SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH HƯNG YÊN
TRƯỜNG THPT ÂN THI
….…..
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
QUA CHỦ ĐỀ TẬP TÍNH Ở ĐỘNG VẬT - SINH HỌC LỚP 11
Môn: Sinh học
Tên tác giả: Nguyễn Thị Như Trang
Giáo viên: Sinh - Công nghệ
Chức vụ: Tổ phó
Năm học 2015 - 2016
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
PHẦN I. MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………..
3
A. Đặt vấn đề. ...............................................................................................................................................
3
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………………………
3
2. Ý nghĩa và tác dụng của đề tài……………………………......................................
3. Phạm vi nghiên cứu..............................................................................................................
4
B. Phương pháp tiến hành. ………………………………………………………………………
4
46
3. Lợi ích ( hiệu quả) kinh tế - xã hội của SKKN. ……………………….
46
4. Kết quả. ……………………………………………………………………………………………...
PHẦN III. KẾT LUẬN………………………………………………………………………………….
47
49
1. Nhận định chung. ……………………………………………………………………………..
49
2. Điều kiện áp dụng đề tài. ……………………………………………………………….
50
3. Triển vọng vận dụng và phát triển. ……………………………………………..
50
4. Đề xuất, kiến nghị. …………………………………………………………………………..
50
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………………………..
giới đưa vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông dưới nhiều hình thức
khác nhau. Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ,
đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học,
giáo dục phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo
dục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kĩ năng sống, đó là: Học để biết,
Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống. Mục
tiêu giáo dục phổ thông đã và đang chuyển hướng từ chủ yếu là trang bị kiến
thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh. Phương pháp
giáo dục phổ thông cũng đã và đang được đổi mới theo hướng phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, phù hợp với đặc điểm của từng
lớp học, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho học sinh. Nội dung giáo dục kĩ năng sống đã được tích hợp trong một số
môn học và hoạt động giáo dục có tiềm năng trong trường phổ thông; Đặc biệt,
rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh được xác định là một trong những nội dung
cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực” trong các trường phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo.
Sinh học là môn học gắn liền với kiến thức thực tiễn đời sống, nên sinh học
là môn học có nhiều thuận lợi để lồng ghép nội dung giáo dục KNS. Để gây
hứng thú cho học sinh (HS), trong từng bài học, tiết dạy của mình người thầy
cần phải đưa ra nhiều tình huống thật gần gũi với cuộc sống, chuyển nội dung
bài học thành các tình huống có vấn đề, để các học sinh nhận xét, xử lý, lựa
chọn và sau mỗi tình huống đó các em thấy được vấn đề đúng ở đâu và sai ở
đâu. Từ đó, góp phần giáo dục KNS cho học sinh.
Với bản thân tôi vừa làm công tác giảng dạy, vừa làm công tác chủ nhiệm
thì tôi thấy một thực tế là: với lớp chọn các em chỉ quan tâm đến việc học để đi
thi Đại học nên học rất tốt nhưng những kĩ năng xã hội các em lại rất yếu. Cái
4
5
- Lĩnh vực Sinh học 11 và giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường phổ thông. Cụ
thể là: Chủ đề: Tập tính ở động vật - sinh học lớp 11
B. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN.
1.1- Kỹ năng sống (KNS) là gì?
“ KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù
hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các
tình huống của cuộc sống”.(*)
1.2- Phân loại kỹ năng sống:
Có nhiều cách phân loại KNS, tùy theo quan niệm về KNS. Ví dụ:
- “ KNS được chia thành 2 loại: Kỹ năng cơ bản và kỹ năng nâng cao.
+ Kĩ năng cơ bản gồm: Kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng,
chạy, nhảy v.v…
+ Kĩ năng nâng cao là sự kế thừa và phát triển các kĩ năng cơ bản dưới
một dạng thức mới hơn. Nó bao gồm: Các kĩ năng tư duy logic, sáng tạo, suy
nghĩ nhiều chiều, phân tích, tổng hợp, so sánh, nêu khái niệm, đặt câu hỏi v.v…
- Các KNS ở tiểu học và trung học cơ sở HS đã được học như:
Nhóm kĩ năng giao tiếp – hòa nhập cuộc sống:
+ Các em biết giới thiệu về bản thân, về gia đình, về trường lớp học và
bạn bè thầy cô giáo.
+ Biết chào hỏi lễ phép trong nhà trường, ở nhà và ở nơi công cộng.
+ Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi. Thực tế trong nhà trường, thông qua môn
Đạo đức, các hoạt động tập thể HS được dạy cách lễ phép nhưng khi đi vào thực
tế, nhiều em thiếu kỹ năng giao tiếp, không có thói quen chào hỏi, tự giới thiệu
mình với người khác, thậm chí có nhiều em còn không dám nói hoặc không biết
nói lời xin lỗi khi các em làm sai.
chặt chẽ các KNS với nhau” (*).
1.3. Một số biện pháp rèn luyện KNS cho học sinh.
- Thực tế các KNS này được đưa vào mục tiêu cụ thể từng môn học, bài học. Để
có hiệu quả cao, cần tổ chức tốt các biện pháp sau:
+ Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính độc lập, sáng tạo
của học sinh gắn với thực tiễn, có tài liệu bổ trợ phong phú, sử dụng thiết bị dạy
học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, luôn tạo cho các em tính
7
chủ động, tích cực, hứng thú trong học tập; phát huy tính sáng tạo, tạo được bầu
không khí cởi mở thân thiện của lớp của trường. Trong giờ học, giáo viên cần
tạo cơ hội cho các em được nói, được trình bày trước nhóm bạn, trước tập thể,
nhất là các em còn hay rụt rè, khả năng giao tiếp kém qua đó góp phần tích lũy
KNS cho các em.
+ Tổ chức tốt hoạt động ngoại khóa, “diễn đàn” ở phạm vi lớp khối của
mình. Mỗi năm học sẽ có một số chủ đề rèn luyện KNS được triển khai. Trong
đó nhà trường cần phát huy vai trò của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh theo
các chủ điểm hàng tháng. Đưa trò chơi dân gian, hát dân ca và các loại hình sinh
hoạt văn hóa dân gian vào trường học, qua đó mà rèn luyện KNS cho HS.
+ Giáo viên chủ nhiệm phải làm tốt công tác chủ nhiệm mà nhà trường
phân công, thường xuyên thay đổi các hình thức sinh hoạt lớp, luân phiên nhau
cho các em làm lớp trưởng, tổ trưởng, không nên trong năm học chỉ để một em
làm lớp trưởng. Thầy cô giáo phải là tấm gương sáng về đạo đức, nhất là tấm
gương về các ứng xử văn hóa, chuẩn mực trong lời nói và việc làm. Giáo dục
KNS cho học sinh sẽ khó hơn khi chính thầy cô không phải là một tấm gương.
+ Nhà trường cần tổ chức tốt các buổi chào cờ đầu tuần. Theo đó mục tiêu
buổi chào cờ không chỉ là đánh giá xếp loại nền nếp, học tập, các hoạt động giáo
dục trong tuần qua, triển khai kế hoạch tuần tới của BGH nhà trường mà cần
thay đổi hình thức buổi lễ chào cờ một cách sáng tạo, rèn luyện các kỹ năng cho
huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù hợp
với điều kiện thực tế.
GV cần thiết kế và tổ chức các hoạt động trong và ngoài giờ học sao cho
HS có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tính kinh
nghiệm trong cuộc sống của chính mình và người khác.
- Tiến trình: Giáo dục KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai”
mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức – hình thành thái độ - thay đổi hình
lvi. Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của 1 chu trình mới.
Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất kì mắt xích nào trong chu trình trên.
- Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học
thay đổi hành vi theo hướng tích cực, có kĩ năng hành động, thể hiện thái độ và
lựa chọn giá trị của cá nhân qua các hành động. Giáo dục KNS là thúc đẩy người
9
học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của chính
mình.
- Thời gian và môi trường giáo dục: Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi,
mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em. Môi trường giáo dục cần
được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho HS áp dụng kiến thức và kĩ năng vào các tình
huống “thực” trong cuộc sống.
1.5. Giáo dục KNS trong môn sinh học ở trường Trung học phổ thông.
- “Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, nên các kiến thức sinh học được hình
thành chủ yếu bằng phương pháp quan sát và thí nghiệm, vì thế các kĩ năng học
tập Sinh học sẽ góp phần vào việc GDKNS, tập trung vào các kĩ năng chủ yếu
đối với giáo dục phổ thông Việt Nam như: Kĩ năng suy nghĩ sáng tạo, Kĩ năng
tư duy, bình luận phê phán, Kĩ năng giải quyết vấn đề, Kĩ năng vận dụng kiến
thức, Kĩ năng ra quyết định, Kĩ năng phòng tránh thiên tai và các nguy cơ tiềm
ẩn trong môi trường sống xung quanh các em”.
lớp, chưa liên hệ được với thực tế… HS vẫn còn thiếu tự tin khi trình bày bài.
Do đó các kĩ năng giao tiếp giữa HS với GV, HS với HS, HS với SGK , các kĩ
năng suy nghĩ sáng tạo, kĩ năng ra quyết định và kĩ năng làm chủ bản thân…
chưa được rèn luyện nhuần nhuyễn, chưa tạo được điều kiện cho những HS rụt
rè, lười phát biểu có thể tự tin trình bày trước lớp.
- Học sinh lớp 11 A6, THPT Ân Thi, năm học 2015 - 2016, gồm đa số các
em lười học, có kết quả học tập không cao, nhưng lại rất năng động, thích thể
hiện bản thân, tính tự chủ cao, cái “tôi” lớn… các em không thích bị áp đặt
nhưng lại chưa ý thức được vai trò, vị trí của mình trong lớp, trường cũng như
trong gia đình. Do đó các em thực hiện nội quy của lớp, của trường không tốt,
và là những đứa con hư trong gia đình. Tuy nhiên, các em tham gia rất tích cực
trong các môn thể thao như bóng đá, bóng truyền, cầu lông và các hoạt động văn
nghệ như múa, hát, diễn kịch…Nhưng do thiếu các KNS cơ bản thuộc nhóm kĩ
năng giao tiếp – hòa nhập cuộc sống nên các em được xếp vào nhóm HS cá
biệt.
- Học sinh lớp 11 A1, THPT Ân Thi, năm học 2015 - 2016, gồm đa số các
em có ý thức tự giác tốt, có lực học khá và giỏi, khả năng tự học, tự nghiên cứu
tốt, khả năng tư duy tốt, các em chấp hành tốt nội quy của trường, lớp và là
những đứa con ngoan trong gia đình. Tuy nhiên, các em lại thiếu tự tin khi trình
11
bày trước lớp, lười vận động, ngại tham gia các hoạt động ngoại khóa như: văn
nghệ… các em giao tiếp chủ yếu với SGK và các sách tham khảo do đó thiếu
các kiến thức thực tế và KNS cơ bản.
3. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH.
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Các KNS có thể lồng ghép vào chủ đề : “Tập tính ở động vật” - sinh học
lớp 11, như: Kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng suy nghĩ sáng tạo,
kĩ năng ra quyết định và kĩ năng làm chủ bản thân, kĩ năng quản lí thời gian, kĩ
độc lập và rèn luyện khả năng tự học cho học sinh, để học sinh dễ dàng tiếp
nhận được kiến thức và giải quyết được những vấn đề gặp phải trong cuộc sống.
B. GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI .
1. TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI.
Việc giáo dục đạo đức, hình thành các kỹ năng sống tối thiểu của các em
đã được lồng ghép trong các chương trình học tập, được tích hợp trong các bộ
môn. Tuy nhiên còn rất hạn chế, thiếu sự đa dạng phong phú về nội dung nên
hiệu quả đạt được chưa cao. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn ứng dụng các kĩ thuật,
phương pháp dạy học mới vào trong bài dạy của mình: như tổ chức giờ học
thành các hoạt động khám phá, thi tài thông qua các trò chơi, các hoạt động diễn
kịch tạo tình huống có vấn đề ...., dạy học dự án... trong các bài của chương
trình sinh học Trung học phổ thông.
Trong các giờ dạy tôi đã sử dụng phương pháp dạy học theo hướng phát
huy tính độc lập, sáng tạo của học sinh gắn với thực tiễn, có tài liệu bổ trợ phong
phú, sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng CNTT trong dạy học, luôn tạo cho
các em tính chủ động, tích cực, hứng thú trong học tập; phát huy tính sáng tạo,
tạo được bầu không khí cởi mở thân thiện của lớp. Trong giờ học, tôi tạo cơ hội
cho các em được nói, được trình bày trước nhóm bạn, trước tập thể, nhất là các
em còn hay rụt rè, khả năng giao tiếp kém qua đó góp phần hình thành và rèn
luyện 1 số KNS cơ bản cho các em.
Phương pháp dạy học được đưa ra trong đề tài này, đã được tôi ứng dụng
vào trong thực tế dạy chủ đề: Tập tính ở động vật trong sinh học 11 tại các lớp
11A1, 11A6, của Trường THPT Ân Thi nơi tôi công tác.
- Tôi đã nghiên cứu và mạnh dạn soạn giáo án theo cách thức mới, chi tiết
như sau:
13
Ngày soạn: 14/11/2015
CHỦ ĐỀ: TẬP TÍNH Ở ĐỘNG VẬT
3. Thái độ.
- Thông qua kiến thức về tập tính ở động vật giúp học sinh có ý thức trong
việc rèn luyện, tu dưỡng bản thân, tự bảo vệ mình. Từ đó có ý thức bảo vệ môi
trường, bảo vệ các loài động vật quý hiếm, có ý thức sử dụng năng lượng điện,
nước... một cách tiết kiệm và hiệu quả.
- Học sinh có thể vận dụng các kiến thức trong bài học để giải thích các
vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó có ý thức tránh xa các hành động thiếu
văn hóa, các tệ nạn xã hội.
4. Các năng lực hướng tới
STT
Tên năng lực
Các kĩ năng thành phần
- Phân tích được các tình huống trong
học tập, cuộc sống, đưa ra các phán
1
Năng lực phát hiện và
giải quyết vấn đề
đoán.
- Thu thập và làm rõ các thông tin có
liên quan đến vấn đề và đưa ra 1 số giải
pháp để giải quyết.
- Sử dụng ngôn ngữ thuyết trình (báo
cáo) về khái niệm, các loại tập tính và
hoạt động và báo cáo sản phẩm học
tập.
- Xác định được nhiệm vụ học tập.
15
- Hình thành cách học tập riêng để đạt
hiệu quả cao.
- Biết cách tìm nguồn tài liệu phù hợp
với mục đích và nội dung học tập.
- Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót
trong quá trình học tập.
II. Chuẩn bị của Giáo viên – Học sinh.
1 . Giáo viên ( GV)
a. Các video và hình ảnh liên quan đến chủ đề
Video 1: Học sinh đi xe đạp điện
không đội mũ bảo hiểm
Video 3. Sử dụng điện sinh hoạt
Video 2. Cụ già đội sẵn mũ bảo
hiểm vẫy đi nhờ xe
Video 4. Quen nhờn
trong gia đình
16
- Phiếu học tập số 1
Lớp:........................
Nhóm:....................
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
Tìm hiểu khái niệm tập tính và cơ sở thần kinh của tập tính
Họ và tên các thành viên:
1/…….. .....................................
2/ ...............................................
3/ ...............................................
1. Phân biệt tập tính bẩm sinh và tập tính học được
Hãy theo dõi các tình huống trong các video, thảo luận nhóm và hoàn thành
bảng sau:
Điểm so sánh
Ví dụ
Tập tính bẩm sinh
Tập tính học được
Nguyên nhân và giải pháp
Khái niệm
Cơ sở thần kinh
2. Tập tính là gì?...............................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
3. Em hãy tìm 1 số ví dụ về tập tính vừa có nguồn gốc bẩm sinh vừa có nguồn
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Lớp:........................
Nhóm:....................
ĐÁP ÁN PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
20
Tìm hiểu khái niệm tập tính và cơ sở thần kinh của tập tính
1. Phân biệt tập tính bẩm sinh và tập tính học được
Hãy theo dõi các tình huống trong các video, thảo luận nhóm và hoàn thành
bảng sau:
Điểm so sánh
Ví dụ
Tập tính học được
- hành động hs gần đến
trường mới đội mũ bảo
hiểm.
- hành động của cụ già
đội mũ bảo hiểm xin đi
nhờ xe.
Nguyên nhân và giải pháp - mang tính bản năng TH 1: vì đội mũ bảo
- không điều chỉnh
hiểm nặng vướng víu,
được
không đẹp. Gần đến
không điều kiện mà
trình tự của chúng
- là chuỗi phản xạ có
điều kiện.
- là quá trình hình thành
21
trong hệ thần kinh đã mối liên hệ giữa các
được quy định sẵn từ nơron.
khi sinh ra.
- Rất đa dạng và có thể
- Bền vững và không thay đổi.
thay đổi.
2. Tập tính là chuỗi phản ứng của động vật trả lời kích thích từ môi trường,
nhờ đó động vật thích nghi với môi trường sống và tồn tại.
3. Em hãy tìm 1 số ví dụ về tập tính vừa có nguồn gốc bẩm sinh vừa có nguồn
gốc học được ngoài sách giáo khoa? Ở người: khóc vừa là tập tính bẩm sinh
vừa là tập tính học được cụ thể em bé khi bị ngã đau thì khóc, nhưng thấy
mẹ cầm roi là đã khóc trước rồi.
4. Dựa vào mức độ tiến hóa của hệ thần kinh và tuổi thọ của động vật, hãy trả
lời các câu hỏi sau:
a. Ở động vật có hệ thần kinh dạng lưới và hệ thần kinh dạng chuỗi hạch, các
tập tính của chúng hầu hết là tập tính bẩm sinh, tại sao?
Vì ở động vật bậc thấp có hệ thần kinh dạng lưới hoặc hệ thần kinh dạng
chuỗi hạch cấu tạo khá đơn giản, có số lượng tế bào thần kinh không nhiều
khả năng học tập rất thấp, việc học tập và rút kinh nghiệm rất khó khăn.
Hơn nữa tuổi thọ của chúng thường ngắn nên không có nhiều thời gian cho
việc học tập.
- Tủ lạnh: Hạn chế mở tủ để đỡ tốn điện. Nhiệt độ bên trong tủ lạnh nên để ở
chế độ từ 3 – 60C. Với chế độ đông lạnh thì để âm 15 0C đến âm 180C. Cứ lạnh
hơn 100C là tốn thêm 25% điện năng.
- Máy điều hòa nhiệt độ: Để nhiệt độ ở mức trên 200C. Cứ cao hơn 100C là bạn
đã tiết kiệm được 10% điện năng. Nếu thường xuyên lau chùi bộ phận lọc thì sẽ
tiết kiệm được từ 5 - 7% điện năng. Nếu đặt máy xa tường, sẽ tiết kiệm 20 25% điện năng. Nên tắt máy điều hòa nếu bạn vắng nhà 1 giờ trở lên.
7. Tại sao phải sử dụng tiết kiệm điện?.
- Vì điện năng không phải là vô tận. Nếu dùng hoang phí thiếu điện mất
điện ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt.
- Vì để sản xuất điện năng, con người phải khai thác than và điều đó làm ô
nhiễm môi trường và có thể gây nguy hiểm (như sập hầm, nổi khí metan...),
sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng mà ta thấy rất rõ là không khí ô
nhiễm nặng, nhiệt độ Trái Đất ngày càng tăng....
- Vì để sản xuất điện năng, con người phải xây đập thủy điện ngăn dòng chảy
của các con sông, làm hồ chứa nước thay đổi môi trường sinh thái, gây
ra hiện tượng thiếu nước tưới tiêu của các vùng hạ lưu.
- Tiết kiệm điện là tiết kiệm được 1 khoản chi tiêu cho gia đình.
8. Muốn hình thành 1 tập tính học được ở 1 loài động vật thì ta phải làm gì?
(HS tự chọn 1 loài vật nuôi: chó, mèo, gà ...)
Vd. Khi nuôi mèo trong nhà ta phải rèn cho chúng đi vệ sinh đúng nơi quy
23
định. Cụ thể: xích mèo cạnh cái thau có để sẵn tro bếp hoặc xỉ than 3 – 5
ngày cho mèo quen với vị trí đi vệ sinh. Hàng ngày phải thay xỉ than hoặc
tro bếp sạch vì mèo rất sạch sẽ.
+ Phiếu học tập số 2.
Lớp:........................
Nhóm:....................
vàng chạy xuống bếp. Đây là một ví dụ về hình thức học tập :
24
A. Quen nhờn
B. Điều kiện hoá đáp ứng
C. Học khôn
D. Điều kiện hoá hành động
Câu 2 : Thầy dạy toán yêu cầu bạn giải một bài tập đại số mới. Dựa vào những kiến
thức đã có, bạn đã giải được bài tập đó. Đây là một ví dụ về hình thức học tập:
A. Điều kiện hoá đáp ứng
B. In vết
C. Học ngầm
D. Học khôn
Câu 3 : Nếu thả một hòn đá nhỏ bên cạnh con rùa, rùa sẽ thụt đầu và chân vào mai.
Lặp lại hành động đó nhiều lần thì rùa sẽ không rụt đầu vào mai nữa. Đây là một ví
dụ về hình thức học tập:
A. In vết
B. Quen nhờn
C. Học ngầm
D. Học khôn
3. Theo em thói quen đi học muộn là một thói quen tốt hay xấu? Em hãy chỉ
ra nguyên nhân khiến cho nhiều bạn học sinh hay đi học muộn? Tại sao lại
phải đi học đúng giờ?
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
Lớp:........................
Nhóm:....................
- Vịt vừa mới nở thường
đi theo vật chuyển động
mà nó nhìn thấy đầu tiên
- Khi cho cá ăn thì gõ
kẻng, hành động được
lặp lại nhiều lần. Nếu
chỉ gõ kẻng cá vẫn bơi
25