Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
Đề tài:
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA TÁC PHẨM
VĂN HỌC DÂN GIAN KHỐI 10
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Kỹ năng sống là yếu tố cần thiết trong mọi thời đại đặc biệt là trong thời kì
hội nhập. Xuất phát từ nhu cầu đó Bộ Giáo dục và Đào tạo lồng ghép kỹ năng
sống vào trong chương trình học của học sinh.
Trong “ Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020”
(Dự thảo lần thứ 14) nêu rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người
Việt Nam phát triển toàn diện góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất
nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công
1
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giáo dục và Đào tạo phải góp phần tạo nên một
thế hệ người lao động có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy
phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề
nghiệp để làm việc hiệu quả ở môi trưởng toàn cầu hóa, vừa hợp tác vừa cạnh
tranh”. Có thể khẳng định, mục tiêu giáo dục toàn diện không thể đạt được nếu
không giáo dục kỹ năng sống. Hơn nữa, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh được
xác định là một trong những nội dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Có thể nói, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, để thế hệ trẻ đáp ứng
nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp
ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, người giáo viên
phải làm sao hướng học sinh đến cách tiếp cận kĩ năng sống, kĩ năng sống thực
có khả năng giáo dục các em tự tìm tòi, học hỏi, tự vận dụng những điều đã học
vào thực tế cuộc sống. Đó chính là lí do tôi chọn đề tài “Giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10”.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I. Cơ sở lí luận
Vấn đề tích hợp trong dạy học ngữ văn trung phổ thông là một trong những
việc làm đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học trong chương trình sách
giáo khoa mới mà chúng ta đã thực hiện trong những năm qua. Tích hợp các nội
dung giảng dạy đối với các bộ môn khoa học xã hội là mối liên hệ bên trong, mối
liên hệ bản chất của nội dung – tư duy – tư tưởng, luôn tiềm ẩn và rất linh hoạt.
Trong chương trình giảng dạy, giáo viên Ngữ văn không chỉ cần có sự tích hợp
nội dung kiến thức, kĩ năng của ba phân môn Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn mà
còn phải tích hợp nội dung kiến thức, kĩ năng của các môn học khác có liên quan,
các vấn đề trong thực tiễn đời sống và đặc biệt là các nội dung giáo dục thái độ tư
tưởng cho học sinh một cách linh hoạt, uyển chuyển và tinh tế.
3
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
Đứng trước sự phát triển nhanh chóng của nhiều lĩnh vực xã hội thì giáo dục
thời đại mới đã và đang phấn đấu đổi mới về nội dung, chất lượng và phương pháp
sao cho đạt được 2 mục tiêu lớn là đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo kỹ năng
sống cho học sinh. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt đuợc của toàn ngành
thì gần đây chúng ta thường thấy thực trạng trẻ vị thành niên có xu hướng gia tăng
về bạo lực học đường, về phạm tội, về liều lĩnh, ứng phó không lành mạnh, dễ
mắc các tệ nạn xã hội, sống ích kỷ, vô tâm, khép mình,….Đồng thời rèn kỹ năng
thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng tự phục vụ bản
thân cũng là nhu cầu cần thiết…Hơn thế nữa đứng trước thềm hội nhập quốc tế
đòi hỏi thế hệ trẻ phải tự tin; phải nắm bắt kịp thời các cơ hội cũng như phải có
số mặt giáo dục khác của Sở giáo dục). Đây là một trong những điều kiện thuận
lợi cho việc đưa hoạt động giáo dục này vào nhà trường.
- Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục kĩ năng sống với các hoạt động giáo dục vốn đã
được lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ
môi trường, phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật,… sẽ tạo nhiều cơ hội và
điều kiện để triển khai giáo dục kĩ năng sống;
- Nhìn chung hầu hết các giáo viên nói chung và giáo viên Ngữ Văn nói riêng đã
bước đầu làm quen với thuật ngữ “kỹ năng sống”, mặc dù mức độ hiểu biết có
khác nhau.
- Một số hoạt động giáo dục Kĩ năng sống đã được đa số các trường chú ý thực
hiện trong khuôn khổ và yêu cầu của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện,
HS tích cực” do Bộ GD và Ðào tạo phát động.
- Giáo dục Kĩ năng sống từ nhà trường cũng như qua các phương tiện thông tin đại
chúng đã thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của xã hội, của phụ huynh HS.
- Hình thức tổ chức giáo dục Kĩ năng sống đã bước đầu được thực hiện trong một
số môn học, thông qua hoạt động ngoại khoá và sinh hoạt câu lạc bộ với nội dung
khá đa dạng.Văn học là nhân học, từ trước đến nay đây vẫn là một bộ môn thuận
5
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
lợi để “ thay thái độ, đổi hành vi” của học sinh một cách dễ nhất thông qua các bài
học ý tứ, sâu sắc mà lại rất nhẹ nhàng.
- Lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống cho đối tượng học sinh lớp 10 – một lớp đối
tượng chưa đủ lớn nhưng cũng đủ nhận thức để rèn luyện các kĩ năng cho bản thân
mình là khá phù hợp.
- Phần văn học dân gian, từ trước đến nay vẫn luôn được coi là những bài học luân
lí sâu sắc, nhưng lại khá dễ tiếp thu vì nó ngắn gọn, dễ hiểu. Khi lồng ghép giáo
- Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về
vấn đề giáo dục và giáo dục KNS cho học sinh THPT, phân tích, tổng hợp những
tư liệu, tài liệu lý luận về giáo dục KNS.
b. Phương pháp quan sát
Nhằm chính xác hóa và phong phú thêm các số liệu đã thu được bằng cách quan
sát sự học tập của học sinh trong các giờ học văn học dân gian.
c. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động của học sinh
Nhằm hỗ trợ cho phương pháp Anket, thông qua các bài kiểm tra, bài tập về nhà,
điểm tổng kết…thông qua những đề cương, dàn ý của học sinh…từ đó thu thập
được thông tin nhằm hỗ trợ cho phương pháp điều tra.
d. Phương pháp đàm thoại
Nhằm chính xác hóa các số liệu điều tra về thực trạng nâng cao hiệu quả việc tích
hợp giáo dục kĩ năng sống qua tiết dạy văn học dân gian 10.
e. Phương pháp Anket
Là phương pháp chủ yếu nhằm giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, qua đó phát
hiện và thấy được thực trạng của học sinh trong việc học tác phẩm văn học dân gian cũng
như rèn luyện kĩ năng sống cho các em.
7
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
g. Phương pháp lấy ý kiến chuyện gia
Đây là phương pháp thu nhận thông tin nhằm có hướng tìm hiểu và phân tích sâu hơn về
các vấn đề xoay quanh tác phẩm, Kĩ năng sống cho học sinh.
h. Phương pháp thống kê toán học.
Thống kê kết quả mà học sinh thu được sau đề tài và so sánh, đối chiếu với trước khi làm
đề tài này.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
A. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
năng sống học được từ tác phẩm ấy.
- Thấy được ý nghĩa của giáo dục kĩ năng sống, để từ đó có thái độ tích cực
và hợp tác khi được học nội dung này không chỉ trong môn Ngữ văn mà với tất cả
các môn học khác.
* Tóm lại: Khi viết giải pháp này, tôi muốn các đồng nghiệp chia sẻ cùng
tôi những kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi bàn luận để tìm ra biện pháp thiết thực,
khả thi nhất nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục trong giảng dạy
môn Ngữ văn bậc trung học phổ thông theo chuẩn kiến thức, kĩ năng đã ban hành
và mục tiêu giáo dục chung là mỗi giáo viên văn sẽ góp phần đào tạo cho đất nước
những thế hệ học sinh, không chỉ có hiểu biết về tri thức mà còn giàu có về cảm
xúc, có tâm hồn trong sáng, nhân ái, biết vươn tới Chân – Thiện – Mĩ mà đặc biệt
còn thành thục các kĩ năng sống cần thiết để có một nền tảng cơ bản thích ững với
cuộc sống ngày càng hiện đại hiện nay. Đây cũng là những yêu cầu quan trọng để
các em hình thành những thói quen và nếp sống, giúp các em để trở thành những
công dân tốt biết sống và làm việc cống hiến cho đất nước.
9
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
B. THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
1. Các tác phẩm văn học dân gian trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phần văn học dân gian trong Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 được trích
giảng bào gồm:
- Truyền thuyết: An Dương Vương và Mị Châu,Trọng Thủy.
- Truyện cổ tích: Tấm Cám.
- Truyện cười: Tam đại con gà – Nhưng nó phải bằng hai mày.
- Ca dao: Than thân – Yêu thương tình nghĩa – Hài hước.
2. Giải pháp cụ thể
Như phần trên tôi đã trình bày, dạy phần Văn học dân gian tích hợp giáo
* Kỹ năng tự nhận thức bản thân
Là khả năng hiểu về chính bản thân mình: khả năng, sở thích, sở trường,
điểm yếu.. ý thức được mình đang làm gì.
Tác dụng : Giao tiếp , ứng xử phù hợp, hiệu quả với người khác, cảm thông
với mọi người, có quyết định đúng đắn phù hợp với bản thân.
* Kỹ năng xác định giá trị:
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng ( Về vật chất, tinh thần) KN
xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ những giá trị của bản thân mình
11
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
Tác dụng : Tôn trọng giá trị của mọi người; có quyết định đúng đắn phù
hợp với bản thân.
* Kỹ năng suy nghĩ sáng tạo
Cách thức, phương pháp tự tư duy độc lập để tìm ra giải pháp tối ưu trong
các tình huống cuộc sống.
Cách tạo ra suy nghĩ sáng tạo:
+ Tổng hợp từ tri thức và kinh nghiệm của cuốc sống
+ Dựa trên các qui luật của chuyên ngành và phương pháp tư duy để phân tích.
+ Liên hệ với thực tiễn, điều kiện của mình
+ Chủ động đưa ra giải pháp của mình
+ Trao đổi với người có liên quan để xử lý
Lưu ý: Trước khi hỏi phải suy nghĩ chủ động, kể cả suy nghĩ cách hỏi.
* Kỹ năng ra quyết định
Bao gồm 3 bước:
+ Thu thập thông tin càng đầy đủ càng tốt.
+ Đưa ra hệ thống các giải pháp.
và chia sẻ kinh nghiệm được từ các thành viên khác.
*Kĩ năng từ chối
13
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
- Là nghệ thuật nói không với những điều người khác đề nghị nhưng bản thân
mình không thích, không muốn và không có khả năng thực hiện nhưng lại không
làm tổn thương lớn đến mối quan hệ vốn có.
* Kĩ năng thương lượng
* Một số nguyên tắc trong thương lượng
- Cần tự tin.
-
Nêu câu hỏi nếu có thắc mắc.
-
Nên cung cấp thông tin.
-
Gợi ra những khoản nhân nhượng có đi có lại.
-
Đưa ra những dự kiến của mình.
-
pháp khác nhau. Quyết định phải phát xuất từ trẻ. Vì thế học phải hết sức gần gũi
với cuộc sống hay ngay trong cuộc sống. Nội dung phải phát xuất từ chính nhu
cầu và kinh nghiệm của trẻ. Các em cần có điều kiện để cọ xát các ý kiến khác
nhau, trao đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành, áp dụng. Học simh phải tham gia
chủ động vì có thế các em mới thay đổi hành vi.
Do đó nhiều phương pháp được áp dụng để đem lại những điều kiện trên như
sinh hoạt hay thảo luận theo nhóm, theo cặp, động não, sắm vai, phân tích tình
huống, tranh luận. trò chơi, huy động tối đa nghe, nhìn, vận động… họcsinh không
chỉ thực tập thực hành trong khi học mà còn làm bài tập ở nhà, tham gia các phong
trào,… ví dụ học về môi trường, trẻ có thể đi du khảo, tham gia làm sạch đường
phố…. Dưới đây là một số phương pháp tiêu biểu:
*Phương pháp động não
Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh
được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Đây là một phương
pháp có ít để (lôi ra) một danh sách các thông tin.
15
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
- GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả
lớp hoặc trước nhóm. Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều
càng tốt.
- Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát,
trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình biết lắng
nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp trẻ dễ hoà nhập vào cộng động
nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt.
* Thảo luận nhóm
Như bản thân tiêu đề của phương pháp đã ngụ ý thực chất của phương pháp
này là để học sinh bàn bạc, trao đổi trong nhóm nhỏ. Thảo luận nhóm được sử
Cùng với học tập, giao lưu với bạn bè, vui chơi cũng là một nhu cầu của thanh
thiếu niên học sinh. Lí luận và thực tiễn đã chứng tỏ rằng: nếu biết tổ chức cho
thanh thiếu niên vui chơi một cách hợp lí, lành mạnh thì đều mang lại hiệu quả
giáo dục. Qua trò chơi, lớp trẻ không những được phát triển về các mặt trí tuệ, thể
chất, thẩm mĩ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành vi tích cực. Chính
vì vậy, trò chơi được sử dụng như là một phương pháp dạy học quan trọng về kĩ
năng sống như kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tư duy sáng tạo, làm chủ
bản thân…
Kỹ năng sống là một trong ba cái đích (kiến thức, kỹ năng, thái độ) mà mỗi
môn học cần đạt được đặc biệt là môn Ngữ văn ở trường THPT. Quan điểm giáo
dục phát triển toàn diện được trình bày trong nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng và
nhà nước. Trong lĩnh vực giáo dục, điều này khẳng định trong luật giáo dục năm
2005: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện.
17
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
Muốn hoàn thánh mục tiêu này, cần thiết phải tích hợp lồng ghép kĩ năng sống
trong các môn học, nhất là với môn Ngữ văn.
3. Ý nghĩa của việc giáo dục Kĩ năng sống
Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước
mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã
hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, sức đề kháng chưa cao nên dễ bị lôi cuốn kích
động.
Việc giáo dục tích hợp KNS vào tiết dạy văn là một nhu cầu bức thiết:
- Thứ nhất, trang bị cho học sinh một số KNS để bước vào đời.
- Thứ hai, tiết học có lồng ghép giáo dục KNS bao giờ cũng thân thiện, tích cực.
- Tạo điều kiện cho học sinh thực hành và phát huy tối đa năng lực của bản thân.
tự nhận thức được tinh thần cảnh giác được gửi gắm trong tác phẩm. Học sinh có
được kĩ năng sáng tạo ( xác định được mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng,
liên hệ với thực tế cuộc sống hiện tại, hình thành ý thức trách nhiệm). Qua đó hình
thành kĩ năng giao tiếp: trình bày suy nghĩ, ý tưởng, cảm nhận của bản thân về
mối quan hệ, cách xử lí mối quan hệ giữa tình cảm cá nhân và trách nhiệm với tổ
quốc.
Khi dạy bài các bài ca dao. Học sinh tự nhận thức được tinh thần nhân văn
lối sống thanh lịch, tình yêu con người, niềm tin vào cuộc sống.
19
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
Kĩ năng sống cũng có thể được tích hợp trong phần Luyện tập, củng cố
cuối bài. Sau khi đã giảng xong nội dung chính của bài, giáo viên có thể gợi mở
để học sinh từ đó rút ra các kĩ năng sống có liên quan.
Ví dụ:
Khi dạy tác phẩm: “Tấm Cám”, ở phần luyện tập, củng cố, giáo viên có thể
cho học sinh làm một bài tập như sau:
- Kết thúc truyện Tấm Cám là một kết thúc có hậu: mẹ con Cám bị trừng phạt
đích đáng; cô Tấm mồ côi bị đày đọa sau bao lần chết đi sống lại cuối cùng
vẫn gặp lại vua, vẫn làm hoàng hậu bên những người dân hiền lành tử tế.
Tuy nhiên có nhiều ý kiến khác nhau về cách trừng phạt của Tấm đối với
mẹ con Cám. Đứng trước một vấn đề mà mỗi người có một ý kiến khác
nhau, em sẽ làm gì để vừa có thể giải quyết được mục đích của vấn đề, vừa
kìm chế được bản thân, lắng nghe ý kiến của người khác và thống nhất kết
quả?
( Bằng một số câu hỏi gợi mở), giáo viên có thể giúp học sinh rút ra được những
kĩ năng sau:
học, các kĩ thuật dạy học phù hợp.
g. Tăng cường áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học để tiết học Ngữ văn sinh
động, không nhàm chán.
*******************
5. Bài tập tổng kết sáng kiến kinh nghiệm
21
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
- Thiết kế giáo án thực nghiệm:
Bài:
TAM ĐẠI CON GÀ
NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY
A. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1. Kiến Thức
- Qua truyện Tam đại con gà hiểu được mâu thuẫn trái tự nhiên được biểu hiện cụ thể
qua nhân vật thầy đồ; nghệ thuật tự bộc lộ.
- Qua truyện Nhưng nó phải bằng hai mày hiểu được nguyên nhân của cái cười
và thái độ của nhân dân với bản chất tham nhũng của quan lại địa phương; tình cảnh bi
hài của người lao động khi lâm vào vòng kiện tụng; nghệ thuật gây cười đặc sắc (chơi
chữ, kết hợp lời nói và cử chỉ,...
2. Kĩ năng
- Rèn luyện kĩ năng phân tích yếu tố gây cười trong truyện cười.
- Rèn luyện một số kĩ năng sống thiết thực cho học sinh.
3. Thái độ:
a. Mâu thuẫn tạo ra tiếng cười :
- Thầy đồ dốt >< hay khoe khoang giấu dốt, sĩ
diện hão dám liều lĩnh làm thầy đồ dạy trẻ.
- Trò hỏi dồn, thầy cuống nói liều “dủ dỉ là Các
tình huống gây cười:
* Lần 1 : - Gặp chữ “kê” là gà thầy không biết
chữ gì, dạy học là dủ dỉ là con dù dì ”
+ Trong Hán tự không có chữ “dù dì” và trong
* GV gọi HS đọc văn bản truyện
thế giới động vật cũng không có con nào là con
“Tam đại con gà” và giải thích từ
“dù dì” => thầy dốt đến tận cùng của sự dốt.
khó.
Thầy không chỉ kém về kiến thức sách vở mà còn
Hình thành các kĩ năng qua các câu kém hiểu biết về kiến thức thực tế.
trả lời của học sinh.
* Lần 2 : Thầy sợ sai người ta biết thì cười, cho
? Đối tượng gây cười trong truyện là nên bảo học trò đọc khẽ ta cười vì sự giấu dốt
rất thận trọng của thầy, cười vì cái tài giấu dốt
ai? Vì sao đối tượng lại đáng cười?
23
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
bộc lộ cái dốt ntn?
Tiếng cười trong truyện mang ý nghĩa phê phán,
giáo dục cao.
Thổ công xuất hiện càng làm cho ý + Phê phán hạng người dốt mà còn giấu dốt.
nghĩa phê phán thêm sinh động, sâu
+ Bài học : nhắc nhở, cảnh tỉnh những kẻ mắc
sắc.
bệnh sĩ diện hão.
Tiếng cười hóm hỉnh, sâu sắc đậm chất dân
gian.
? Nét độc đáo trong nghệ thuật kể
24
GV: Nguyễn Thị Hà
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua tác phẩm văn học dân gian khối 10
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
YÊU CẦU CẦN ĐẠT
chuyện của người xưa trong truyện là
gì?
HS thảo luận:
Hãy liên hệ, so sánh với cách dạy của
ngươì xưa(Chu Văn An, NĐChiểu, .
.) Từ đó em có nhận xét ntn về cách
dạy của cha ông ta xưa rồi rút ra ý
nghĩa truyện?
25
GV: Nguyễn Thị Hà