SKKN Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành Giáo viên Nguyễn Thị Thanh Hà - Pdf 36

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senegan (2000),
Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói
rằng: “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình
giáo dục kĩ năng sống phù hợp”. Còn trong mục tiêu 6, yêu cầu “Khi đánh giá
chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kĩ năng sống của người học”. Như vậy,
học kĩ năng sống trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải
được thể hiện cả trong kĩ năng sống của người học.
Đất nước Việt Nam đang bước vào thời kì mới – thế kỉ của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và trong thế kỉ này con người được đặt ở trung tâm chiến lược
phát triển kinh tế – xã hội. Trong đó, lớp thiếu niên nhi đồng hôm nay sẽ là
những công dân, những người chủ tương lai của đất nước. Do đó, Giáo dục và
kĩ năng sống cho học sinh ở lứa tuổi Trung học cơ sở (THCS) đăc biệt là ở khu
vực ngoại thành ngày càng trở nên quan trọng.
Việc thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông là đổi mới đồng bộ các phương
diện giáo dục từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến cách thức đánh
giá, nhằm thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học tương tác, giúp
học sinh phát triển năng lực cá nhân, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, năng lực tự học, năng lực hợp tác, rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, có tình cảm nhân văn và niềm vui, hứng thú
trong học tập. Đồng thời giúp học sinh thích ứng với cuộc sống xã hội hiện tại, với
những tác động của tự nhiên, xã hội. Thúc đẩy các em học sinh tham gia các hoạt
động mang tính xã hội, phát huy nhân tố tích cực, hạn chế nhân tố tiêu cực, xây dựng
môi trường sống thân thiện, tích cực ở địa phương; đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn
diện; phù hợp với quan điểm giáo dục của UNESCO đó là: Học để biết; học để làm;
học để tồn tại; học để chung sống.
Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêu tạo ra
nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phất triển kinh tế xã hội, mà còn hướng đến

sinh là khoảng cách giữa thầy và trò khi các em mắc lỗi thường các thầy, cô
giáo hay dùng hình thức trách phạt, kỷ luật mà ít khi lắng nghe các em giãi
bày... Nay với việc chú trọng rèn kỹ năng sống cho học sinh mà đòi hỏi cần có
sự ân cần chỉ bảo, phân tích, nghe các em nói lên những suy nghĩ, dẫn đến việc
làm chưa phù hợp với chuẩn đạo đức người học sinh. Việc giáo dục đạo đức,
hình thành các kỹ năng sống tối thiểu của các em sẽ được lồng ghép trong các
chương trình học tập, được tích hợp trong các bộ môn và còn được trải nghiệm
qua thực tế nên đã gây được hứng thú cho các em trong việc tu dưỡng đạo đức,
hướng thiện và nâng cao được năng lực học tập, sáng tạo. Từ đó, các em có
nhận thức đúng đắn và thực hiện nội qui, qui định của nhà trường.
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
“Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành” sẽ
đáp ứng được mục tiêu giáo dục toàn diện theo chương trình đào tạo của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, giúp các em học để biết, học để làm, học để tồn tại và học
để chung sống. Tăng cường được chất lượng giáo dục ở mọi lĩnh vực và khẳng
định rằng mọi học sinh nhận thức được mục tiêu học tập, phấn đấu vươn lên
2/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
nắm tri thức. Đồng thời thúc đẩy được những hoạt động mang tính xã hội, phát
huy được những nhân tố tích cực, hạn chế được những nhân tố tiêu cực đáp ứng
tốt cho phong trào xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực, tạo ra
môi trường giáo dục lành mạnh, trong sạch trong nhà trường.
Qua việc “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại
thành” sẽ làm cho các em đổi mới phương pháp học tập của mình. Từ đó giúp
các em có khả năng học tập tốt hơn, các tư duy hoạt động của các em được phát
triển, các em biết lập luận, tự tin nắm kiến thức và giải quyết các tình huống
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1. Phạm vi nghiên cứu: Trường THCS...huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

cá nhân trong các hành vi tích cực, để xử lý hiệu quả những đòi hỏi, thách thức
cuộc sống.
Cũng có quan niệm coi kỹ năng sống là khả năng thực hiện một hành động
hay hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh
nghiệm để hành động trong sự thực hiện mục đích, trong hoàn cảnh thực thế.
Tóm lại: Những quan niệm nêu trên đều chứa một nội hàm: Kỹ năng sống
là khả năng thực hiện hành động, hay hoạt động, là năng lực ứng xử tích cực
trước những thách thức của đời sống và chỉ có được khi được rèn luyện, tích
lũy kinh nghiệm và biết lựa chọn một cách hợp lý để giải quyết các vấn đề trong
tự nhiên, trong xã hội và trong chính cá nhân con người.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.
Bước vào tuổi thiếu niên, trong độ tuổi đi học THCS các em bắt đầu muốn
tự mình xem xét các sự việc, không muốn sự can thiệp của người khác, kể cả bố
mẹ. Sự phát triển của “tự ý thức” đòi hỏi thiếu niên luôn muốn thoát khỏi mối
quan hệ phụ thuộc trước kia để trở thành cá thể độc lập... Nhưng giữa những
mong muốn mang tính chủ quan, cá nhân và những thách thức cuộc sống đôi
lúc không có sự tương ứng nên các em rơi vào trạng thái có thái độ phản kháng
bằng các hính thức như: lì lợm, lạnh nhạt,... bất hợp tác, thậm trí còn tỏ thái độ
bất cần đời.
Thực tế cho thấy, những năm gần đâ, tình trạng thanh thiếu niên đặc biệt là
các em ở độ tuổi trung học cơ sở, phạm pháp ngày càng gia tăng với các mức độ
ngày càng nghiêm trọng. Với độ tuổi học sinh trung học cơ sở về mặt phát triển
4/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
tâm, sinh lý các em dễ rơi vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật ảnh hưởng rất xấu
cho môi trường học đường và xã hội. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng này, nhưng một trong những nguyên nhân chính là học sinh ngày càng
thiếu kỹ năng sống cần thiết để hòa nhập với môi trường phát triển nhanh chóng.

đến giáo viên việc nghiên cứu, cải tiến nâng cao chất lượng giảng dạy theo
hướng phát huy tính tích cực của học sinh, không ngừng đổi mới phương pháp
dạy học phù hợp với nội dung chương trình. Và đặc biệt chú trọng đến việc
5/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
"Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh". Nhà trường coi đây là một trong
những yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục: “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Mỗi thầy cô giáo tâm huyết,
trách nhiệm hơn trong việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh. Mỗi giáo
viên trong nhà trường không chỉ nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ,
mà còn thường xuyên quan tâm đến đời sống, tâm tư tình cảm của học sinh song
hiệu quả còn chưa cao.
Từ những thực trạng trên đây, việc "Giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh
khu vực ngoại thành" là một việc làm vô cùng cần thiết giúp cho các em say
mê, hứng thú trong học tập, các em thấy mình mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự
tin hơn trong việc thể hiện những năng lực của bản thân.
Vậy làm thế nào để chúng ta"Giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh khu
vực ngoại thành"? Tôi nghĩ có nhiều phương pháp, nhiều cách thức để thực
hiện việc này. Nhưng trong bài viết này, tôi xin đưa ra Một số kinh nghiệm
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành để góp một
phần nhỏ vào việc thực hiện nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục kỹ năng
sống trong nhà trường góp phần vào thực hiện mục tiêu giáo dục con người
phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ trên cơ sở tiếp thu được các kỹ
năng sống đầy đủ.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ MÀ SKKN ĐỀ CẤP ĐẾN
I. NHỮNG KHÓ KHĂN.
Để xây dựng nội dung tiết học và giảng dạy có hiệu quả đối tượng nghiên
cứu của tôi là các em học sinh Trường THCS... Đây là địa bàn dân sinh sống

1. Nhóm kĩ năng nhận thức:
+ Nhận thức bản thân.
+ Xác định điểm mạnh, điểm yếu cho bản thân.
+ Xây dựng kế hoạch cho bản thân.
+ Khắc phục khó khăn để đạt được mục tiêu.
+ Rèn kĩ năng tư duy tích cực và sáng tạo.
2. Nhóm kĩ năng xã hội:
+ Kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ.
+ Kĩ năng giao tiếp không lời.
+ Kĩ năng thuyết trình và nói trước đám đông.
+ Kĩ năng từ chối.
+ Kĩ năng diễn đạt cảm xúc và phản hồi.
+ Kĩ năng hợp tác.
+ Kĩ năng làm việc nhóm.
+ Kĩ năng vận động và gây ảnh hưởng.
+ Kĩ năng ra quyết định.
3. Nhóm kĩ năng quản lí bản thân:
+ Kĩ năng làm chủ cảm xúc.
+ Kĩ năng vượt qua lo lắng, sợ hãi.
+ Kĩ năng khắc phục tức giận.
+ Kĩ năng quản lý thời gian, nghỉ ngơi tích cực, giải trí lành mạnh.
Với việc chia nhóm các kĩ năng trên mà chúng ta đưa ra những giải pháp
thiết thực phù hợp với thực tiễn, đặc điểm học sinh của từng địa phương, mà
tiến hành việc rèn kĩ năng sống cho các em mới đạt được kết quả cao.
7/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
Chương III. NHỮNG GIẢI PHÁP MANG TÍNH KHẢ THI.
Ngay từ đầu năm học 2014 – 2015, tôi đã thực hiện một số giải pháp sau

THCS ...
Bằng những câu hỏi trắc nghiệm cho học sinh về các hành vi và cử chỉ yêu
cầu nhận thức đánh dấu các hành vi cho là đúng, sai. Thông qua đó giúp các em
hình thành những kỹ năng tối thiểu trong nhận thức phạm trù đạo đức, từ đó
hình thành những thói quen cần thiết hằng ngày như: thói quen thực hiện nề
8/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
nếp, chào hỏi, giúp bạn... Việc làm này chúng ta có thể tiến hành ngay trong các
tiết dạy trên lớp, giờ sinh hoạt lớp với các câu hỏi phù hợp và bằng giao tiếp nói
chuyện xem các em nhận thức các nhóm kĩ năng sống đã nêu ở trên. Từ đó tìm
giải pháp thích hợp giúp các em có được kĩ năng sống tốt hơn.
Dùng phiếu điều tra để tổng hợp, đánh giá, so sánh việc xử lí các tình
huống của học sinh THCS… Từ đó phân ra các nhóm đối tượng và đưa ra giải
pháp cho từng nhóm một cách thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng
sống cho các nhóm đối tượng.
III. GIẢI PHÁP THỨ BA: Quan sát, tiếp xúc, giúp đỡ, tư vấn học sinh
rèn kỹ năng sống.
Qua quá trình quan sát học sinh ngoại khóa ngoài giờ lên lớp, trong các tiết
học đặc biệt giờ ra chơi và các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, các buổi giao
lưu văn hóa, văn nghệ... giáo dục giới tính để tìm ra các kĩ năng sống còn thiếu
hoặc chưa đầy đủ, còn sai lệch của học sinh. Từ đó giúp các em điều chỉnh lại
hành vi sửa chữa thói quen không tốt, giải quyết các tình huống nảy sinh một
cách đúng đắn. Với phương pháp này các thầy, cô phải tạo ra được uy tín, tình
cảm thân thiện với học sinh, tạo cho em niềm tin, và trở thành người tư vấn tin
cậy của các em qua đó giúp các em khẳng định bản thân dám nghĩ, dám làm,
dám đấu tranh với sai trái của các bạn và có kỹ năng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn,
sự thành công của mình và của bạn.
IV. GIẢI PHÁP THỨ TƯ: Tổ chức cho học sinh thực hành kĩ năng sống.

Trong cuộc sống mỗi ngày một người có thể phải ra nhiều quyết định. Tùy
theo tình huống xảy ra, người ta phải lựa chọn để ra một quyết định nhưng đồng
thời cũng phải ý thức được các tình huống có thể xảy ra do sự lựa chọn của
mình. Do đó, cần phải cân nhắc thận trọng trước khi quyết định, lường trước
được những hậu quả của nó. Kĩ năng này nhằm giúp học sinh:
- Luyện kĩ năng suy nghĩ có phê phán, tư duy sáng tạo, kĩ năng giải quyết
vấn đề một cách có cân nhắc cái hại, cái lợi của từng giải pháp để cuối cùng có
được quyết định đúng đắn.
+ Tư duy phê phán: Thanh thiếu niên lớn lên trong thế giới hôm nay phải
đương đầu với nhiều vấn đề, nhiều tình huống trong cuộc sống đòi hỏi thường
xuyên phải ra những quyết định phù hợp, nếu không sẽ phải trả giá cho những
quyết định sai lầm. Vì vậy, phải có khả năng phân tích một cách có phê phán
môi trường sống và những thông tin đa dạng, phức tạp tác động đến một cách
dồn dập.
+ Tư duy sáng tạo: Cuộc sống của con người luôn tiếp cận với các sự việc
mới, đó chính là tư duy sáng tạo. Điều đó rất quan trọng trong kĩ năng sống bởi
vì con người thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ và không bình
thường. Trong hoàn cảnh đó, đòi hỏi phải có tư duy sáng tạo để có thể đáp ứng
lại một cách phù hợp.
+ Giải quyết vấn đề: Chỉ có thể thông qua việc thực hành ra quyết định và
giải quyết vấn đề thì thanh thiếu niên mới có thể xây dựng được những kĩ năng
cần thiết có những lựa chọn tốt trong bất kì hoàn cảnh nào mà họ phải đối mặt.
3. Kĩ năng kiên định.
Là kĩ năng thực hiện được những gì mình muốn hoặc từ chối bằng được
những gì mình không muốn với sự tôn trọng có xem xét tới quyền và nhu cầu
của người khác. Đó là tính kiên định theo chiều hướng tích cực.

10/30



4. Kỹ năng giao tiếp.
Kỹ năng giao tiếp giúp cho quá trình tương tác giữa các cá nhân trong
nhóm với tập thể đông đảo hơn, giúp cá nhân bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc và tâm
trạng của mình, giúp người khác hiểu mình rõ hơn. Từ đó có thái độ cảm thông
đối với người khác cũng góp phần giúp họ giải quyết vấn đề mà họ gặp phải.
a. Kỹ năng hợp tác và làm việc tập thể: Là các yếu tố quan trọng trong kỹ
năng giao tiếp, giúp đem lại hiệu quả cao cho nhóm và giúp cá nhân tăng cường
sự tự tin và hiệu quả trong việc thương thuyết, xử lí tình huống và giúp đỡ người
11/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
khác. Khi giao tiếp có khả năng thực hành giao tiếp có hiệu quả. Biết lắng nghe
và tôn trọng ý kiến của người khác
b. Kỹ năng thiết lập tình bạn: Mỗi cá nhân cần có nhiều bạn bè để chia sẻ,
bày tỏ, thổ lộ những điều mà mình quan tâm. Việc thiết lập tình bạn bắt đầu từ
giai đoạn sớm nhất của cuộc đời, nhưng thanh thiếu niên cần phải nhận biết
được tình bạn hình thành như thế nào, phải thiết lập và phát triển ra sao để cả hai
bên cùng có lợi, tránh những hành vi nguy hiểm như quan hệ tình dục bừa bã,
nghiện ma túy, trộm cắp, cờ bạc…
c. Kỹ năng thương lượng: Thương lượng là một kỹ năng quan trọng trong
mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau. Nó liên quan đến tính kiên định, sự cảm
thông cũng như khả năng đương đầu với sự đe dọa hoặc rủi ro tiềm tàng trong
mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau kể cả sức ép của bạn bè hoặc xác định rõ
vị trí của cá nhân và thiết lập sự hiểu biết cho nhau.
d. Kỹ năng giải quyết xung đột không dùng bạo lực: Xung đột là điều
không thể tránh khỏi và đôi khi lại là cần thiết xong kỹ năng giải quyết xung đột
trên cơ sở xây dựng. Kỹ năng này giúp cá nhân giải quyết tình huống của bản
thân hoặc giúp người khác hiểu và giải quyết xung đột không dùng bạo lực.
Khi trong quan hệ cá nhân hay nhóm bạn có mâu thuẫn dẫn đến xung đột

h. Kỹ năng lắng nghe:
+ Lắng nghe thế nào.
+ Ngừng làm việc, ngừng xem Tivi, ngừng đọc.
+ Nhìn vào người nói.
+ Giữ khoảng cách phù hợp giữa hai người.
+ Đừng quay sang hướng khác khi người nói đang nói.
+ Tư thế ngồi ngay ngắn.
+ Hãy gật đầu và nói “vâng, vâng”, “tôi hiểu”… để cho người đối thoại biết
rằng bạn đang thực sự lắng nghe và hiểu những gì anh ấy/ cô ấy nói.
+ Nếu bạn không hiểu, hãy nói cho họ biết, đừng giả vờ lắng nghe.
+ Nhắc lại các cụm từ mang thông tin chính để nắm rõ hơn những gì người
đối thoại đang nói.
+ Đừng ngắt lời người đang nói.
Con người quan hệ với nhau nhờ có sự giao tiếp. Giao tiếp có thể bằng lời
nói hay cử chỉ, điệu bộ giúp cho mọi người hiểu nhau. Do vậy một trong những
kỹ năng quan trọng nhất của mỗi người là giao tiếp một cách hiệu quả với mọi
người. Muốn giao tiếp có hiệu quả phải có kỹ năng lắng nghe, biết quan sát và
hiểu được người khác thực hiện việc giao tiếp như thế nào cũng như người ta
giao tiếp với nhau bằng nhiều cách khác nhau ra sao?
Ngay từ khi mới đến trường, em nào có kỹ năng giao tiếp tốt sẽ nhanh chóng
xóa đi những bỡ ngỡ ban đầu và sẽ thiết lập được mối quan hệ gần gũi với bạn bè,
thầy cô giúp cho mình tự tin hơn trong học tập, năng động hơn trong việc tham
gia các hoạt động của trường, dễ được mọi người thông cảm, thương yêu.
i. Kỹ năng chào hỏi, làm quen với mọi người khi gặp gỡ:
Chào hỏi là một phép lịch sự tối thiểu và rất cần thiết để bày tỏ sự tôn
trọng, tình cảm giữa con người với con người. Mỗi dân tộc, tôn giáo, tín
nguỡng, địa phương, lứa tuổi có những quy tắc chào hỏi riêng. Cách chào hỏi
phải thể hiện sự tôn trọng, chân thành, giản dị, thân thiện và phù hợp với tuổi
tác, giới tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội, tính chất mối quan hệ của bạn với
người đó, phong tục tập quán, không gian thời gian, địa điểm gặp gỡ như:

bạn đồng lứa hoặc em nhỏ mình cũng phải biết nói lời cảm ơn để bày tỏ sự biết
ơn đối với người đã quan tâm, giúp đỡ mình dù chỉ là việc rất nhỏ.
Ngược lại, nếu người khác hỏi mình điều gì mà mình biết thì thiệt tình trả
lời, chỉ dẫn rõ ràng, chính xác, nếu không biết hoặc lỡ lời nói sai thì phải xin lỗi
họ, chứ không được lẳng lặng bỏ đi, đặc biệt khi bạn có lỗi hoặc làm phiền
người khác bạn cần nói lời xin lỗi là để bày tỏ sự ân hận hoặc băn khoăn vì việc
làm của mình đối với người khác.
Ví dụ: Em xin lỗi đã làm anh không vui.
Nói lời cám ơn hoặc xin lỗi với người khác, dù là bạn bè, người thân là cần
thiết để thể hiện lòng tự trọng và tôn trọng với người khác.

14/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
Khi bạn cần sự giúp đỡ, hỗ trợ của người nào đó mà bạn tin cậy để giúp
bạn giải quyết khó khăn thì bạn phải khiêm tốn, trình bày rõ ràng và thể hiển sự
tôn trọng họ.
Ví dụ: Chị có thể chỉ cho em Văn phòng nhà trường ở đâu không ạ?
l. Kỹ năng của sự cảm thông và chia sẻ với bạn bè:
Bạn bè trong lớp, hoàn cảnh không giống nhau (có bạn gia đình kinh tế
khá, có bạn nhà rất nghèo, có bạn nhà đông anh chị em, có bạn mồ côi từ bé, có
bạn tiếp thu nhanh bài học, có bạn yếu, học kém, có bạn bị khuyết tật..). Có thể
nói, mỗi người đến trường đều phải đương đầu với những khó khăn thử thách,
và họ rất cần đến sự cảm thông, chia sẻ của bạn bè, người thân và những người
xung quanh. sự cảm thông chia sẻ sẽ giúp cho các bạn đó giảm bớt nỗi đau,
vững tin hơn, có thêm sức mạnh, vựơt qua thử thách để cùng mọi người tiếp tục
an tâm học tập, Bên cạnh đó cũng có bạn thường hay ghen tị, coi khinh bạn bè,
thích làm “thủ lĩnh”, nên dễ gây ra những hành động xấu, lời nói thô lỗ. Đối với
những người đó, bạn nên tìm hiểu thêm hoàn cảnh của họ bằng cách gần gũi tâm

Đây là một loại hình hoạt động quan trọng, không thể thiếu được trong sinh
hoạt tập thể của trẻ em, nhất là học sinh THCS. Hoạt động này bao gồm nhiều
thể loại khác nhau: Hát, múa, thơ ca, kịch ngắn, kịch câm, tấu vui, độc tấu, nhạc
cụ, thi kể chuyện… Các hoạt động này góp phần hình thành cho các em kỹ năng
mạnh dạn, tự tin trước đám đông. Đây là một trong những kỹ năng rất quan
trọng trong xu thế toàn cầu hóa. Xác định được tầm quan trọng của hoạt động
này nhà trường đã thường xuyên tổ chức các hoạt đông phù hợp với chủ điểm
từng tháng.
2. Hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao:
- Thi các trò chơi dân gian.
- Thi cắm hoa.
- Thi Mâm ngũ quả.
Vui chơi, giải trí là nhu cầu thiết yếu của trẻ, đồng thời là quyền lợi của các
em. Nó là một loại hoạt động có ý nghĩa giáo dục to lớn đối với học sinh ở
trường THCS. Hoạt động này làm thỏa mãn về tinh thần cho trẻ em sau những
giờ học căng thẳng, góp phần rèn luyện một số phẩm chất: tính tổ chức, kỉ luật,
nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái… Nói về hoạt
động này thì nhà trường đã tổ chức thực hiện có hiệu quả đạt mục tiêu đã đề ra.
3. Hoạt động xã hội:
- Hoạt động ngoại khóa: Đền Hùng, K9, Đền Gióng, Đầm Long, dã ngoại…
- Hoạt động trải nghiệm: Thăm làng nghề…
- Chăm sóc nghĩa trang liệt sỹ xã….
- Mời Cựu chiến binh của xã… nói chuyện truyền thống lịch sử dân tộc.
- Ủng hộ bạn có hoàn cảnh khó khăn, giúp em Quang khám và chữa bệnh
hiểm nghèo…
Bước đầu đưa học sinh vào các hoạt động xã hội để giúp các em nâng cao
hiểu biết về con người, đất nước, xã hội. Đây là một hoạt động tuy khó nhưng
nó mang một ý nghĩa vô cùng to lớn. Thông qua hoạt động này, giáo dục cho
các em tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc và giáo dục các em có
tinh thần trách nhiệm, có nghĩa vụ đối với cộng đồng; các em sẽ được bồi dưỡng

học sinh. Thông qua những hoạt động này, nhà trường muốn rèn luyện cho các
em học sinh tính đoàn kết tập thể, khả năng làm việc theo nhóm. Đồng thời xây
dựng tinh thần chia sẻ, ý thức trách nhiệm cho các em. Khi tổ chức hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp "Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu
vực ngoại thành", trong mọi hoạt động của nhà trường, tôi đã tiến hành nhận
xét và đánh giá những yêu cầu đã đặt ra, đồng thời rút kinh nghiệm trong cách tổ
chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Và tôi nhận thấy:
1. Đối với học sinh:
- 100% học sinh của lớp rất hào hứng và thích thú với hoạt động này. Nó
đã cuốn hút các em; khuyến khích các em cố gắng vươn lên, tạo điều kiện cho
tất cả học sinh cùng tham gia và có cơ hội trình bày, trao đổi và nhận xét lẫn
nhau. Từ đó giúp cho các em nắm những kỹ năng sống cơ bản như khả năng
nhanh nhẹn, khéo léo, mạnh dạn, tự tin và tạo không khí thi đua lành mạnh.
17/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
Các em đã bổ sung cho bản thân được các kỹ năng sống tối thiểu mà trước
đây các em không để ý tới như các xưng hô, lễ phép với thầy cô, với khách, với
người lớn tuổi; các em biết ứng xử thân thiện hơn trong mọi tình huống, đã biết
kiềm chế bản thân, biết làm việc theo nhóm, bước đầu có kỹ năng về hoạt động
xã hội. Các em đã biết giữ gìn sức khỏe, có ý thức bảo vệ bản thân. Thông qua
việc rèn kỹ năng sống các em đã có ý thức tốt hơn trong học tập trên lớp và ý
thức tự học của các em có tiến bộ rõ nét. Các em đã thể hiện được bản thân dám
đấu tranh với thói hư tật xấu và mạnh dạn lên án thói hư tật xấu, biết phân biệt
đúng sai và dám chịu trách nhiệm việc mình làm.
Chính nhờ việc chú trọng giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp của nhà trường đã tạo tinh thần đoàn kết, gắn bó, quan tâm
giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, học sinh nỗ lực tiếp thu bài giảng và tìm tòi
những kiến thức liên quan đến bài học để liên hệ áp dụng vào thực tiễn, qua đó

Học sinh đã nhận thức tốt về mối quan hệ thầy trò, thầy giáo cô giáo là
những người cho ta kiến thức, dạy ta cách làm người, học sinh phải luôn luôn
tôn trọng, lễ phép. Khi giao tiếp các em đã biết thưa gửi, biết thể hiện các hành
động tôn trong thầy cô giáo, lòng biết ơn công lao người dạy bảo mình mong
cho mình tiến bộ. Đồng thời nhiều em đã biết phê phán những hành vi không
đúng đối với thầy cô giáo của các bạn khác.
Mối quan bạn bè cùng trường, cùng lớp các em đã hòa đồng hơn, gần gũi,
thân thiện, đoàn kết, biết giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn, biết chia sẻ niềm
vui với nhau, vui trước thành công của bạn.
Qua việc rèn kỹ năng học tập trên lớp và tự học tập đã giúp các em tự giác
rèn ý thức học tập, tự giác học tập, rèn luyện tính trung thực. Qua việc tiếp xúc
trao đổi với thầy cô nhiều em đã trở nên cần cù, chịu khó hơn và có chuyển biến
tốt trong ý thức học tập, vươn lên.
Với các nhóm giải pháp rèn kỹ năng sống cho học sinh đã tác động đến tâm
lý các em giúp các em biết lắng nghe. Đứng trước một việc định làm các em đã
biết suy nghĩ cân nhắc trước khi hành động. Đứng trước một tình huống các em
đã biết suy nghĩ để giải quyết, ứng xử hợp lý, thể hiện được bản lĩnh cá nhân.
Trong sinh hoạt tập thể, sinh hoạt nhóm đã có ý thức trách nhiệm, phối kết hợp
với thành viên để hoàn thành công việc tốt hơn. Sau một năm học chỉ đạo, thực
hiện đề tài trong nhà trường THCS…, đã mang lại nhiều kết quả thiết thực cho
nhà trường; không còn hiện tượng học sinh bất hòa, gây gổ đánh nhau, không
còn học sinh mang quà vào lớp học, không có học sinh trốn học, nghỉ học
không lý do, việc thực hiện đồng phục, mang khăn quàng được các em thực hiện
tự giác, ý thức trách nhiệm và sự cố gắng hoàn thành công việc được giao của
các em được nâng lên rõ rệt... Ý thức học tập, tự học tập đã có nhiều chuyển
biến tích cực. Phong trào “xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực”
được củng cố và phát triển. Có thể nói thông qua việc quan tâm giúp đỡ học sinh
rèn kỹ năng sống đã góp phần tích cực trong việc hoàn thành nhiệm vụ năm học
và có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục toàn diện của nhà trường.
2. Đối với phụ huynh học sinh:


20/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
PHẦN III
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Từ thực tiễn tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm "Giáo
dục kỹ năng sống cho học sinhTHCS khu vưc ngoại thành" ở trường
THCS… tôi có thể rút ra một số kết luận sau đây:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động, để học sinh
tự cảm nhận, đánh giá, nhận xét qua các hành vi và từ đó hình thành các kỹ
năng; thực hiện sự phối hợp trong và ngoài nhà trường làm tốt công tác xã hội
hoá trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Giáo dục kỹ năng sống trong trường học góp phần rèn luyện, hình thành
cho học sinh sống có trách nhiệm hơn và biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp,
ứng phó các sức ép, thách thức trong cuộc sống; thúc đẩy hành vi mang tính xã
hội, giảm bớt tỷ lệ phạm pháp.
Giáo dục kỹ năng sống còn tạo mối quan hệ thân thiện, cởi mở giữa thầy,
trò, sự hứng thú tự tin, chủ động sáng tạo trong học tập, nâng cao chất lượng,
hiệu quả giáo dục. Học sinh được giáo dục kỹ năng sống xác định được bổn
phận và nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình và xã hội.
Giáo dục kỹ năng sống còn cần đến vốn sống, tình thương và nhân cách
của người thầy. Học sinh học kiến thức ở thầy trước hết là ở tấm gương sống
của người thầy. Vì vậy, để học sinh không thất vọng vì thầy thì trước hết “mỗi
thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” mà ngành Giáo dục
đang vận động.
Giáo dục kỹ năng sống cần cho suốt cả cuộc đời và luôn luôn được bổ
sung, nâng cấp để phù hợp với sự thay đổi của cuộc sống biến động. Người

viên về phương pháp và kiến thức để thực hiện rèn kĩ năng sống cho học sinh.
+ Tạo điều kiện hơn nữa về thời gian, hỗ trợ kinh phí cho học sinh được
học tập ngoại khóa nhiều hơn và được trải nghiệm thực tế nhiều hơn.
+ Tuyên dương, khen thưởng kịp thời đối với những giáo viên làm công
tác chủ nhiệm giỏi trong nhà trường.
3. Đối với Giáo viên: cần quan tâm thực hiên từng “bước nhỏ” chú ý
giúp đỡ, rèn kỹ năng sống cho học sinh từ những kỹ năng tối thiểu trong cuộc
sống hàng ngày đến các quy định, ứng xử, xử lý tình huống ở mọi nơi mọi lúc
khi tiếp xúc với học sinh, gần gũi với các em và thể hiện đúng lương tâm trách
nhiệm người thầy, coi học sinh là con, em của mình để giúp các em có những kỹ
năng phù hợp chuẩn đạo đức học sinh.
Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm này là do tôi nghiên cứu và viết,
không sao chép của ai. Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016

22/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
PHỤ LỤC
(Hình ảnh minh họa và phiếu hỏi)
I. PHIẾU TRẮC NGHIỆM
KỸ NĂNG SỐNG CỦA HỌC SINH THCS KHU VỰC NGOẠI THÀNH
Qua khảo sát thực nghiệm đối với học sinh trường THCS…, để có những
nhận xét, đánh giá chính xác, tôi đã đưa ra một số phiếu khảo sát nhằm tìm hiểu
thực trạng và nhu cầu cần được giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS…
như sau:
(Đánh dấu ( v) vào ý bạn chọn)
Câu 1: Theo bạn, kỹ năng giao tiếp tốt sẽ quyết định bao nhiêu sự thành công


23/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
Câu 6: Bạn kiểm soát những tình huống mới một cách khá thỏai mái và dễ
dàng?
a. Không bao giờ
b. Hiếm khi
c. Thỉnh thoảng
d. Thường xuyên
e. Luôn luôn
Câu 7: Bạn được rèn luyện kỹ năng sống ở đâu?
a. Nhà trường
b. Gia đình
c. Bạn bè
d. Tất cả
Câu 8: Bạn thường rèn luyện kỹ năng sống của mình bằng cách nào?
a. Trong hoạt động vui chơi với bạn bè.
b. Trong học tập ở nhà trường.
c. Trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.
d. Trong công việc hàng ngày.
Câu 9: Bạn được trường tổ chức giáo dục kỹ năng sống bao lâu một lần?
a. Thường xuyên (một tuần một lần)
b. Thỉnh thoàng (một tháng một lần)
c. Hiếm khi
d. Không bao giờ
Câu 10: Trong tiết học, giáo viên có kết hợp giữa việc dạy kiến thức trong bài
học với việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh hay không?
a. Thường xuyên

2,0
5,6
16,0
10,6
9,8
14,5
6,4
13,8
27,4
49,2

Tỉ lệ (%)
c
42,4
0
33,6
19,5
54,8
37,9
2,4
14,6
46,0
10,5

d
35,2
88,0
9,6
26,8
18,5

24/30


Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS khu vực ngoại thành.
giáo dục đúng đắn về các kỹ năng sống. Vì vậy, các em cần phải được rèn luyện và
giáo dục đúng đắn về kỹ năng sống.

I. HÌNH ẢNH MINH HỌA.

25/30



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status