I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy và học là yêu cầu cấp thiết để đạt mục tiêu
giáo dục đề ra. Mục tiêu chung của môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông
hiện nay là bồi dưỡng và nâng cao thêm một bước năng lực văn học cho học
sinh, trong đó có năng lực đọc - hiểu văn bản. Chính vì thế chương trình được
xây dựng theo hai trục tích hợp: đọc văn và làm văn. Với nguyên tắc tích hợp,
chương trình hiện nay vẫn dựa vào tiến trình lịch sử văn học dân tộc nhưng mỗi
giai đoạn sẽ lựa chọn ra những thể loại tác phẩm văn học tiêu biểu để làm văn
bản mẫu cho việc dạy học đọc - hiểu. Theo tinh thần này dạy học văn có nhiệm
vụ kép: thông qua dạy kiến thức mà trang bị và rèn luyện cho học sinh cách
đọc, phương pháp đọc để các em có thể tự mình đọc và hiểu những văn bản
khác.
Trong nhà trường, đọc hiểu là một cách thức quan trọng để phát huy tính
tích cực chủ động của học sinh, biến việc dạy của một người thành việc đọc
của nhiều người, thay thế phương pháp dạy truyền thống thầy giảng trò ghi.
Xác định rõ vai trò của đọc hiểu như vậy nhưng trong nhà trường phổ
thông Việt Nam hiện nay có một thực tế là không phải giáo viên nào cũng hiểu
rõ bản chất của đọc hiểu và có những biện pháp đọc hiểu phù hợp.
Hơn thế nữa văn học trung đại Việt Nam là thời kì văn học từ thế kỉ X
đến hết thế kỉ thứ XIX là thời kì văn học quá xa đối với học sinh hiện nay cho
nên việc tiếp cận văn bản của các em gặp nhiều khó khăn. Tài liệu nghiên cứu
còn hạn chế, do đó GV trường tôi gặp nhiều khó khăn trong hướng dẫn học sinh
đọc hiểu văn bản thơ Trung đại.
Từ những lí do trên, tôi thấy rằng việc tìm hiểu phương pháp dạy đọc
hiểu thơ trung đại Việt Nam cho học sinh lớp 10 là việc làm cần thiết, có ý
nghĩa góp thêm tiếng nói về một trong những vấn đề có tính thời sự hiện nay.
2.Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề đọc - hiểu,
vấn đề dạy học thơ trung đại, nhằm đề xuất cách thức, biện pháp góp phần nâng
cao kỹ năng đọc - hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam lớp 10. Cụ thể là hướng
Trong bài viết “Đọc - hiểu văn bản - một khâu đột phá trong nội dung và
phương pháp dạy học hiện nay” in trên tạp chí văn nghệ GS. Trần Đình Sử có
nói “Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể
đọc hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại. Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận các
giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt
bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính. Đó là con
đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm
mỹ. Do đó hiểu bản chất môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu
thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy
năng lực, phát triển năng lực là chủ thể của học sinh”
Dạy đọc - hiểu là vừa dạy cách thức tiếp xúc với văn bản, thông hiểu
nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò tác dụng của
các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm
của người viết, các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật và cả ý nghĩa xã
hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó, vừa tập trung hình thành
cách đọc văn, phương pháp đọc hiểu theo thể loại, để dần dần các em có thể tự
đọc được văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúng đắn.
Tuy nhiên mỗi thể loại văn học có phương pháp đọc hiểu riêng, đọc hiểu
thơ trung đại khác thơ hiện đại. Đối với văn học trung đại Việt Nam (VH từ thế
kỉ X đến hết thế kỉ XIX) tồn tại hai bộ phạn văn học đó là bộ phận văn học chữ
Hán và bộ phân văn học chữ Nôm. Là bộ phận văn học xuất hiện khá xa so với
học sinh hiện nay do đó dạy đọc hiểu văn bản thơ đã khó đọc hiểu thơ trung
đại là vấn đề nan giải hiện nay đối với cả giáo viên và học sinh. Việc hình
thành cho học sinh phương pháp đọc hiểu thơ trung đại là hết sức cần thiết để
đáp ứng yêu cầu dạy văn và học văn hiện nay trong nhà trường THPT.
2. Thực trạng vấn đề .
2.1.Các thể loại thơ trữ tình trung đại
2
của học sinh có sự phân lập rất rõ. Bởi thế kỉ XXI hội nhập toàn cầu, đời sống
kinh tế xã hội phát triển, những môn học thời thượng (Toán, Lý, Hoá, Tin học,
Ngoại ngữ.) quan trọng hơn bao giờ hết thì văn chương không có tính năng ứng
dụng, học xong để có cơ hội việc làm là khó cho nên số đông học sinh hiện nay
có thiên hướng thi vào các khối tự nhiên ,số còn lại rất ít dự thi vào hai khối C,
D thì học văn với một động cơ rất thực dụng: Để thi đại học, cao đẳng.
Với phần văn học trung đại nói chung và thơ trữ tình trung đại Việt Nam
lớp 10 nói riêng nhiều học sinh tỏ ra ngại học, không hứng thú... Nhiều học
sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học, còn thờ ơ với tác
phẩm văn chương, nhất là thơ, thường ít hiểu, ít yêu thơ. Cá biệt không phải
không có em “sợ” thơ, bởi vì có những bài thơ có phiên âm chữ Hán, từ ngữ
khó hiểu, điển cố nặng nề gây cho các em nhiều trở ngại , mà cách giảng của
người thầy nhiều lúc cũng chưa làm cho các em hiểu rõ và thấy hay thêm được
3
chút nào. Từ đó học sinh mất hứng thú khi học văn và kéo theo chất lượng học
văn ngày càng sa sút.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát việc dạy và học thơ trữ tình trung đại Việt
Nam lớp 10 của giáo viên và học sinh ban cơ bản. Quá trình và kết quả khảo sát
như sau.
- Đối tượng khảo sát : Giáo viên, học sinh lớp 10 Trường THPT Đinh Chương
Dương.
- Hình thức khảo sát: Dự giờ đối với giáo viên, kiểm tra vở soạn bài ,ghi bài kết
quả chất lượng sau giờ học của học sinh.
Kết quả khảo sát cho thấy về phía giáo viên chuẩn bị giáo án chu đáo
cẩn thận và truyền đạt đến học sinh những nội dung cơ bản của bài học. Học
sinh tiếp thu một cách thụ động và ghi chép vào vở nhưng thực chất các em
không nắm được cụ thể chi tiết giá trị của từng hình ảnh, biện pháp tu từ.
Thực tế cho thấy cách dạy học phổ biến hiện nay trong các trường
+Sáng tác trong môi trường ấy, tất nhiên uyên bác có ý nghĩa thẩm mỹ.
Người sáng tác cũng như người tiếp nhận đều phải thông thuộc kính sử, điển cố,
điển tích; phải có vốn thi liệu, văn liệu phong phú học tập được từ những áng
văn bất hủ của người xưa. Văn chương càng uyên bác càng có sức hấp dẫn lớn,
có tính nghệ thuật cao.
- Tính sùng cổ:
+ Do quan niệm thời gian phi tuyến tính, nên trong văn chương cổ của
dân tộc ta, các nhà văn luôn có xu hướng tìm về quá khứ. Họ lấy quá khứ làm
chuẩn mực cho cái đẹp, lẽ phải, đạo đức. Chính vì vậy, các nhà văn đời sau
thường “tập cổ” vay mượn văn liệu, thi tứ, hình ảnh nghệ thuật của các nhà thơ,
nhà văn đời trước mà không bị đanh giá là “Đạo văn”. Ngược lại, họ được đánh
giá là một cây bút đạo đức, sang trọng; tác phẩm của họ rất giàu gía trị.
- Tính phi ngã:
+ Thời phong kiến, ý thức cá nhân chưa có điều kiện phát triển. Con người
chưa bao giờ “sống là mình. Con người được nhìn nhận, đánh giá trên cơ sở của
tầng lớp, giai cấp, dòng tộc, địa vị xã hội.
+ Tuy nhiên, nói văn học trung đại có tính phi ngã không có nghĩa trong
tác phẩm văn chương không có dấu ấn bản ngã của người nghệ sĩ. Bởi lao động
nghệ thuật là một họat động sáng tạo “ Văn chương chỉ dung nạp những người
biết đào sâu biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì
chưa có ” ( Nam Cao).Văn học chân chính không chấp nhận công thức, phi
ngã. Trong văn học thời trung đại của dân tộc ta, các cây bút lớn đều khẳng định
tư tưởng, cá tính và tài nghệ độc đáo của họ. Tiến trình văn học đã khẳng định
điều đó. Chúng ta không thể phủ nhận cá tính sáng tạo của Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn
Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà,…
Ba đặc tính này trong thi pháp văn học Trung đại được hình thành từ bối
cảnh lịch sử xã hội phong kiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp nghệ sĩ Hán
học và chi phối đến các đặc điểm khác .
Về thể loại: Trong “Thi pháp văn học trung đại Việt Nam ” Giáo sư Trần
Nói đến mùa xuân phải có hoa mai, hoa đào đi liền với cỏ non, chim én; mùa hè
phải đi liền với hoa lựu, hoa sen, tiếng chim quyên kêu khắc khoải.. Mùa thu
phải có hoa cúc, lá ngô đồng rụng; mùa đông phải có cây tùng, chim hạc. Trong
sáng tác của các nhà thơ trung đại hình như không thể vắng bóng thiên nhiên.
Thiên nhiên làm nên diện mạo, linh hồn của tác phẩm. Thiên nhiên vừa là vẻ
đẹp của thiên nhiên vừa là đối tượng để nhà thơ gửi gắm cảm xúc tâm trạng. đặc
biệt thiên nhiên trở thành chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người đây là điểm khác
biệt với thơ hiện đại.
3.2. Chú giải, cắt nghĩa, phân tích, bình giá thơ trữ tình trung đại Việt Nam
lớp 10
3.2.1.Chú giải thơ trữ tình trung đại
Để hiểu đúng văn bản thơ Trung Đại trước hết giáo viên cần giúp học
sinh hiểu được môi trường văn hóa xã hội đương thời, hiên tượng văn sử triết
bất phân của từng tác phẩm cụ thể. Người dạy văn không nắm được lịch sử thì
bài dạy hời hợt nông cạn, Nếu chỉ chú ý vào nghệ thuật văn chương thì nội dung
sẽ không thể nào sâu sắc được , do đó cần tạo được mối liên hệ giữa lịch sử và
nghệ thuật thì giờ đọc văn mới thành công.
Mặt khác thơ trữ tình trung đại thuộc loại hình song ngữ, trong quá trình
sáng tác các tác giả sử dụng chữ Hán, chữ Nôm, các từ Việt cổ mà ngày nay ít
còn sử dụng. Do ngôn ngữ thơ cổ là ngôn ngữ rất uyên bác, hàm súc. Vì vậy,
một biện pháp hữu hiệu để giải mã văn bản đó là chú giải. Những chú giải này
6
có khi trong SGK có khi giáo viên phải tra từ điển thì mới hiểu đúng ý nghĩa
của những từ ngữ đó để vận dụng vào bài giảng.
Ví dụ trong bài Cảnh ngày hè của nguyễn Trãi có 8 câu thì có 8 chú giải , hoặc
dạy các đoạn trích Truyện Kiều ngoài các chú giải trong SGK cần tham khảo
cuốn Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh.
Khai thác các điển tích điển cố là biện pháp quan trọng dùng trong đọc hiểu thơ
với nhân dân.
Như vậy chú giải là biện pháp quan trọng trong quá trình dạy văn học
trung đại nói chung và thơ trữ tình trung đại lớp 10 nói riêng. Biện pháp này
bước đầu giúp học sinh khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn chương,
góp phần kích thích sự hứng thú và khả năng chủ động, tích cực suy nghĩ, tìm
hiểu bài thơ. Chú giải góp phần làm cho hàm ý nghệ thuật trở nên dễ hiểu, cụ
thể hơn.
7
3.2.2.Cắt nghĩa
Thơ trữ tình trung đại là loại hình văn học có khoảng cách lớn với học
sinh về cả không gian và thời gian, tư duy nghệ thuật, quan điểm thẩm mỹ. Do
vậy bên cạnh việc chú giải từ ngữ, điển cố thì công việc tiếp theo để giải mã văn
bản đó là cắt nghĩa. Nếu đọc văn mà không hiểu nghĩa của từ, ngữ, câu và mối
quan hệ của chúng trong văn bản thì các em không thể nào tiếp nhận được ý đồ
nghệ thuật của tác giả. Quá trình cắt nghĩa là làm cho ý nghĩa của từ, ngữ, câu, ý
nghĩa của hình ảnh nổi bật trong văn bản, làm sáng tỏ hình tượng
Ví dụ: Trong bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi có dùng một số từ cổ . Nếu
giáo viên không cắt nghĩa thì học sinh sẽ khó có thể hiểu đúng ý nghĩa, cái hay
cái đẹp của từ ngữ. Từ rồi trong câu thơ mở đầu có nghĩa là nhàn rỗi nhưng là
sự nhàn rỗi bất đắc dĩ khi Nguyễn Trãi phải về nghỉ ở Côn Sơn vì thế câu thơ có
cái mỉm cười tự trào. Hoặc câu thơ Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ / Hồng
liên trì đã tiễn mùi hương. Phun thức đỏ , tiễn mùi hươnglà những từ cổ là biểu
hiện sức sống của thiên nhiên đang ở độ căng đầy viên mãn chất chứa từ bên
trong và trong trạng thái sẵn sàng phun ra, trào ra.
Cắt nghĩa hình ảnh trong thơ trữ tình trung đại. Hình ảnh trong thơ trữ tình
trung đại thường cô đọng, súc tích, gợi nhiều liên tưởng ở người đọc. Thêm vào
đó các nhà thơ thường sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật tu từ, nhiều hình ảnh
ước lệ, tượng trưng mang tính công thức. Đây là điều gây trở ngại cho việc tiếp
khám phá hiện thực khách quan.
3.2.4.Bình giá thơ trữ tình trung đại
Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hùng “Hoạt động bình giá tác phẩm văn
chương là vấn đề cái đẹp được nhận thức và đánh giá như thế nào”. Nội dung
bình giá cần tập trung vào một số vấn đề sau:
- Thứ nhất là cần bình giá cái đẹp trong ngôn từ và trong tư duy nghệ
thuật của thơ trữ tình trung đại.
Cái hay, cái đẹp của văn chương cần bình là ở “cái bề sâu, cái bề sau, cái
bề xa” (Chế Lan Viên) của ngôn từ, của tất cả các yếu tố, bộ phận làm nên một
tác phẩm văn chương. Ngôn từ trong tác phẩm văn chương không phải là ngôn
từ trong lời nói tự nhiên, ngôn từ trong thơ trữ tình trung đại, thơ Hán-Nôm lại
càng không phải lời nói thông thường hàng ngày, nó gần với những mỹ từ và
nặng tính chất sách vở hơn. Bình cái đẹp trong ngôn từ của thơ Hán - Nôm phụ
thuộc vào từng bài, từng từ, chữ cụ thể. Nhưng nhìn chung phải bám sát vào
những đặc trưng thi pháp về ngôn từ của văn học trung đại nói chung, thơ trữ
tình trung đại nói riêng.
Về ngôn từ, người đọc có trình độ mới hiểu được ngôn ngữ nghệ thuật
như một kiểu lời nói xa xôi, ý vị, mới mẻ để điều cần nói tự bật và sáng long
lanh hơn. Ví dụ: Khi bình về từ phun trong “Cảnh ngày hè ” của Nguyễn Trãi
PGS. TS Lã Nhâm Thìn đã viết: “Cùng viết về cảnh mùa hè, cùng với sự giao
cảm mạnh mẽ bộc trực, các tác giả thời Hồng Đức đem đến cho người đọc một
bức tranh với vẻ đẹp mộc mạc và có phần thô tháp” Ông biết hoà màu sắc, âm
thanh, đường nét theo quy luật của cái đẹp trong hội hoạ, âm nhạc làm cho bức
tranh thiên nhiên vừa có hồn, vừa gợi tả, vừa sâu lắng. Khi nhà thơ viết: Thạch
lựu hiên/còn phun thức đỏ, thì sự kết hợp giữa động từ mạnh phun với từ thức
(dáng vẻ, màu vẻ chứ không phải chỉ là màu sắc đơn thuần), thì câu thơ lại
nghiêng về diễn tả trạng thái tinh thần của cảnh vật. Nguyễn Trãi giao cảm với
thiên nhiên mạnh mẽ, nhưng tinh tế và sâu sắc là thế”
- Thứ hai là tập trung bình giá cái mới, cái độc đáo, cái riêng của mỗi tác
phẩm và mỗi tác giả. Trọng tâm của hoạt động bình giá là phải tìm cho ra cái
- Câu hỏi so sánh liên hệ : Ví dụ khi phân tích cảnh Thúy Kiều và Kim trọng thề
nguyền dưới ánh trăng có thể nêu câu hỏi : Trăng - người bạn muôn đời thủy
chung của thơ ca, nghệ thuật, người bạn tri kỷ của nhà . Em hãy tìm những câu
thơ mà em biết có mối tương đồng với cảnh ngộ của nhân vật trữ tình ?
Trăng tròn xưa nay tượng trưng cho đoàn viên, trọn vẹn trong tình yêu
«vầng trăng vằng vặc giữa trời - đinh ninh 2 mặt một lời song song», «vầng
trăng ai xẻ làm đôi - nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường» (Nguyễn Du). Còn
với HXH, trăng không đem lại niềm vui cũng không đưa đến sự cảm nhận về
hạnh phúc tròn đầy mà trăng có sự tương đồng về thân phận - vầng trăng xế
bóng đã sắp tàn cũng giống như nữ sĩ tuổi xuân đã qua mà hạnh phúc còn dang
dở.
Hoặc hình ảnh ánh trăng ở đoạn 1 “ Nhặt thưa trăng giọi đầu cành ” với hình
ảnh ánh trăng ở đoạn 2 “ Vừng trăng vằng vặc giữa trời ” Có dụng ý nghệ thuật
khác nhau như thế nào ?
Văn học trung đại nói chung và thơ trữ tình trung đại lớp 10 nói riêng
là một giai đoạn văn học quan trọng trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc. các
tác phẩm được tuyển chọn trong chương trình Ngữ văn 10 là những tác giả, tác
phẩm tiêu biểu cho cả một thời kì văn học. Vấn đề đặt ra là dạy học như thế nào
để người học phát huy được tính chủ động, sáng tạo. Đặc biệt là để học sinh
không quay lưng lại với văn học nói chung và văn học trung đại nói riêng là một
bài toán khá nan giải của những giáo viên trực tiêp giảng dạy.
Do vậy để có thể tiếp nhận chính xác nội dung, tư tưởng của tác phẩm
thì nhất thiết phải có những biện pháp dạy học phù hợp. Việc đưa ra những biện
pháp hướng dẫn đọc hiểu thơ trữ tình trung đại lớp 10 cũng là một cách chúng
tôi góp thêm một tiếng nói của người trực tiếp tham gia giảng dạy vào công việc
10
chung của những người giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường THPT. Với mục
đích nâng cao chất lượng dạy học, kích thích hứng thú, khả năng độc lập tự chủ
tạo, gợi tìm, tái hiện, thuyết trình, kết hợp với các hình thức trao đổi thảo luận,
trả lời các câu hỏi.
2. Chuẩn bị của HS. Soạn bài theo hệ thống câu hỏi trong SGK. Tìm thêm
nhưng tài liệu liên quan đến bài thơ.
III. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1.Ổn định tổ chức
Ngày dạy
Lớp dạy
Sĩ số
Vắng
Ghi chú
10A3
43
10A2
42
2.Kiểm tra bài cũ : Nêu đặc sắc nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Chí khí
anh hùng trích Truyện Kiều của nguyễn Du
3. Giới thiệu bài mới
11
Trong tác phẩm truyện Kiều của ND mỗi nhân vật xuất hiện đều thể
hiện một quan điểm tư tưởng của nhà văn. Nếu như Từ Hải xuất hiện thể hiện
khát vọng về người anh hùng lý tưởng, về ước mơ công lý. Thì Kim Trọng xuất
hiện cùng với Kiều để thể hiện một tình yêu sâu sắc mãnh liệt, đỉnh cao của mối
tình say đắm ấy là đêm thề nguyền. Bài học hôm nay cô sẽ cùng các em tìm hiểu
nội dung này qua đoạn trích Thề nguyên
Hoạt động của GV & HS
YÊU CẦU cần đạt
Hoạt động 1
Gv hướng dẫn HS tìm hiểu các chú giải trong
SGK.
Hoạt động 2. GV hướng dẫn HS đọc hiểu
văn bản
Sau một ngày tự tình bên nhau, say đắm: Kiều
đã đề thơ vào bức tranh Tùng của Kim Trọng,
nàng đã đánh đàn cho chàng nghe.Xế chiều
nàng ra về khi thấy cha mẹ và các em chưa về
Kiều quyết định sang nhà KT lần thứ 2.
CH. Nêu nhận xét về hàm nghĩa của các từ:
II. Đọc - hiểu chi tiết
1.Tình yêu táo bạo và cuộc gặp gỡ
nên thơ.
* Kiều đến nhà kimTrọng lần thứ 2
- Hành động : Táo bạo : Vội, xăm
xăm, băng
12
vội, xăm xăm, băng? Tại sao Thúy Kiều lại có
hành động như vậy?
Hs thảo luận, phát biểu.
Gv nhận xét, bổ sung:
- Vì sao kiều lại có suy nghĩ, hành động táo
bạo như vậy? Có phải vì muốn có thêm thời
gian bên nhau, hay vì có cơ hội , hay vì lo sợ
điều gì đó?
Hành động này có nguyên nhân khách quan
và chủ quan. Khách quan thì đã rõ :Cha mẹ đi
+ Nguyên nhân :
- Sợ cha mẹ trách mắng
- Lo sợ cho định mệnh của người con
gái tài sắc
=> Quan niệm mới mẻ tích cực trong
tình yêu .
* Hành động của Kiều biểu thị rõ rệt
về khát vọng một tình yêu tự do chính
đáng của thanh niên trong xã hội cũ.
Đây cũng là nét mới trong cách nhìn
tình yêu của Nguyễn Du. Thông
thường quan niệm Nho giáo cho rằng
trong quan hệ nam nữ, bao giờ người
con trai cũng phải đóng vai trò chủ
động. Nhưng ở đây, Nguyễn Du đã
nhấn mạnh sự chủ động của Kiều, của
người con gái. Nguyễn Du có cái
nhìn vượt trước thời đại.
* Trong văn học dân gian ( trong ca
dao) người con trai luôn chủ động
trong tình yêu điều này được thể hiện
qua những lời tỏ tình của chàng trai
với cô gái có khi mộc mạc chân thật
có khi rất tế nhị kín đáo.
Ví dụ :
Đến đây anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng hay chưa.
Hoặc
Gặp đây anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này có lấy anh không
trong giấc mộng tình yêu Kiều đột nhiên xuất
hiện giữa khung cảnh nhặt thưa trăng dọi đầu
cành ( Ánh trăng dìu dịu xuyên qua ngọn cây
chiếu xuống mặt đất chỗ nhặt chỗ thưa – Rất
thơ mộng ). Cảnh vật thiên nhiên không chỉ
thi vị hóa tình yêu giữa Kim Trọng với Thúy
Kiều mà càng nhấn mạnh niềm vui sướng
ngất ngây của Kim trọng khi Kiều xuất hiện.
CH. Kiều đã giải bày như thế nào trước sự * Lời giải bày của Kiều
xuất hiện bất ngờ của mình ?
+ Khoảng vắng đêm trường: Cảm
giác về thời gian không gian tâm lý.
Chỉ cách nhau một bức tường thế mà
nàng phải xé rào vượt tường để đến
CH. Em có nhận xét gì về đặc sắc nghệ thuật với chàng Kim
của đoạn thơ, và hãy chỉ ra giá trị tác dụng của + Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa”
đặc sắc nghệ thuật đó?
câu này đếu được thốt lên từ KT thì
không có gì đáng nói. Nhưng Nó lại
là câu nói của Kiều “Vì hoa” vì tình
yêu, tình yêu đẹp như hoa, nồng nàn
tỏa hương khoe sắc. Vì tình yêu, vì
khát vọng của tình yêu tự do. Do đó
Kiều đã bất chấp sự hà khắc của lễ
+ Trong đoạn trích tác giả đã sử dụng Hình giáo PK, vượt qua rào cản ấy để đến
ảnh ước lệ, hoa mĩ, lối nói ẩn dụ, điển tích điển với tình yêu, Đến đây ta hiểu rõ hơn
cố tạo nên cảnh đẹp, người đẹp, tình thiết tha. thái độ vội vã, xăm xăm băng băng
Đó là một không gian rất thần tiên rất thiêng của Kiều để đến nhà KT .Khát vọng
liêng, nó không chỉ thể hiện sự táo bạo mạnh tình yêu hạnh phúc thật mãnh liệt.
14
anh linh tổ tiên, cha mẹ . Nhưng cảnh
thề nguyền của KT- TK chưa được
cha mẹ cho phép, lễ giáo PK không
thừa nhận đành xin trời đất chứng
dám cho cuộc tình của đôi trẻ
CH.Cảnh thề nguyền được Nguyễn Du miêu tả + Thi lễ
như thế nào ? Đó là những thi lễ nào ?
- Viết lời ước nguyện :Cùng thảo một
chương..
- Trao kỉ vật : Cắt tóc ăn thề Tóc mây
một món dao vàng chia đôi . Đó là
minh chứng của một mối tình sắc son
- Cùng đọc lời thề: Cả hai cùng quỳ
xuống hướng mặt lên bầu trời đọc lời
CH. Qua cách miêu tả này em hiểu gì về thái thề trước sự chứng dám của vầng
độ của tác giả
trăng vằng vặc
- Họ ghi lòng tạc dạ suốt đời :Trăm
năm tạc một chữ đồng đến xương
Lễ thề nguyền diễn ra chóng vánh
nhưng vô cùng thiêng liêng và trang
15
CH. Sau khi học xong đoạn trích em hãy khái
quát lại những đặc sắc về ND và NT của đoạn
trích này ?
CH. Từ nội dung đoạn trích em có thể rút ra
bài học gì về nét đẹp văn hóa trong tình yêu
- Ca ngợi tình yêu đắm say, mãnh liệt.
- Thể hiện thái độ đồng cảm trân
trọng của ND với khát khát vọng về
tình yêu tự do, hạnh phúc của con
người .
- Tiếng nói vượt thời đại của Nguyễn
Du trong tình yêu .
* Nghệ thuật :
- Thể thơ : Lục bát
- Sử dụng điển tích điển cố
- NT kể chuyện, miêu tả, cách sử
dụng ngôn ngữ hình ảnh các biện
pháp tu từ để tạo nên ấn tượng sâu
sắc trong mối tình Kim - Kiều.
III. Luyện tập
* Liên hệ đoạn trích Trao duyên .
- Sự nhất quán trong quan niệm về
tình yêu của Thúy Kiều: tình yêu- tình
cảm thủy chung và thiêng liêng.
+ Thủy chung: trước sau như một...
+ Thiêng liêng: tình yêu gắn liền chữ
“tình” và “nghĩa”, là lời nguyện thề
trước trời đất.
Nàng đau xót tột cùng khi phải trao
duyên.
Trao duyên là việc làm trả nghĩa với
Kim Trọng, dịu di phần nào nỗi đau,
mất mát không gì bù đắp nổi của
nàng.
Câu 3. Không gian của buổi thề nguyền được diễn tả qua nhưng từ ngữ hình ảnh
nào ?
Câu 4. Tìm những từ Hán – Việt và những điển cố được sử dụng trong đoạn
trích ?
Câu 5. Hoặc hình ảnh ánh trăng ở đoạn 1 “ Nhặt thưa trăng giọi đầu cành ” với
hình ảnh ánh trăng ở đoạn 2 “ Vầng trăng vằng vặc giữa trời ” Có dụng ý nghệ
thuật khác nhau như thế nào ?
Câu 6. Anh/ chị hãy viết đoạn văn khoảng 5 đến 7 dòng nói về nét văn hóa
trong tình yêu.
* Kết quả kiểm tra đánh giá từ bài viết của học sinh như sau :
So sánh đối chiếu giữa hai lớp 10A2 ( dạy theo phương pháp truyền thống) ;
Lớp 10A3 ( Dạy học theo những phương pháp đã đề xuất ở trên ) kết quả như
sau :
Lớp SS
Giỏi
Khá
Trung bình Yếu
Kém
S.L % S.L %
S.L %
S.L %
S.L
10A2 41
1
7
28
5
10A3 43
5
13
Dạy đọc hiểu không phải là cung cấp cho học sinh về kiến thức tác phẩm
mà dạy cho học sinh cách thưc, phương pháp để đi tìm kiến thức đó là cách : “
Dạy cho học sinh phương pháp đọc, kĩ năng đọc, năng lực đọc để học sinh có
thể đọc hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại” Phương pháp dạy học ngữ văn hiện
nay là chuyển từ giảng văn sang đọc - hiểu văn bản , là dạy cho học sinh cách
đọc văn. Nghĩa là giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc với văn bản ngôn từ ,
dạy cho học sinh cách khám phá giá trị của văn bản thông qua thế giới nghệ
thuật ngôn từ. Phương pháp này mới phát huy được tính chủ động tích cực, sáng
tạo của học sinh.
Một vài năm trở lại đây, phương pháp dạy học này trở nên quen thuộc với giáo
viên Ngữ văn ở trường phổ thông. Tuy nhiên, không phải giáo viên nào cũng
hiểu một cách thấu đáo về đọc - hiểu và nhất là khi vận dụng phương phương
pháp này vào đọc hiểu văn bản thơ trung đại.
Vì thế, trong bài viết này , thông qua việc tìm hiểu những cơ sở lí luận về
phương pháp đọc - hiểu, bản thân tôi đã tổng hợp và đưa ra những định hướng
tổ chức và phương pháp đọc - hiểu thơ trữ tình trung đại Việt Nam trong
chương trình ngữ văn lớp 10 THPT . Từ những đề xuất đó, tôi đã ứng dụng thiết
18
kế một giáo án và tiến hành dạy thể nghiệm tại lớp 10 A2 ,10A3 Trường THPT
Đinh chương Dương để cả tổ ngữ văn dự giờ và rút kinh nghiệm .
Qua tiết dạy thể nghiệm, kết quả kiểm tra, đánh giá, qua nhận xét của
giáo viên trong tổ chuyên môn chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:
- Dạy học môn ngữ văn nói chung và dạy thơ trữ tình trung đại nói riêng
cần bám sát đặc trưng thể loại, đặc điểm thi pháp. đặc trưng thể loại, theo
nguyên tắc tích hợp và đặc biệt là phù hợp với yêu cầu đào tạo con người mới.
- Giáo viên cần nghiên cứu kĩ các chú giải, giải thích cụ thể rõ ràng đúng
lúc đúng chỗ để học sinh có thể dễ dàng tiếp cận giá trị của văn bản.
- Giờ đọc văn phải lấy học sinh làm đối tượng trung tâm. Giáo viên phải
của những người trực tiếp quản lý chuyên môn, của các thầy cô giáo đang trực
tiếp giảng dạy để sáng kiến này được hoàn thiện và mang tính khả thi hơn.
19
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 05 năm 2016
TÔI XIN CAM KẾT SKKN NÀY DO MÌNH
TỰ LÀM KHÔNG COPY CỦA AI.
Lương Thị Vân
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa ngữ văn lớp 10 tập I, Tập II . Nxb Giáo dục 2006.
2. Sách giáo viên ngữ văn lớp 10 tập I, Tập II . Nxb Giáo dục 2006
3. Đọc hiểu văn bản - một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy
học hiện hiện nay. - Trần Đình Sử.. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Hà Nội
2006.
4. Dạy học văn là dạy học sinh đọc - hiểu văn bản. - Trần Đình Sử. .Văn học
và Tuổi trẻ, tháng 9/2007
5.Kĩ năng đọc hiểu văn bản ngữ văn 10- Nguyễn Kim Phong . NXB giáo dục
năm 2007.
6.. Kỹ năng đọc hiểu văn. - Nguyễn Thanh Hùng . Nxb ĐHSP Hà Nội,
8/2011.
7. Dạy học văn là dạy học sinh đọc - hiểu văn bản. - Trần Đình Sử. Văn học
2
1 . Cơ sở lí luận
2
2. Thực trạng vấn đề
2
3. Giải pháp
4
Giáo án thể nghiệm
11
4 Hiệu quả của sáng kiến
17
III. .Kết luận , kiến nghị
18
1.Kết luận
18