
Tây Bắc và của những người
12
lao động nói chung.
• Hoạt động 3 :
Hướng dẫn HS
tổng kết bài học
?. Người lái đò sông
Đà ngợi ca điều gì?
?. Qua tác phẩm, em
có thể rút ra được
điều gì về tác giả
Nguyễn Tuân?
• Hoạt động 4:
Hướng dẫn
HS
luyện tập
• Hoạt động 5:
Củng cố
* Gọi HS đọc phần
Ghi nhớ
* Tổng kết bài
5. Kết quả kiểm nghiệm:
Tác phẩm này được dạy thí điểm theo phương pháp tích cực ở lớp 12A
và đã có những thành công đáng kể, hầu hết các em đều có sự hứng thú với
cách dạy này. Tuy nhiên, dạy theo nhóm thì lớp hơi ồn, mất trật tự, nhưng các
em đều cảm thấy giờ văn không còn nhàm chán, buồn ngủ như trước. Và
13
chúng tôi thống nhất áp dụng đổi mới hình thức dạy học theo phương pháp
này vào năm học tiếp theo.
KẾT LUẬN
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là việc làm cần thiết và cần phải
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hoá xã hội. Nhất là đối với
học sinh lớp 12, lứa tuổi được xem là nhạy cảm và bắt đầu cuộc sống độc lập.
Vì vậy, thông qua các bài học trong Ngữ văn lớp 12, giáo viên có thể vận
dụng các tình huống giáo dục vào bài giảng của mình thêm phong phú, lôi
cuốn sự chú ý của học sinh và phát huy tinh thần tự học, tính sáng tạo của học
sinh.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 22 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Trương Thị Hằng
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Trọng Luận chủ biên (2008), Sách giáo khoa Ngữ văn 12,
tập1, NXB GD.
2. Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử (và các tác giả khác) (2008),
Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 môn Ngữ văn, NXB
GD.