Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
SỞ GD&ĐT NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT TRỰC NINH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DỰ THI
Tên đề tài: “Một số phương pháp dạy tác phẩm kí
hiện đại Việt Nam” trong chương trình Ngữ văn 12
(Ban cơ bản)
Tác giả: Trương Thị Chanh
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Ngữ văn
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Trực Ninh
Trực Ninh, năm 01tháng 06 năm 2016
1
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1; Tên sáng kiến
- Một số phương pháp về dạy tác phẩm ký hiện đại Việt Nam (trong chương
trình Ngữ văn 12 ban cơ bản)
2; Lĩnh vực áp dụng sáng kiến môn Ngữ văn
II; Nội dung và phương pháp thực hiện
1; Nội dung
1.1; Khái quát về thể kí
1.2; Những đặc điểm cơ bản của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường
1.3; Những đặc điểm cơ bản của tùy bút (kí) Nguyễn Tuân
2; Một số phương pháp về việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam
(Chương trình Ngữ văn 12, ban cơ bản)
2.1; Về phương pháp
2.1.1; Dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại
2.1.2; Rèn luyện phương pháp đọc – hiểu cho học sinh
2.1.3; Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy
2.2; Giáo án tiết dạy thực nghiệm
D; Hiệu quả do sáng kiến đem lại
E; Kết luận
G; Cam kết không sao chép và vi phạm bản quyền
Tư liệu tham khảo
3
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
A; LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, ngành giáo dục
đã có những bước tiến khả quan trong cải cách giáo dục, đổi mới nội dung,
phương pháp giảng dạy ở các cấp phù hợp với mục tiêu giáo dục, đào tạo. Thông
qua các hội nghị chuyên đề môn Ngữ văn được Sở giáo dục , nhà trường tổ chức
hàng năm, chúng tôi đã trao đổi, rút kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy
dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường là bút kí. Do vậy thể loại kí dùng
để chỉ chung cho cả tùy bút và bút kí. Đây là 2 tác phẩm hay trong chương trình,
hơn nữa thể loại này các em học sinh đã được học ở lớp 11 “Thượng kinh kí sự”
của Lê Hữu Trác, đọc thêm “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ. Vì vậy khi
tiếp cận với 2 tác phẩm thuộc thể loại này, các em học sinh gặp nhiều thuận lợi
trong việc đọc hiểu tác phẩm hơn.
II; Khó khăn
- Thực trạng cho thấy nhu cầu xã hội hiện nay, trào lưu học sinh dự thi vào các
trường đại học thường chọn các môn tự nhiên như Toán, Lý, Hóa, Sinh (như học
sinh các lớp 12A1,2,3,4 của trường THPT Trực Ninh) nên với môn Ngữ văn, các
em không chú ý đầu tư học tập, không có hứng thú học tập. Vì lý do đó thầy cô
cũng mất đi niềm say mê truyền đạt kiến thức cho học sinh. Trong các tác phẩm là
truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ thì việc truyền đạt tương đối thoải mái và các thầy cô
cũng có những cảm hứng để truyền đạt, bởi vì những thể loại này “chất văn” “chất
thơ” phong phú, đã làm cho thầy cô ít nhiều làm tốt được công việc của mình.
Nhưng riêng đối với tác phẩm văn học viết theo thể loại kí thì ngược lại. Vì lẽ
việc giảng dạy ký đòi hỏi người dạy phải bám chắc đặc điểm cơ bản của thể loại
kí, đó là tính xác thực. Tác phẩm kí thường không hư cấu mà tác giả chỉ lựa chọn
ngay những sự việc, những con người vốn đã có giá trị nổi bật trong cuộc sống để
phóng bút. Nếu thầy cô chỉ thỏa mãn với kiến thức có sẵn trong bài văn thì khó
mà giảng hay được, dẫn đến giờ học bài kí muôn thuở vẫn khô khan, học sinh khó
tiếp nhận được văn bản. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng: Giảng dạy một tác
phẩm kí là sự khó khăn, vất vả, công phu đối với giáo viên.
- Cả 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là 2 tác
phẩm kí dài, sách giáo khoa đã lược bớt nội dung ở một số đoạn văn, điều đó lại
5
Người viết: Trương Thị Chanh
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
đổi mới trang thiết bị dạy học, đánh giá thi cử. Đứng trước yêu cầu trên, là một
giáo viên môn Ngữ văn, tôi có những suy nghĩ là làm sao để giờ học phải thực sự
hấp dẫn, học sinh nắm vững bài học, thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tâm hồn, phát
triển trí tuệ học sinh, biết cảm thụ được cái hay, cái đẹp, giá trị của mỗi tác phẩm
văn học. Trên cơ sở đó, tôi xin đưa ra một số ý kiến để cùng chia sẻ, bàn bạc, trao
đổi về việc dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12
(ban cơ bản), mà cụ thể là 2 tái phẩm; đọc hiểu văn bản chính khóa: “Người lái đò
Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của nhà
văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.
II; Nội dung và những phương pháp về việc giảng dạy kí hiện đại Việt Nam
trong chương trình Ngữ văn 12 (ban cơ bản)
1; Nội dung
1.1; Khái quát về thể kí
Kí là một loại văn xuôi tự sự, có nguồn gốc từ kí lịch sử, dùng để ghi chép về
con người, sự vật, phong cảnh…kí bao gồm nhiều thể như: Bút kí, hồi kí, du kí,
phóng sự, kí sự, nhật kí, tùy bút…
Trong văn học cổ phương Đông, thể kí vốn có mặt từ thời kỳ tiền Tần và về sau
phân thành 2 nhánh: có kí của sử và kí của truyện. Trong một thời gian khá dài thì
kí là tiền thân của tiểu thuyết, có khi tên gọi kí cũng dùng cho tiểu thuyết hay một
câu chuyện có kịch tính như Tây du kí, Tây sương kí…
Trong nền văn học Việt Nam, kí có từ rất lâu đời, nhưng phải đến thế kỉ XVII,
đặc biệt là từ thế kỷ XIX, khi đời sống các dân tộc ngày càng phát triển nâng cao,
khi kỹ nghệ in ấn và báo chí phát triển, khi văn học cũng đã thâm nhập vào các
lĩnh vực hoạt động tinh thần khác của xã hội và nhà văn có ý thức tham gia vào
tin, đọc tác phẩm của ông, người đọc được tiếp xúc với một kho kiến thức phong
phú. Nhà văn hiểu sâu sắc về văn hóa, triết học, lịch sử, địa lý, âm nhạc, điện ảnh,
văn chương nghệ thuật…
- Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường thiên về tùy bút. Đọc những trang kí của Hoàng Phủ
Ngọc Tường cảm nhận về thể kí có sự thay đổi thú vị. Thể loại chuyên ghi chép
các sự kiện xác thực qua ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường lại thấm đẫm chất trầm
tư, trữ tình như: “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, “Hoa trái quanh tôi”…chính là
8
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
sản phẩm của một phong cách kí độc đáo, với những trang viết vừa trí tuệ, vừa
nặng trĩu trầm tư.
- Kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường có chất tự do, tản mạn. Sự kiện đôi khi chỉ là cái
cớ để nhà văn bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ chủ quan của mình. Cách tổ chức
văn bản mang tính nghệ thuật cao, văn phong giàu chất thơ, hình ảnh gợi cảm. “Ai
đã đặt tên cho dòng sông?” là một trong những bút kí mang đậm dấu ấn phong
cách Hoàng Phủ Ngọc Tường.
- Xuyên suốt các tác phẩm kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường là lòng yêu quê hương
đất nước, là tâm huyết với tinh hoa dân tộc. Ông luôn gắn cái đẹp, gắn nghệ thuật
với những truyền thống văn hóa dân tộc. Những mẩu kí của Hoàng Phủ Ngọc
Tường, dù viết về vùng nào, dù viết về những năm tháng chiến tranh hay cuộc
sống đương đại, đều lấp lánh niềm tự hào về những nét đẹp của quê hương đất
nước. Viết về vùng đất Mũi, nhà văn truyền cho người đọc niềm vui sướng tự hào
về “món quà tặng của biển cả dành cho đất nước ta” (Rừng nước mặn). Viết về
Lạng Sơn bằng những con chữ lóng lánh tài hoa, nhà văn thổi vào người đọc
hương thơm nhẹ nhàng quyến rũ của cây hồi “nó thân thiết và mơ hồ như một kỉ
chủ quan của ông mà phản ánh hiện thực cuộc sống.
+ Tùy bút của Nguyễn Tuân đúng nghĩa tự do về phép tắc. Tùy bút là một tác
phẩm tự sự có kết cấu lỏng lẻo, nhưng không buông tuồng dễ dãi. Ở tùy bút của
Nguyễn Tuân, mạch văn cứ theo dòng suy nghĩ mà tràn chảy miên man từ truyện
nọ tạt sang truyện kia. Nhà văn cứ theo hứng bút, cứ nhởn nhơ theo trí nhớ bông
lông, theo năng lực cảm thụ cái đẹp rất tài hoa nghệ sĩ của mình mà liên tưởng so
sánh, tạo những bước nhảy vọt bất ngờ của ý tứ, của hình ảnh, nhưng không chệch
ra ngoài vẻ đẹp độc đáo của nghệ thuật.
+ Tùy bút của Nguyễn Tuân có phẩm chất văn chương qua sự tìm tòi sáng tạo về
cách diễn ý, tả cảnh, đặt câu, dùng từ. Văn tùy bút của Nguyễn Tuân là cả một
kho tu từ đầy ắp và thú vị những ví von, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng. Nhà văn tả
cảnh theo sự thay đổi cảm giác rất tinh tế “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền
sử…hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích thuở xưa” (Người lái đò Sông Đà). Câu
văn tùy bút của Nguyễn Tuân có kiến trúc đa dạng, giàu nhạc tính.
10
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
+ Tùy bút của Nguyễn Tuân là sự kết tinh tài hoa và uyên bác, khi tập trung miêu
tả con Sông Đà bằng sự huy động vốn liếng tri thức chuyên môn cực kỳ giàu có
của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau (sử học, địa lí học, quân sự, tri
thức về võ thuật, nghệ thuật văn chương, hội họa, điêu khắc âm nhạc, điện
ảnh…). Và một khi đã miêu tả thì ông tả đến cùng sự vật hiện tượng, đúng là tả
đến “Sơn cùng thủy tận”, uống rượu cả cấn “Dĩ tận vi độ”.
* Những đặc trưng cơ bản trên đây của các tác phẩm kí sẽ là điểm tựa cho thầy cô
giáo trong việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam.
được tác giả phản ánh trong 2 tác phẩm kí so với đối tượng tương tự có thật
ở ngoài đời. Vì kí viết về sự thật, người thật, việc thật nên đòi hỏi phải chính xác,
trung thực. Việc này là rất cần thiết.
- Sông Đà và sông Hương khi đi vào 2 tác phẩm của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ
Ngọc Tường đã trở thành đối tượng thẩm mỹ của nhà văn. Con sông Đà nếu chỉ
được Nguyễn Tuân ghi chép bằng những số liệu đơn thuần như một nhà địa lý
(tên khai sinh, độ dài…) thì cái phần hồn hung bạo và thơ mộng của nó sẽ không
được phát hiện. Dòng sông Hương của xứ Huế thơ mộng cũng vậy. Nếu Hoàng
Phủ Ngọc Tường chỉ ghi lại các khúc đoạn trong dòng chảy của nó từ thượng
nguồn về với Huế không thôi thì sẽ không có gì hấp dẫn, mà cái hấp dẫn chính là
ở chỗ tác giả tưởng tượng sông Hương như một con người có số phận, có tâm hồn
(cô gái Digan) có hành động cụ thể dưới những điểm nhìn khám phá khác nhau.
Khi thì sông Hương như một cô gái mang trong mình tình yêu tha thiết với thành
phố Huế, khi lại là một người mẹ sản sinh cho xứ Huế những giá trị văn hóa
truyền thống cùng âm nhạc, thi ca, khi lại là một nhận chứng của lịch sử đầy oai
hùng hiển hách.
2.1.1.2; Học sinh phát hiện và đánh giá óc quan sát, trí liên tưởng, tưởng
tượng năng lực sử dụng ngôn ngữ của 2 nhà văn.
Sức hấp dẫn của kí chính là ở khả năng tái hiện sự thật một cách sinh động của
tác giả. Nếu chỉ đơn thuần là ghi chép thì tác phẩm kí hết sức khô khan không gây
được ấn tượng với người đọc. Ở đây Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường
đều rất “tài hoa”, luôn nhìn cuộc sống, sự vật, con người ở phương diện, góc độ
văn hóa thẩm mỹ, nên phát hiện ra nhiều vẻ đẹp của hiện thực cuộc sống. Đồng
12
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
miền Bắc xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Để chứng minh tài nghệ của ông đò, tác giả
đã hư cấu một cuộc vượt thác sông Đà có một không hai để thấy được “tay lái ra
hoa” của một người nghệ sĩ có tâm hồn cao thượng, một phong thái ung dung tự
tại, một trí thông minh lão luyện và lòng dũng cảm được tôi luyện trong lao động
và chiến đấu. Viết ông lái đò cũng là cách Nguyễn Tuân tôn vinh vẻ đẹp của con
người lao động bình thường, giản dị nhưng phi thường trong nghề nghiệp, đó là
chất “vàng mười” mà Nguyễn Tuân suốt đời đi tìm cái đẹp đó.
- Với tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường Ở
Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông huy động nguồn tri thức phong phú thuộc các lĩnh
vực địa lí, lịch sử, văn hóa để xây dựng một hình tượng sông Hương.
+ Vẻ đẹp thiên nhiên của sông Hương là kết quả của những tri thức địa lí và khả
năng quan sát sắc sảo của người trần thuật.
• Ở thượng nguồn: Sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ “chảy rầm rộ…”, sông
Hương “phóng khoáng và man dại” như một con người có “bản lĩnh gan dạ…”
• Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, sông Hương giấu kín cuộc hành
trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, nhà văn đã sử dụng biện pháp nhân hóa để
biến sông Hương từ một cô gái Digan thành “người gái đẹp nằm mơ màng giữa
cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại…”
• Ra khỏi vùng núi, sông Hương trở nên dịu dàng “uốn mình theo những đường
cong thật mềm”… “dòng sông mềm như tấm lụa…” ở chặng này, sông Hương trở
thành “người mẹ phù sa” mang “vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ”.
• Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm in bóng
cầu Tràng Tiền trông “nhỏ nhắn như những vành trăng non” “uốn một cánh cung
rất nhẹ”. Dòng sông như “vui tươi hẳn lên” và đặc biệt chậm rãi, êm dịu mềm
mại…dòng sông như “một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”.
• Trước khi rời khỏi thành phố thân yêu, sông Hương lưu luyến mà nhà văn đã ví
Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là tính chủ quan, chất trữ tình sâu đậm của
cái tôi tác giả. Cho nên sức hấp dẫn của kí còn phụ thuộc vào sức hấp dẫn của cái
tôi ấy (thường là những cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độc đáo)
- “Cái tôi” của Nguyễn Tuân trong “Người lái đò sông Đà”.
15
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
Sở dĩ Nguyễn Tuân tìm đến và thành công với thể tùy bút, bởi vì nó là thể văn
phóng túng, tự do, đáp ứng được cá tính “ngông” trên trang viết của Nguyễn
Tuân. Là nhà văn có phong cách nghệ thuật đặc sắc Nguyễn Tuân hấp dẫn người
đọc bởi “cái tôi” độc đáo, sự tài hoa, uyên bác, giác quan sắc nhọn, tinh tế, nghệ
thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện, giàu hình ảnh, cảm xúc. Sức hấp dẫn của ngòi
bút Nguyễn Tuân trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là ở sự độc đáo, sự giàu
có về chữ nghĩa, sự công phu trong quan sát và lựa chọn ngôn từ…
+ Đó là một cái tôi tài hoa: Luôn nhình cuộc sống, sự vật, con người ở phương
diện, góc độ văn hóa thẩm mỹ nên phát hiện ra nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và mỹ lệ của
thiên nhiên, đất nước. Với đôi mắt của nhà văn suốt đời “duy mĩ”, Nguyễn Tuân
đã nhìn sông Đà ở góc độ thẩm mỹ để phát hiện ra vẻ đẹp trữ tình của con sông:
Sông Đà được ông ví như một người con gái đẹp kiều diễm với “áng tóc mun
ngàn ngàn vạn vạn sải” với màu sắc của nước sông Đà thay đổi theo mùa, sông
Đà gợi cảm, sông Đà “hoang dại như một bờ tiền sử, bờ sông hồn nhiên như một
nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Không chỉ nhìn cảnh vật ở điểm nhìn văn hóa thẩm
mỹ, Nguyễn Tuân còn nhìn người lái đò ở góc độ nghệ sĩ để phát hiện ra tài năng
trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh, khi đã nắm chắc được “binh pháp” của thần
sông, thần đá “thuộc lòng các luồng sinh tử” của các con thác dữ nên chủ động
thác đủ loại, về các tài nguyên đất nước vùng sông Đà, về những bài thơ của
Nguyễn Quang Bích, Tản Đà…về con sông miền Tây của Tổ quốc này.
* Ở “Người lái đò sông Đà”, lâu nay người ta chỉ quen thấy một cái tôi tài hoa,
uyên bác. Nhưng rõ ràng thông qua cái tôi ấy, người đọc còn nhận thấy được tác
phẩm còn là cảm hứng ngợi ca đầy say mê của một con người yêu tha thiết vẻ đẹp
của thiên nhiên, đất nước, con người như Nguyễn Tuân – suốt đời đi tìm cái đẹp,
cái đẹp của một cây bút tài hoa độc đáo...
- “Cái tôi” trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường
+ Cái tôi say mê kiếm tìm cái đẹp, dạt dào cảm xúc và luôn gắn bó với thiên
nhiên.
• Trong kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, cái tôi tác giả gắn kết, hòa nhập thật sự
với sông nước, trời mây, cây cỏ, ngàn thông. Những trang kí của Hoàng Phủ Ngọc
Tường mang đến cho người đọc những miền không gian xanh thắm, ẩn chìm
17
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
những viết trầm tích văn hóa từ thiên nhiên. Sự hòa nhập với thiên nhiên khiến
nhà văn đã viết lên những trang văn vừa giàu lượng thông tin, vừa mượt mà, đẹp
như một bài thơ.
• Thiên nhiên trong kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là phiên bản tâm hồn
của nhà văn. Sông Hương trong thơ ông không chỉ là biểu tượng của thiên nhiên
thuần khiết mà còn lấp lánh chất nhân văn của một triết lí sống. Cái tôi có lúc
thoát hẳn sự ràng buộc của bản thể để hoà nhập vào sông nước.
• Cảm xúc vô cùng phong phú, có khi nó được bộc lộ trực tiếp với các trạng thái
nội tâm: vừa thích thú, vừa lãng đãng, miên man trong vẻ đẹp của dòng sông đang
đổi sắc không ngừng “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” hay cái điệu chảy “như
của quê hương, con người hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng
sông, để làm nước thơm tho mãi…”, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”câu hỏi bâng
khuâng khơi gợi sự kiếm tìm cái đẹp tiềm ẩn trong sông Hương và thiên nhiên,
con người xứ Huế.
• Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả sông Hương và không gian Huế với tình yêu
nồng thắm, với trái tim thi sĩ đa cảm, đồng thời bằng con mắt của một thi sĩ tinh
tường. Nhà thơ Ra-xun Ham-đa-tốp đã từng bình luận: “Nếu nhà thơ không tham
gia vào việc hoàn thành thế giới, thì thế giới đã không được đẹp đẽ như thế này”.
Bằng những trang viết tài hoa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần tạo nên một
thế giới đẹp và thơ.
+ Một cái tôi tài hoa uyên bác
Hoàng Phủ Ngọc Tường tỏ ra am hiểu tường tận những gì mình viết. Với xứ Huế
dường như nhà văn hiểu sâu sắc những cành cây ngọn cỏ, tường tận từ tên đất, tên
làng. Với sông Hương, nhà văn thông thuộc từng khúc sông, từng dòng nước, chỗ
ghềnh thác cuộn xoáy, chỗ phẳng lặng như mặt hồ yên tĩnh. Nhà văn am hiểu sâu
sắc về văn hóa Huế, nền âm nhạc cổ điển hay những trang thơ về sông Hương.
Vốn kiến thức uyên bác ở nhiều lĩnh vực, đó là kết quả của một chuyến đi và một
trí nhớ “phi thường”. Bằng những hiểu biết phong phú, nhà văn cung cấp cho
người đọc một lượng thông tin lớn về địa lý, dòng chảy của sông Hương, về lịch
sử, về văn hóa, về văn học nghệ thuật. Bằng những con chữ lóng lánh tài hoa
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần làm nổi bật dòng sông, thiên nhiên cũng
19
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
như con người Huế. Cái tôi ấy thật giàu tình cảm, say mê cái đẹp của cảnh cũng
như con người xứ Huế: Tất cả những phát hiện về vẻ đẹp của sông Hương, xét
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, môn học bắt buộc ở cả 3 cấp học,
hướng tới việc hình thành phát triển năng lực đọc, viết tiếng Việt (năng lực tiếp
nhận và xử lý thông tin, năng lực cảm thụ thẩm mỹ, năng lực trình bày, năng lực
tạo lập các loại văn bản cần thiết trong cuộc sống). Dạy học đọc hiểu là một trong
những nội dung cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong tiếp
nhận văn bản. Nếu như trước đây chúng ta coi phân tích tác phẩm hay giảng văn
là một phương pháp đặc thù của dạy văn, thì hiện nay đã có những thay đổi trong
cách tiếp cận này. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu không có nghĩa là nhằm cảm thụ
một chiều cho học sinh những cảm nhận của giáo viên về văn bản được học mà
hướng dẫn cung cấp cho học sinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề
về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho học sinh năng lực tự
đọc một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân. Hoạt động đọc hiểu của học
sinh cần được thực hiện theo một trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đọc
đúng, đọc thông, đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo. Khi hình thành
năng lực đọc hiểu của học sinh cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm
mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy.
Trong quá trình đọc hiểu học sinh cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:
- Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân – là những hiểu biết về
chủ đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể loại
của văn bản.
- Thể hiện những hiểu biết về văn bản
+ Tìm kiếm thông tin, đọc lướt để tìm ý chính, đọc kỹ tìm các chi tiết
+ Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, phân tích, kết nối, tổng hợp…thông tin
để tạo nên hiểu biết chung về văn bản.
+ Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản
21
Đà”, Nguyễn Tuân muốn đề thơ, phổ nhạc vào sông nước quê hương. Cảm hứng
sông Đà đã thành nghệ thuật “thành một gợi cảm mênh mang” về sông quê, về
22
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
con người Việt Nam trong bối cảnh ấy. Và ông cũng là “Đà giang độc Bắc lưu”
trên bình diện nghệ thuật.
+ Nội dung của văn bản
• Hình tượng con sông Đà: Hung bạo, trữ tình
• Hình tượng người lái đò: Tài hoa, điêu luyện trong nghệ thuật vượt thác leo
ghềnh
+ Đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Tuân
Nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ: tài hoa uyên bác và dụng nhiều
tri thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau để quan sát miêu tả (địa
lý, lịch sử, nghệ thuật, quân sự, võ thuật, hội họa, điêu khắc, điện ảnh, thơ ca…)
thiên nhiên và con người Tây Bắc. Thể tùy bút phóng túng ngôn từ phong phú và
điêu luyện.
+ Yêu cầu học sinh tìm đọc toàn văn bản “Người lái đò sông Đà”
- Đọc tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, học
sinh cần làm nổi bật được:
+ Thể loại: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” thuộc thể kí (nghiêng về tùy bút) giàu
chất trữ tình, giàu lượng thông tin.
+ Cảm hứng sáng tạo: Huế trở thành một phần trong đời sống tinh thần của nhà
văn. Những mẩu kí viết về Huế thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của Hoàng Phủ
Ngọc Tường với mảnh đất giàu trầm tích văn hóa. Về “chất Huế” trong kí của
Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn Tô Hoài đã nhận xét thú vị: “Nếu có thể so
viên cho học sinh viết đoạn văn cảm nhận về vẻ đẹp của dòng sông quê hương
mình, để giáo dục cho các em tình yêu quê hương cũng bắt nguồn từ những cái
giản dị và đời thường gần gũi nhất với mỗi con người: Dòng sông quê hương.
* Như vậy: Việc đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho học sinh đọc-hiểu văn bản mà
còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo. Viết
sáng tạo là khả năng trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân về
đối tượng, vấn đề được đặt ra…viết sáng tạo được thể hiện ở nhiều phương diện
khác nhau, với các mức độ khác nhau, vì vậy cần tạo ra được những cơ hội để học
24
Người viết: Trương Thị Chanh
Giáo viên: Trường THPT Trực Ninh
sinh thể hiện ngay trong quá trình đọc hiểu, đồng thời phát triển các năng lực khác
trong học tập.
2.1.3; Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy.
Bản đồ tư duy là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận
dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách ghi nhớ chi tiết để tổng
hợp hay để phân tích một vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Cách
ghi chép này khoa học, giúp cho học sinh dễ nhớ và dễ ôn tập hơn. Việc nhớ và
ghi lại các thông tin sau này sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi sử dụng
phương pháp truyền thống. Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy sẽ có những ưu
điểm sau:
- Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng
- Quan hệ hỗ trợ tương ứng giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận. Ý càng quan trọng
thì sẽ nằm vị trí càng gần ý chính.
- Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác.