skkn GIÁO dục kĩ NĂNG SỐNG CHO học SINH QUA một số PHƯƠNG PHÁP dạy học TÍCH cực TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn lớp 10 THPT - Pdf 37

Sáng kiến kinh nghiệm

2012

GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
QUA MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
************************

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xu thế hội nhập và phát triển, thế kỉ XXI đòi hỏi con người phải luôn
năng động, sáng tạo; có khả năng tìm kiếm, xử lí thông tin và ứng phó với các tình
huống trong đời sống. Nhằm đáp ứng yêu cầu này, mục tiêu giáo dục phổ thông
của nước ta đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho học sinh (HS) sang
trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng
lực thực tiễn. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy cũng là tất yếu nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh. Với bản chất là hình thành và phát triển cho
HS khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những tình huống,
phương pháp giáo dục kĩ năng sống (KNS) rõ ràng là một trong những phương
pháp ưu thế đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay. Hơn nữa, rèn luyện KNS cho HS
còn được xác định là một trong những nội dung cơ bản của Phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong các trường phổ thông, giai
đoạn 2008-2013 do Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo.
Giáo dục KNS là một yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ. Đó là lí do khiến
giáo dục KNS trở thành xu thế chung của nhiều nước trên thế giới. Dù Ngữ Văn là
một môn học có khả năng đặc biệt trong việc giáo dục KNS cho HS nhưng thực tế
cho thấy vấn đề giáo dục KNS ở trường phổ thông mới chỉ được chú trọng từ năm
học 2010-2011. Do vậy việc làm thế nào để tích hợp nội dung giáo dục KNS trong
nội dung bài học và thông qua các phương pháp triển khai nội dung bài học đến
nay vẫn là sự thử nghiệm tìm đường của các giáo viên dạy văn.
Bản chất của môn Văn là sự kết hợp giữa tính khoa học và nghệ thuật. Làm

phát câu hỏi cho học sinh ở ba lớp 10 mà tôi phụ trách giảng dạy, để cho các em
phát biểu những cảm nhận của mình về những tác dụng của bài học trong việc rèn
luyện KNS. Kết quả cụ thể như sau:
STT

1

2

NỘI DUNG CÂU HỎI
Theo em, học Văn có giúp em nâng
cao khả năng nhận thức không?

Theo em, học Văn có giúp em điều
chỉnh hành vi không?
-2-

KẾT QUẢ
- Có
- Có nhưng
không thực tế.

83/132
49



67

Không


59

Qua kết quả khảo sát, tôi nhận thấy có sự mâu thuẫn trong nhận thức của HS
khi các em nhận định văn học là môn học bổ ích, có ý nghĩa nhưng có đến 37,12%
HS cho rằng học văn có giúp em nâng cao khả năng nhận thức nhưng không thực
tế vì các tác phẩm văn học toàn phản ánh những cái đã qua nên chỉ giúp các em
nhìn nhận lại quá khứ mà không giúp các em hội nhập với cuộc sống hiện đại.
Thậm chí có đến 31,1% HS không biết là học Văn có giúp em điều chỉnh hành vi
của mình hay không và 44,70% HS kết luận không cần học môn Văn là một tỉ lệ
không nhỏ. Từ đó ta dễ dàng nhận ra HS cảm nhận được Văn là môn học có ý
nghĩa nhưng còn mơ hồ về khả năng áp dụng thực tiễn của môn học này. Thực tế
ấy khiến người giáo viên dạy Văn không khỏi không suy nghĩ.
Từ thực trạng trên, để việc dạy học môn Văn nói chung và giảng dạy môn
Văn ở chương trình lớp 10, lớp đầu cấp của khối THPT - HS còn nhiều bỡ ngỡ, đạt
hiệu quả, hấp dẫn, lôi cuốn và tác động tích cực hơn đối với HS nhằm giáo dục
KNS cho các em, chúng tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp dạy học
để nâng cao chất lượng giờ dạy bằng việc áp dụng một số phương pháp dạy học
như: dạy học nhóm, dạy học theo dự án và dạy học thông qua trò chơi nhằm giúp
cho HS phát triển và rèn luyện những kĩ năng cần thiết để hội nhập cuộc sống một
cách chủ động hơn.
Môn Ngữ Văn ở trường phổ thông nói chung và trường trung học phổ thông
(THPT) nói riêng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục
trong xu thế mới. Do đặc trưng của bộ môn, Văn học không chỉ giúp HS nhận thức
mà còn có khả năng điều chỉnh hành vi cũng như nâng cao cảm quan thẩm mĩ để
hướng đến định hình và hoàn thiện nhân cách của mình. Như vậy, việc giáo dục
KNS cho HS không phải đến nay mới có mà vấn đề là bằng những phương pháp

-3-


nhu cầu và thách thức của cuộc sống một cách có hiệu quả. Việc đưa giáo dục
KNS vào nhà trường cho thấy mục tiêu của giáo dục trong thời kì mới chú trọng
tính hữu dụng, thiết thực của chương trình nhà trường, đồng thời tăng khả năng

-4-


Sáng kiến kinh nghiệm

2012

đáp ứng yêu cầu đào tạo con người mới năng động, tích cực, tự tin, hội nhập thành
công trong xã hội.
Mục tiêu và nội dung môn Ngữ Văn đã chứa đựng những yếu tố của giáo dục
KNS, phù hợp với các nội dung cơ bản của giáo dục KNS, bao gồm kĩ năng tư duy
sáng tạo, kĩ năng hợp tác nhóm, kĩ năng giao tiếp,... phù hợp với cách tiếp cận làm
thay đổi hành vi của người học trên cơ sở nhận thức về các nội dung của môn Ngữ
Văn. Nhiều bài học của môn Ngữ Văn hướng đến việc giúp HS nhận thức được
các giá trị trong cuộc sống, hình thành lối sống, cách ứng xử có văn hóa trong các
tình huống đa dạng của cuộc sống. Mặt khác, các KNS còn được giáo dục thông
qua phương pháp học tập tích cực, dựa trên sự tương tác giữa nội dung bài học với
những hiểu biết, kinh nghiệm vốn có của bản thân người học và quá trình đối thoại,
tương tác người học với nhau để thực hành, vận dụng linh hoạt vào các tình huống
trong cuộc sống phù hợp với lứa tuổi của các em.
1.2. Đặc điểm của các phương pháp
Phát biểu tại buổi tọa đàm “Đổi mới phương pháp giảng dạy” do báo Tuổi Trẻ
phối hợp với Sở Giáo Dục - Đào Tạo TP.Hồ Chí Minh tổ chức chiều 17/11/2010,
Phó thủ tướng – nguyên Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh:
“Đổi mới phương pháp không phải lấy từ trên xuống mà phải từ dưới lên để thúc
đẩy bộ máy”. Đồng tình với quan điểm này, các đại biểu tham gia buổi tọa đàm

(Richard, J.Dewey,.v.v.), và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm
dạy học định hướng vào người học, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học
truyền thống coi GV là trung tâm.
DHDA là phương pháp trong đó cá nhân hay nhóm người học thiết lập một dự
án có nội dung gắn kết với nội dung học tập. Dựa vào tri thức, kinh nghiệm và kĩ
năng vốn có, trên cơ sở phân tích thực tiễn thuộc phạm vi học tập, cùng với tài
liệu, phương tiện, người học đề xuất ý tưởng, thiết kế dự án, soạn thảo và hoàn
chỉnh dự án.
Trong DHDA, người học tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của
quá trình dạy học, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự
án. Vì thế DHDA là một PPDH tích cực, hữu hiệu phát huy được năng lực của HS,
đồng thời rất ưu việt trong giáo dục KNS cho các em. Thực hiện DHDA, HS làm
việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề có thực mang tính thách đố, dựa trên
bài học và thường có tính liên môn. Vì vậy, đặc điểm này còn được gọi là học tập
mang tính xã hội. Các dự án học tập góp phần gắn liền nhà trường với thực tiễn đời
sống xã hội và có thể mang lại những tác động xã hội tích cực. DHDA không chỉ
rèn luyện cho HS các kĩ năng sống cần thiết mà còn tạo ra các sản phẩm cụ thể.
-6-


Sáng kiến kinh nghiệm

2012

Các sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết mà trong
đa số trường hợp, các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động
thực tiễn, thực hành.
1.2.3. Phương pháp trò chơi
A.I Xôrôkina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan trọng về đặc thù của dạy
học kết hợp với trò chơi: “Trò chơi học tập là một quá trình phức tạp, nó là hình

thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kĩ năng. Tuy nhiên việc tổ
chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kĩ năng mới là rất cần
để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới. Việc tạo ra
các trò chơi mà học không chỉ giúp HS khắc sâu tri thức, nâng cao nhận thức mà
còn tăng cường các KNS cho HS như: biết ứng xử linh hoạt, quan hệ tích cực và
hợp tác,...
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.1. Phương pháp dạy học nhóm
PPDH nhóm rất đa dạng từ cách chọn chủ đề cần thảo luận cho đến cách phân
chia nhóm, cho nên GV có thể vận dụng linh hoạt tùy theo từng mục tiêu và đặc
trưng của bài học.
Trong PPDH nhóm, có rất nhiều cách phân chia nhóm khác nhau. Nếu hoạt
động nhóm diễn ra trên lớp học thì nên tạo các nhóm nhỏ, tối đa 10 HS một nhóm,
để HS có điều kiện thảo luận với nhau. Các nhóm này cũng không nên trùng lặp
trong suốt quá trình dạy của GV. Việc phân chia nhóm linh hoạt sẽ giúp HS hứng
thú hơn, đồng thời tạo cơ hội cho các HS được học hỏi, giao lưu với các bạn trong
lớp. Ví dụ như GV có thể chia nhóm theo cách gộp hai bàn kế nhau làm một nhóm,
với mô hình lớp học phổ biến trong trường phổ thông ở Việt Nam hiện nay thì cách
chia này hiệu quả vì HS dễ dàng xoay chuyển để thảo luận cùng nhau; hoặc trong
trường hợp vấn đề cần thảo luận không quá khó ta có thể chia nhóm theo đơn vị
một bàn là một nhóm; ngoài ra cũng có thể chia nhóm theo ngày sinh, theo sở
thích, theo đặc điểm,... hoặc cho HS bốc thăm tạo nhóm theo các chủ đề như: trái
cây, các loại hoa, cây cối, tên địa danh thắng cảnh,...
Việc lựa chủ đề thảo luận cũng là một nhân tố quyết định đến việc phân chia
nhóm. Nếu vấn đề thảo luận lớn, cần dung lượng thời gian nhiều để tìm kiếm thông
tin, phân tích, tổng hợp thì GV không nên cho thảo luận trên lớp. Bởi khi đó việc
thảo luận sẽ chỉ là hình thức. Nhưng cũng không phải bất kì vấn đề nào cũng tạo
nhóm thảo luận trước bởi có những vấn đề GV có thể yêu cầu HS tìm hiểu cá nhân

-8-

những điểm chính về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của tác giả, trình bày bằng
PowerPoint, sưu tầm các dẫn chứng và hình ảnh minh họa.
Khi yêu cầu khác nhau thì việc tổ chức dạy học dĩ nhiên cũng không thể
giống nhau. Nếu mỗi nhóm đảm nhận một yêu cầu khác nhau thì khi một nhóm lên
trình bày, nhiệm vụ của các nhóm khác là theo dõi, đặt câu hỏi để làm sáng tỏ vấn
đề và ghi nhận những nội dung thống nhất. Còn nếu các nhóm cùng thảo luận một
-9-


Sáng kiến kinh nghiệm

2012

vấn đề, GV lại phải theo dõi và xem xét sản phẩm của các nhóm trước khi lên lớp.
Nếu tất cả các nhóm đều làm tốt thì GV cho tiến hành bốc thăm trình bày. Khi
nhóm thứ nhất lên trình bày thì nhiệm vụ của các nhóm còn lại là phải theo dõi, đặt
câu hỏi cho nhóm được trình bày nếu thấy vấn đề được trình bày chưa rõ và có thể
dùng bài soạn của nhóm mình để trình bày minh họa bổ sung cho những luận điểm
mà nhóm đã được trình bày còn thiếu. Nếu kết quả công việc của các nhóm có độ
chênh lớn thì GV có thể chọn nhóm nổi trội hơn trình bày. Nếu thời gian cho phép,
GV cũng có thể cho các nhóm lần lượt trình bày để HS có sự đối chiếu cụ thể. Tuy
nhiên, nếu muốn giờ dạy có hiệu quả hơn thì GV nên theo dõi quá trình hoàn thiện
sản phẩm của HS để có những gợi ý cho HS điều chỉnh phù hợp. Dĩ nhiên là để
phát huy năng lực sáng tạo của HS, GV chỉ gợi ý, khuyến khích, động viên chứ
không nên gò ép HS theo ý của mình.
Điều quan trọng là sau khi HS trình bày, thảo luận bao giờ GV cũng phải có
phần nhận xét, chốt ý và có những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt để giúp HS hiểu rõ hơn
những nội dung chưa được thể hiện, hoặc thể hiện chưa sâu.
PPDH nhóm không phải là phương pháp hoàn toàn mới, ngay từ khi Bộ Giáo
Dục chủ trương: dạy học tích cực, lấy HS làm trung tâm, PP này đã được sử dụng

lại, hoặc tìm cách hứa hẹn trả lời sau,...Với những giải pháp này, HS sẽ dạn dĩ hơn,
xử lí tình huống nhanh hơn, đồng thời cũng hạn chế được việc HS tìm cách né
tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho bạn trong nhóm.
Nhưng cũng có những vấn đề thảo luận ngay trên lớp, trong một thời gian có
hạn mà GV lại muốn HS thống nhất ý kiến trên cơ sở mọi thành viên đều có ý kiến
riêng thì lúc đó ta có thể áp dụng kĩ thuật khăn trải bàn trong việc tổ chức thực hiện
hoạt động nhóm. Ví dụ như cũng trong bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu,
Trọng Thủy, nhưng với yêu cầu thảo luận: Cảm nhận của em về những bài học
được gửi gắm trong tác phẩm? GV có thể chuẩn bị những tờ giấy khổ lớn và yêu
cầu mỗi thành viên trong nhóm đều phải ghi ý kiến riêng của mình ở các ô xung
quanh, sau đó thống nhất ý kiến của cả nhóm và ghi vào giữa. Với cách này mỗi
HS đều được thể hiện chính kiến của mình, đồng thời vẫn phải hợp tác, tranh luận
để đi đến thống nhất lựa chọn ý kiến chung.
2.2. Phương pháp dạy học theo dự án
PPDH theo dự án là một trong những PP ưu việt trong việc phát huy năng lực
tư duy sáng tạo của chủ thể - trò, đồng thời lồng ghép được KNS hợp lí, tự nhiên.
Đây là phương pháp dạy học kết hợp có hiệu quả việc sử dụng máy tính với các
chương trình dạy học hiện có, giúp các GV phát huy khả năng sáng tạo của mình

- 11 -


Sáng kiến kinh nghiệm

2012

và phát triển trí tưởng tượng của HS ra ngoài phạm vi học đường, học tập kết hợp
với thực hành.
Để thực hiện PPDH này, trước hết GV phải chuẩn bị một kế hoạch bài dạy
cụ thể, chi tiết. Hồ sơ và các bước thực hiện bao gồm:

 Bước 3:
- Theo dõi quá trình thực hiện dự án của HS.
- Gợi ý cho HS điều chỉnh để có sản phẩm tốt hơn.
 Bước 4:
- Thực hiện giờ dạy:


HS các nhóm trình bày.



GV nhận xét, củng cố nội dung bài học theo từng phần, dùng những câu hỏi
gợi mở để HS các nhóm thảo luận đưa ra ý kiến, sử dụng bài trình bày đa
phương tiện để chốt ý.



Đánh giá, cho điểm.
Lưu ý là khi xây dựng dự án, khâu chọn vai rất quan trọng. Nếu vai trò đảm

nhiệm quá khó hoặc nếu vai không phù hợp HS cũng khó mà thực thi được nhiệm
vụ của mình. Chẳng hạn như khi dạy bài Trình bày một vấn đề, GV có thể cho
trước một số vấn đề để HS lựa chọn. Sau khi HS thống nhất chọn đề tài, GV cho
- 12 -


Sáng kiến kinh nghiệm

2012




Sáng kiến kinh nghiệm

2012

Việc tổ chức hình thức chơi rất đa dạng, cũng là câu hỏi trắc nghiệm nhưng
GV có thể cho HS thi đua dưới hình thức Ai nhanh hơn, Ai tài thế,... hoặc cũng có
thể mô phỏng các trò chơi do đài truyền hình tổ chức như: Rung chuông vàng,
Chung sức, Đấu trường 100, Đuổi hình bắt chữ,... Ví dụ như sau bài học GV cho 5
câu hỏi củng cố. Nếu GV muốn tính điểm cho cả lớp và tất cả các HS đều tham gia
thì tổ chức theo hình thức là mỗi câu hỏi tất cả các HS đều trả lời cho đến kết quả
cuối cùng. Nhưng nếu GV chỉ tính điểm cho những HS nào trả lời đến đích cuối
cùng thì có thể cho loại dần bằng cách chỉ cho phép những HS nào có câu trả lời
đúng mới được trả lời câu hỏi kế tiếp, còn HS trả lời sai sẽ phải dừng lại. Nếu GV
muốn phân loại HS thì có thể chỉ cho 3 đến 4 câu hỏi trắc nghiệm, còn lại là câu
hỏi suy luận có độ khó cao để phân định điểm số của HS.
Luật chơi phụ thuộc nội dung và mục đích. Bởi cùng một nội dung nhưng có
thể chơi với nhiều cách khác nhau như ghép đáp án đúng, ghép tranh đoán nội
dung, đi tìm kho báu bằng cách qua mỗi chặng thử thách là một câu hỏi, giải ô
chữ,...
Người tổ chức chơi thông thường là GV, nhưng trong một số trường hợp GV
có thể gợi ý, khuyến khích các em xây dựng trò chơi. Ví dụ đối với các bài học có
ứng dụng PPDH nhóm hoặc DH dự án, tôi khuyến khích các em xây dựng trò chơi
củng cố sau phần trình bày của mình. Kết quả rất khả quan, HS các nhóm theo dõi
tập trung vào bài trình bày của bạn hơn để có thể trả lời câu hỏi của các nhóm, HS
thích thú hơn khi được tham gia trò chơi do chính bạn mình thiết kế, trò chơi càng
độc đáo thì sự phấn khích của HS càng cao, các HS trong nhóm cũng gắn kết hơn,
chủ động sáng tạo trong việc thiết kế các trò chơi.
PP này đặc biệt ứng dụng hiệu quả ở các bài ôn tập. Vì những kiến thức ở bài

định trật tự bởi với mô hình lớp học trong trường phổ thông của chúng ta hiện nay
rất khó cho GV khi tổ chức PP này mà không ảnh hưởng đến các lớp học xung
quanh. Đây cũng là điều mà người viết gặp khó khăn nhất khi tổ chức dạy học
bằng PP trò chơi, bởi khi đã chơi là có thắng - thua vì vậy HS dễ phấn khích và ồn
ào hơn các giờ học thông thường, ngoài ra cũng không ngoại trừ trường hợp HS cố
tình gây rối. Dù có những khó khăn nhất định, nhưng đây vẫn là một trong những
PP rất hiệu quả trong việc tạo hứng thú cho HS trong giờ học môn Văn và rèn
luyện KNS hữu hiệu cho các em.

- 15 -


Sáng kiến kinh nghiệm

2012

2.4. Thiết kế tiết dạy minh họa: Tiết 99 - Làm văn

VIẾT QUẢNG CÁO
Mục tiêu
bài dạy:

-

Khái niệm văn bản quảng cáo, vai trò của quảng cáo
trong đời sống.

-

Yêu cầu và cách viết quảng cáo cho một sản phẩm hoặc

giảng dạy

1. Phần chuẩn bị của Giáo viên: Thu thập các loại tư liệu về
quảng cáo; chụp hình các panô, áp phích, tờ rơi; cắt một số
quảng cáo tĩnh và động trên web, hướng dẫn HS cách làm
bài, chia nhóm, giúp HS hình thành ý tưởng; duyệt bài, góp
ý cho HS cách thực hiện, trình bày.
2. Phần chuẩn bị của Học sinh: Tất cả học sinh đều soạn bài
vào vở theo cách chia trang vở làm hai: nội dung chính ghi
bên phải tập, phần bên trái để trống dùng để bổ sung nội
dung khi lên lớp; cả 3 nhóm đều phải họp nhóm, thiết lập ý
tưởng, sưu tập thông tin và thiết kế bài; nhiệm vụ các thành
viên và công việc mà mỗi thành viên đã làm được phải

a. Phần cứng: Máy tính, máy chiếu, máy chụp hình kĩ thuật
số, máy quay phim (điện thoại).
b. Phần mềm: MS Word, MS PowerPoint, Windows Media
Player, Herosoft, SnagIt 7, Hot Potatoes 6, eMindMaps…
2. Những đồ dùng dạy học khác: Bảng, phấn màu, áp phích,
panô, tờ rơi, quảng cáo…

- 16 -


Sáng kiến kinh nghiệm

2012

được ghi lại một cách chi tiết.
Kế hoạch giảng 1. Dẫn nhập

 Yêu cầu chung của văn
bản quảng cáo?
- Giáo viên theo dõi, nhận
xét về phần trình bày và
thảo luận của học sinh,
củng cố những nội dung
chính của phần 1 bằng
phần trình chiếu: MS
PowerPoint.
 Cho HS xem quảng
cáo ví dụ, GV gợi ý để
HS rút ra nhận xét.
 Lưu ý học sinh về vai
trò của quảng cáo
trong đời sống hàng
- 17 -

I. Vai trò và yêu cầu chung
của văn bản quảng cáo:
1. Văn bản quảng cáo trong
đời sống:

- Hình thức quảng cáo: áp
phích, pa-nô, báo, tờ rơi, đài
phát thanh, truyền hình.
 Khái niệm:
- Thông tin về sản phẩm, dịch
vụ.
- Thuyết phục khách hàng tin
vào chất lượng, lợi ích, sự

nhận xét về phần thảo
luận của các nhóm, nội
dung trình bày của nhóm
2, nhấn mạnh trọng tâm
bài học. Và chú ý những
nội dung học sinh chưa
giải quyết được. Định
hướng cho HS đi sâu vào
bài học và mở rộng nội
dung có liên quan.

- Hình thức: Ngắn gọn, hấp dẫn
tạo ấn tượng, trung thực, tôn
trọng pháp luật và thuần phong
mĩ tục.
II. Cách viết văn bản quảng
cáo
1. Xác định nội dung cơ bản
cho lời quảng cáo
2. Chọn hình thức quảng cáo
- Trình bày theo kiểu qui nạp,
so sánh và sử dụng từ ngữ
khẳng định tuyệt đối để
thuyết phục.
- Kết hợp với tranh ảnh, hình
thức trình bày.

3. Củng cố
- Tổng kết bài bằng cách cho học sinh sơ đồ hoá bài học.
GV đối chiếu bằng sơ đồ đã chuẩn bị (Mindmap).

thuyết phục.
Vòng 2:
HS xem một đoạn clip và dựa vào những kiến thức
đã học về mục đích, yêu cầu của văn bản quảng cáo để
nhận xét.
Giao bài tập cho cả lớp, HS làm ấn phẩm với nội dung:
Viết quảng cáo về các hoạt động chào mừng 26/3 ở lớp
em.
Học sinh không chỉ biết cách viết quảng cáo mà còn biết
đánh giá nhận xét về một quảng cáo.
Rèn luyện tư duy đánh giá, phân tích.
KNS: hợp tác, chia sẻ, sáng tạo, thuyết trình,…



-

Kiến thức,
KNS:

-

III. HIỆU QUẢ
Qua thực tiễn dạy học của bản thân những năm gần đây và từ thực tế dạy học
các lớp 10 ban Cơ bản tại trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh, tôi nhận thấy các
phương pháp này có những ưu điểm sau đây:
-

Kiến thức đúng trọng tâm, tích hợp liên môn, lồng ghép nội dung giáo dục KNS
nhẹ nhàng nhưng hiệu quả.

Đặc biệt là sau một năm học áp dụng các PP dạy học này bên cạnh các PP

truyền thống thì 100% HS đều đồng ý là môn Văn rất cần thiết và hữu ích với các
em trong cuộc sống sau này. Tuy nhiên, có đến 43% HS nói thêm là càng yêu thích
môn Văn thì lại càng thấy đây là môn học khó, đòi hỏi tư duy và sáng tạo chứ
không như các em nghĩ ban đầu: Văn chỉ là môn học thuộc bài.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ
Ba PPDH trên chỉ là một trong những kiểu dạy học lấy hoạt động học của
người học làm trung tâm. Mỗi PPDH đều có những điểm khả thủ và những hạn chế
riêng, vì vậy khi vận dụng PPDH đòi hỏi người GV phải hết sức linh hoạt lựa chọn
sao cho phù hợp với đặc trưng bài học, năng lực học sinh, điều kiện áp dụng của
từng thời điểm,...
Trong quá trình vận dụng, tôi nhận thấy cả ba PP đều đòi hỏi người GV phải
dụng công nhiều trong khâu chuẩn bị, lên kế hoạch giảng dạy. Kế hoạch giảng dạy
càng chi tiết thì xác xuất thành công càng cao. Đặc biệt là với phương pháp dạy
học theo dự án, giáo viên phải chấp nhận tốn nhiều thời gian đầu tư hơn là giờ học
thông thường bởi ngoài khâu soạn giảng, GV còn phải chuẩn bị, chỉ dẫn, điều
chỉnh cho việc chuẩn bị của HS.
Ngoài ra để thực hiện được những tiết dạy như thế này đòi hỏi GV phải có
một quá trình tập luyện từng bước cho HS, bởi nếu áp dụng tức thời HS sẽ khó
hoàn thành nhiệm vụ, hoặc có thể tạo ra những sản phẩm không tốt bởi chưa quen.
Hơn nữa để triển khai thuận lợi các PPDH này đòi hỏi sự đồng thuận cao của tổ bộ
môn, sự ủng hộ của lãnh đạo trong nhà trường.
Người viết có may mắn được giảng dạy trong một môi trường mà ngay từ
năm 2002 chủ trương của lãnh đạo nhà trường đã là: đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy học, tích cực đổi mới PPGD, phát huy vai trò tích cực của
chủ thể trò trong giờ học cho nên việc áp dụng các PP mới trong dạy học luôn
- 20 -




Nguyễn Quỳnh Anh
- 21 -


Sáng kiến kinh nghiệm

2012

VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 - tập 2, Nhiều tác giả, Nxb Giáo dục, 2006.
2. Thiết kế bài giảng ngữ văn 10, Nguyễn Văn Đường (chủ biên), Nxb Hà Nội,
2006.
3. Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ Văn ở trường THPT, Nhiều tác giả, Nxb
Giáo dục Việt Nam, 2010.
4. Những giá trị sống cho Tuổi trẻ , Diane TillMan, Nxb TP.HCM, 2000.
5. Quá trình dạy - tự học, Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội,
1997.
6. Vận dụng dạy học theo dự án để dạy các học phần tài nguyên khoáng sản, Đậu
Thị Hòa, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, số 2/2011, tr.143150.
7. Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá, TS.Lê Văn Hảo (chủ biên), Trường
Đại học Nha Trang, 2008.
8. Các Website:
http://vi.wikipedia.org
http://www.kynang.edu.vn
http://www.ketnoisunghiep.vn
http://phanminhchanh.info

- 22 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status