PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ở bậc phổ thông trung học, văn học hiện đại Việt Nam sau 1975đã được
đưa vào giảng dạy ở chương trình chính thức Ngữ văn 12 bắt đầu từ năm học
2008 – 2009. Cho đến nay, việc giảng dạy văn học sau năm 1975 chỉ mới dừng
lại ở việc tìm hiểu tác giả, tác phẩm cụ thể. Tính hệ thống về một giai đoạn hay
về một thời kì văn học ở giai đoạn này chưa được đề cập nhiều. Và hầu như
giới nhà văn và giới nghiên cứu phê bình văn học, người dạy, người học đều
đang còn phải tranh luận, về những vấn đề mới này.
Hậu quả nặng nề của hai cuộc chiến tranh. Cùng với những khó khăn
chồng chất của thời hậu chiến đã đẩy đất nước đến cuộc khủng hoảng kinh tế -
xã hội ngày càng nặng nề ở nửa đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Hòa bình trở
lại, con người trở về với cuộc sống bình thường, cái đời thường phức tạp, muôn
vẻ lẫn lộn tốt xấu, trắng đen, bi hài ý thức cá nhân với mọi nhu cầu của con
người như một cá thể, một thực thể sống đã được thức tỉnh trở lại. Các giá trị về
xã hội, đạo đức, nhân cách trước đây bền vững là thế thì lúc này nhiều điều đã
không còn thích hợp, đã từng lung lay, rạn nứt. Trong khi đó các chuẩn giá trị
mới thì chưa hình thành thực sự. Trong tình hình ấy, các nhà văn cũng đã nhìn
nhận và phán ánh qua những tác phẩm văn học về những diễn biến khá phức
tạp: thái độ chia lìa, quay lưng lại với mọi giá trị truyền thống, con người rơi
vào tình thế lưỡng nan, trở thành những kẻ lạc thời, bảo thủ, không tìm thấy chỗ
đứng trong xã hội mới, mặt trái của cơ chế thị trường, xu thế mở cửa, tâm lý
thực dụng chủ nghĩa, lối sống chạy theo hưởng thụ vật chất mà coi nhẹ các giá
trị tinh thần đang chi phối một bộ phận dân cư, nhất là lớp trẻ. Bộ máy quản lý
cồng kềnh, trì trệ, tệ tham nhũng lan tràn chưa ngăn chặn và thanh toán được.
Với đặc điểm tình hình văn học ấy, là một giáo viên giảng dạy đã nhiều
năm, tôi luôn băn khoăn trăn trở, học sinh ngày nay các em được sống trong hòa
bình, đất nước đã hội nhập, kinh tế phát triển mạnh mẽ, khoa học hiện đại, công
nghệ thông tin phát triển, cộng với nhu cầu công việc. Bởi vậy các em đang dần
quên đi quá khứ dân tộc, với tâm lý thực dụng chủ nghĩa, lối sống chạy theo
hưởng thụ vật chất mà coi nhẹ các giá trị tinh thần, giá trị truyền thống. Nếu
Phương pháp đọc hiểu, thuyết giảng
Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp gợi mở, nêu vấn đề
6. Đóng góp của đề tài:
Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu về các bài Đọc văn xuôi
sau năm 1975 trong chương trình Ngữ văn 12 ban cơ bản, đề tài sẽ phân tích,
đánh giá một cách có hệ thống về những, thành tựu, đóng góp của các bài Đọc
văn xuôi sau năm 1975 trong chương trình Ngữ văn 12 ban cơ bản vào sự phát
triển của dòng văn xuôi hiện đại Việt Nam.
7. Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Nội dung của đề tài được trình bày
theo 3 phần chính:
I. Cơ sở lí luận của vấn đề:
II. Thực trạng của vấn đề:
III. Giải pháp và tổ chức thực hiện:
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận của vấn đề:
1. Đặc điểm văn học sau năm 1975
a. Văn học vận động theo hướng dân chủ hóa
Sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của một dân tộc đã có lịch sử mấy nghìn năm
dựng nước và giữ nước đó là những biện pháp “xé rào” để “cởi trói” dần đưa đất
nước ra khỏi cuộc khủng hoảng. Đến bây giờ, xã hội và con người Việt Nam
phải trải qua một cuộc “trở dạ” lớn lao và không ít đau đớn, phải tự xây dựng lại
hình ảnh của chính mình và phải tự hình thành từng bước các tiêu chí giá trị
mới. Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) kêu gọi đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào
2
sự thật đã tạo cơ sở tư tưởng cho xu hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi
dòng và phát triển mạnh mẽ. Dân chủ hóa được thể hiện ở nhiều cấp độ và bình
diện của đời sống văn học, dân chủ hóa của các quan niệm về vai trò, vị trí và
nỗi đau và số phận của mỗi cá nhân. Văn học cũng phải phát hiện ra rằng không
ít khi có sự lệch pha, thậm chí trái ngược giữa số phận cá nhân và cộng đồng,
nảy sinh những bi kịch của con người là nạn nhân của hoàn cảnh và số phận.
Con người cũng được văn học khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện và nhiều
tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm với đời sống tự nhiên,
bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt
và con người trong tính nhân loại phổ quát. Điều dễ nhận ra là phần lớn các tác
phẩm văn học thời kỳ này, con người không còn là nhất phiến, đơn giá trị mà
luôn là con người đa diện, đa trị, lưỡng phân, trong con người đan cài, chen lẫn,
giao tranh bóng tối và ánh sáng, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỷ sứ,
cao cả và tầm thường… Có nhiên, một nền văn học dựa trên nền tảng tinh thần
nhân bản không thể đưa đến sự hoài nghi, hạ thấp hay phủ nhận con người. Nó
3
phải cảm thông, thấu hiểu và nâng đỡ con người nhưng đồng thời cũng đòi hỏi
cao ở con người và luôn thức tỉnh sự tự ý thức của con người để hướng tới cái
thiện, cái đẹp và hoàn thiện nhân cách.
c. Văn học phá triển phong phú, đa dạng, phức tạp, hướng tới tính hiện đại.
Sự da dạng và phong phú được thể hiện trên rất nhiều bình diện của văn
học: đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại, nhiều tìm tòi về thủ pháp nghệ
thuật, đa dạng về phong cách và khuynh hướng thẩm mỹ. Nó là một khu vườn
đa sắc màu, hương vị, nhiều dáng vẻ, thậm chí có cả hiện tượng kỳ dị, lạ lùng.
Nhưng cũng đi liền với tính phức tạp và không ổn định.
Nhiều khuynh hướng tìm tòi chỉ rộ lên trong một khoảng thời gian ngắn
ngủi rồi tắt lịm, thị hiếu công chúng không thuần nhất và cũng luôn biến động,
các thể loại cũng thăng trầm trồi sụt khá bất thường. Sự phức tạp và không ổn
định mang tính giao thời, do sự chi phối của cơ chế thị trường. Văn học là một
sản phẩm hàng hóa trong nền kinh tế thị trường, điều đó vừa có tác động thúc
đẩy sự phát triển văn học, vừa có nhiều tác động tiêu cực khó tránh khỏi đối với
cả sáng tác lẫn xuất bản, phê bình và công chúng.
Trong xu thế hội nhập giao lưu với đời sống văn hóa và văn học thế giới ,
rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám
phá thấy cái khoảnh khoắc trong phần của tâm hồn” đây là quan niệm giữa chân
lý nghệ thuật và cuộc sống.
Do dung lượng ngắn, chi tiết cô đọng, hàm súc, nên cốt truyện diễn ra trong
một thời gian, không gian hạn chế để hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát
hiện ra một nét bản chất trong đời sống, nên tác giả truyện rất chú ý tới việc
sáng tạo tình huống. Tiến hành phân tích giảng dạy một tác phẩm truyện ngắn
chúng ta cũng rất nên quan tâm tới yếu tố này. Xét dưới góc độ lý thuyết thì tình
huống đóng vai trò bộc lộ các mối quan hệ, địa vị xã hội và tính cách nhân vật,
thể hiện chủ đề tác phẩm. "Chiếc thuyền ngoài xa "đã sáng tạo ra một tình
huống nghịch lý, oái oăm, trớ trêu. Gồm có những tình huống sau:
Một là, nghịch lý giữa đời sống và nghệ thuật. Cả một tập thể nghệ sĩ nhiếp ảnh
trong “dăm tháng” trời đã chụp được “hàng trăm bức ảnh đẹp, chụp công phu
…”, được ông Trưởng phòng “là người sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến” đánh
giá là “đẹp thì đẹp thực … và nhất là lại có hồn nữa. Đúng là những bức ảnh
nghệ thuật”. Thế mà, cũng chính vì Trưởng phòng thông minh này lại “không
thể chọn đủ cho mười hai tháng, vẫn đang còn thiếu một tờ”. Thì ra người nghệ
sĩ dù có cố gắng bao nhiêu, nỗ lực bao nhiêu, đầu tư nhiều thời gian, bỏ ra nhiều
tâm huyết và trí tuệ bao nhiêu cũng chưa thể đáp ứng được đòi hỏi của cuộc
sống. Người nghệ sĩ không bao giờ được thoả mãn, phải luôn coi mục đích nghệ
thuật luôn ở phía trước để phấn đấu. Đây có thể coi là thông điệp nghệ thuật thứ
nhất của nhà văn.
Hai là, nghịch lý giữa cảnh đẹp của thiên nhiên thơ mộng trữ tình và di hoạ
chiến tranh. Cái bờ biển ấy cách Hà Nội hơn sáu trăm cây số, được Phùng – nhà
nghệ sĩ nhiếp ảnh nhìn bằng con mắt “nhà nghề”, nó “thật là thơ mộng”, “thật là
phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu …”, thế nhưng lại có “những bãi
xe tăng do bọn thiết giáp nguỵ vứt lại trên đường rút chạy hồi “tháng ba bảy
nhăm” bây giờ sau gần mười năm, đã bị hơi nước gặm mòn và làm cho sét
gỉ…”. Chi tiết này mang dụng ý nghệ thuật: Nó nhắc nhở người nghệ sĩ đừng
bao giờ quên cái nghịch lý của đời sống. Nghệ thuật không chỉ ở cảnh đẹp thơ
sắp đặt đầy tài tình của ngẫu nhiên thì với tài ba đến bao nhiêu, anh cũng chỉ …
thu được những tấm ảnh vô hồn”.
Bốn là, nghịch lý giữa “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh” và cảnh con
người lam lũ, vất vả, khổ đau. Phải đến lần thứ năm Phùng mới được “một cảnh
“đắt” trời cho”: “… Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù
trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài
bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum
khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt
lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt
cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và
đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối
rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào?”. Chứng tỏ sự am hiểu sâu sắc về
hội hoạ, một sự nhạy cảm trước cái đẹp mới có thể viết nổi đoạn văn miêu tả
“cái đẹp tuyệt đỉnh”, “toàn bích” này
Nhưng oái oăm thay, nghịch lý và trớ trêu thay. Đó là tiếng quát của gã ngư
phủ: “Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”.Đó là “một thân hình quen thuộc
của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn
mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn
ngủ ”. Đó là một gã đàn ông “mái tóc như tổ quạ … chân đi chữ bát … hàng
lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ…” Chưa hết, tiếp theo
là cảnh hành hung đánh đập, phi nhân tính rùng rợn: “Lão đàn ông lập tức trở
lên hùng hổ, mặt đỏ gay gắt, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính
nguỵ ngày xưa… chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách
dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở
hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két …” Nghiệt ngã thay! Khát vọng tìm đến
6
cái đẹp để mong muốn làm cho con người đẹp lên là rất đáng quý nhưng người
nghệ sĩ phải tỉnh táo để nhận ra cái thực tế phũ phàng của đời sống. Và đây cũng
là lời cảnh tỉnh cho tất cả mọi người: hãy tỉnh táo trước cái đẹp. Bất cứ cái đẹp
nào cũng rất có thể ẩn chứa những điều phức tạp đi ngược lại hạnh phúc của con
của nó, không hẳn xấu cũng không hẳn là kẻ tốt. Xét đến cùng lão chồng vừa là
thủ phạm gây ra cảnh đau đớn cho người vợ, cho con đẻ đồng thời cũng lại là
nạn nhân của cuộc sống còn tăm tối khốn khổ. Người vợ cũng vừa là nạn nhân
vừa là thủ phạm, mà theo chính lời mụ thì là do “cái lỗi…là đám đàn bà ở
thuyền đẻ nhiều quá”. Thằng Phác cũng thế, vừa là nạn nhân của thói côn đồ lại
vừa là thủ phạm kích động thói côn đồ và chính nó cũng sớm có tính côn đồ.
Những nhân vật đó chưa mang chiều kích của nhân vật tính cách với những quá
trình phát triển tâm lý nhưng nó đã làm tốt chức năng thể hiện chủ đề tác phẩm.
Chủ thể trần thuật là ngôi thứ nhất, lời văn trần thuật trong cấu trúc văn bản, vừa
đi sâu, cụ thể vào các sự kiện vừa quy chiếu một cách toàn diện, hệ thống cốt
7
truyện. Vậy cái kết cục của câu chuyện sẽ như thế nào, liệu người vợ có bỏ lão
chồng kia không, liệu tòa có xử cho họ ly hôn không, rồi số phận những đứa con
họ sẽ ra sao ? Đó chính là nhận thức, nghịch lí của câu chuyện.
b. Đối thoại mới của Ma văn Kháng Nguyễn Khải
* Nguyễn Khải
Truyện “Một người Hà Nội” của nhà văn Nguyễn Khải, in trong tập
truyện cùng tên, xuất bản năm 1990, thời kì đổi mới của nền văn học Việt Nam.
Truyện xoay quanh nhân vật chính Cô Hiền, tác giả phát hiện ra bao vẻ đẹp
trong chiều sâu tâm hồn, tính cách con người Hà Nội, tiêu biểu cho người phụ
nữ Việt Nam trước bao biến động, thăng trầm và phát triển của đất nước.
Không nói về ngoại hình, mà chỉ kể, chỉ giới thiệu về ngôn ngữ, cách
sống, cách ứng xử của cô Hiền trong các quan hệ gia đình chồng con, với người
thân, với bạn bè, với thời cuộc. Anh bộ đội Cụ Hồ thân mật và tò mò hỏi cô về
thành phần giai cấp, về chuyện “tại sao cô không phải học tập cải tạo…” thì cô
cười rất tươi: “Tại chưa đủ tiêu chuẩn”, và thản nhiên nói: “Tao có bộ mặt rất
tư sản, một cách sống rất tư sản, nhưng lại không bóc lột ai cả thì làm sao
thành tư sản được”. Khi nhiều bè bạn ngờ vực: “Trông bà như tư sản mà không
bị học tập cũng lạ nhỉ?”, thì cô nhẹ nhàng trả lời: “Các bà không biết nhưng nhà
nước lại rất biết”. Chuyện làm ăn cũng cho thấy cô “khôn hơn” các bà bạn
bình yên trở về, các vị khách - các cựu công dân Hà Nội, ăn mặc thật sang trọng,
cô Hiền xuất hiện “như diễn viên sân khấu, lược giắt trâm cài hoa hột lấp
lánh…”. Cô đã già yếu, đã ngoài bảy mươi tuổi. Nhưng “cô vẫn là người của
hôm nay, thuần tuý Hà Nội, không pha trộn”. Cô Hiền đã nâng niu trân trọng
những gì tốt đẹp của văn hoá Thăng Long.Tâm hồn cô, tính cách của cô cùng
với bao người khác là biểu tượng tuyệt đẹp cho vẻ đẹp thanh lịch trong sáng và
phẩm chất cao quý của con người Hà Nội.Vẻ đẹp thanh lịch, nếp sống văn hoá
của con người kinh kì được thể hiện đầy ấn tượng qua nhân vật cô Hiền; ta cảm
thấy bức chân dung nghệ thuật ấy được Nguyễn Khải phủ bằng những lớp áng
vàng chói sáng. Năm 2010, đồng bào cả nước ta sẽ tưng bừng kỉ niệm một nghìn
năm Thăng Long (1910 - 2010). Nhân vật cô Hiền, một hạt bụi vàng, trong tập
“Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải đã và đang toả sáng tâm hồn mỗi chúng
ta.
* Ma văn Kháng
Mùa lá rụng trong vườn được Ma Văn Kháng viết xong tháng 12 năm
1982, xuất bản lần đầu năm 1985. Từ đó đến nay tác phẩm được tái bản nhiều
lần. Năm 2001, nhà biên kịch Đặng Minh Châu chuyển thể Mùa lá rụng trong
vườn và Đám cưới không giấy giá thú thành kịch bản văn học; đạo diễn Quốc
Trọng dựng thành phim nhiều tập Mùa lá rụng. Đây là cuốn sách "tiền trạm"
của Đổi mới mà nó chứa đựng nhiều dự báo sáng suốt, ngay khi vừa ra đời,
được độc giả đón nhận một cách nhiệt tình, hàng chục bài báo viết về tác phẩm
này,được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải B về văn xuôi.
Viết về đề tài gia đình, một đề tài không mới trong văn học Việt Nam
hiện đại. Với Mùa lá rụng trong vườn, đã có công khơi lại mạch viết về chủ đề
gia đình vốn bị ngưng đọng gần nửa thế kỷ trong văn học Việt Nam. Đó là gia
đình trong thời kỳ phát triển mới của đất nước. Với cách đặt vấn đề mới của tác
giả, các mối quan hệ thông thường giữa cha và con, vợ và chồng, anh và em, bố
chồng và nàng dâu, chị dâu và em chồng bỗng trở thành điểm thử thách sự bền
vững của kiểu gia đình truyền thống trong cuộc va chạm với kiểu gia đình hiện
đại. Nguy cơ rạn nứt, đổ vỡ trong từng gia đình do vậy cũng được dự báo kịp
và dùng cái chết để sữa chữa lỗi lầm, ông đã ngã gục. Ông Bằng ngã gục không
hoàn toàn vì việc Cừ phản bội tổ quốc chạy ra nước ngoài làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến thanh danh gia đình. Cái lương tâm, sự hối hận muộn màng
của người con trai nơi đất khách quê người cùng việc nó nói ra sự thật về cách
giáo dục câu nệ, cứng nhắc, hà khắc, lỗi thời của chính ông đã làm ông gục ngã!
Chính vì vậy, trước lúc từ giã cõi đời, ông đã hối hận, nhận ra sai lầm của mình.
Cũng vì thanh danh gia đình mà ông hy sinh cả tình cảm riêng tư. Vợ chết,
cả nhà toàn là người lớn. Hầu như ông phải sống thui thủi một mình ở nhà. Ngòi
bút Ma Văn Kháng đôi lúc phân vân, nhà văn lờ mờ cảm nhận được có cái gì đó
không ổn, không hợp thời của kiểu gia đình xưa nhưng mặt khác ông lại luyến
tiếc những nề nếp, những tôn ti trật tự tạo nên truyền thống gia đình người Việt.
Quả thật, phải xét thời điểm ra đời của tác phẩm (viết xong năm 1982, trước Đổi
mới bốn năm), chúng ta mới thấy hết tính dự báo của nó; mới nâng niu, trân
trọng những cách tân táo bạo của nhà văn.
Tác phẩm còn đề cập một thực trạng đáng báo động nữa của xã hội buổi
giao thời: không ít người có lối sống ích kỷ, chỉ biết chạy theo dục vọng cá
nhân, chạy theo đồng tiền, thoát ly truyền thống, phá vỡ mọi chuẩn mực đạo đức
xã hội hàng ngày, hàng giờ làm băng hoại mọi mối quan hệ gia đình. Trong gia
đình xuất hiện hai con người nổi loạn muốn hê tung tất cả, phủ định sạch trơn
mọi chuẩn mực đạo đức truyền thống là , Cừ và Lý là nhân vật được Ma Văn
Kháng khắc hoạ rất đậm nét trong tác phẩm. Lý là nhân vật phức tạp, có cá tính,
có đời sống nội tâm phong phú. Có lúc chị đôn hậu đáng yêu, có lúc chị đanh đá
tàn nhẫn. Là một con người thích quyền hành muốn sai khiến người khác, dám
đứng mũi chịu sào, tự coi mình hơn người, chị lại thích ăn diện, thích theo đòi
cuộc sống xa hoa". Lý mồ côi bố mẹ từ lúc còn rất nhỏ, không được sống trong
10
mái ấm gia đình, không được cắp sách đến trường, sớm bị tiêm nhiễm lối sống
xô bồ nơi thị thành. Lý vốn đẹp, nhưng Đông thờ ơ trước vẻ đẹp và những đòi
hỏi chính đáng của chị, không còn là chỗ dựa tinh thần để chị có thể xẻ chia hay
bộc bạch nỗi niềm tâm sự. Lý có cái ảo tưởng mình có vai trò rất quan trọng,
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức:
- Những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và nghệ thuật: phải nhìn
nhận con người và cuộc sống một cách đa diện; nghệ thuật chân chính luôn gắn
bó với cuộc đời, vì cuộc đời.
- Tình huống truyện độc đáo mang, mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời
sống. Điểm nhìn nghệ thuật đa chiều. Lời văn giản dị và sâu sắc, dư ba.
2. Kỹ năng: Đọc – hiểu truyện ngắn hiện đại. Phân tích tâm lí nhân vật.
3.Thái độ: Trân trọng và có cái nhìn cảm thông với số phận éo le của con
người.
11
II. CHUẨN BỊ
1. Giáo viên: Giáo án, sgk, sgv, stk…
2. Học sinh: Đọc bài, soạn bài theo hướng dẫn bài học
III. CÁC BƯỚC LÊN LỚP
1. Ổn định:
2. Bài cũ:
3. Bài mới:
Lời vào bài: Nguyễn Minh Châu đã khẳng định: “Bước ra khỏi một cuộc chiến
tranh cũng phải có đầy đủ trí tuệ và nghị lực như bước vào một cuộc chiến
tranh”. Bước sang những năm đầu của thập kỷ 80 tình hình kinh tế - xã hội của
đất nước gặp nhiều khó khăn chồng chất và rơi vào khủng hoảng ngày càng trầm
trọng. Nền văn học cũng chững lại và cũng không ít người viết lâm vào tình
trạng bối rối, không tìm thấy phương hướng sáng tác. "Chiếc thuyền ngoài xa"
là một tác phẩm “mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc) của VHVN
thời kì đổi mới.
Hoạt động của GV - HS Nội dung cần đạt
Tiết 1:
Gv gọi 1 HS đọc tiểu dẫn sgk
Trình bày vài nét về tác giả?
biểu của văn học Việt Nam thời kì đổi
mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số
phận cá nhân và thân phận con người
trong cuộc sống đời thường.
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Nội dung:
a. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng và những
phát hiện:
- Một cảnh đắt trời cho:
+ Cảnh chiếc thuyền lưới vó ẩn hiện
trong biển sớm mờ sương có pha đôi
chút màu hồng hồng do ánh mặt trời
12
sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh
mặt trời chiếu vào”
+“Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi
im phăng phắt như tượng trên chiếc
mui khum khum, đang hướng mặt vào
bờ”
+“toàn bộ khung cảnh từ đường nét
đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp”,
“một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn
bích” (máy chiếu)
Tại sao phát hiện ra cảnh này người
nghẹ sĩ lại goi là cảnh đắt trời cho?
Đó là cảm xúc gì? Gv gợi giảng
(- )“bối rối”, cảm thấy “trong trái
tim như có cái gì bóp thắt vào”
+“khám phá thấy cái chân lí của sự
toàn diện, khám phá cái khoảnh khắc
được gột rửa, thanh lọc.
- Một cảnh tượng:
+ Phi thẩm mĩ (một người đàn bà xấu
xí, mệt mỏi; gã đàn ông to lớn, dữ
dằn),
+ Phi nhân tính (người chồng đánh vợ
một cách thô bạo, đứa con thương mẹ
đã đánh lại cha,…)
-> giống như trò đùa quái ác, làm
phùng ngơ ngác không tin vào mắt
mình.
=> Qua hai phát hiện của người nghệ
sĩ, nhà văn chỉ ra: cuộc đời chứa đựng
nhiều nghịch lí, mâu thuẫn; không thể
đánh giá con người, cuộc sống ở dáng
vẻ bên ngoài mà phải đi sâu tìm hiểu,
phát hiện bản chất bên trong.
b. Câu chuyện của người đàn bà
hàng chài ở tòa án huyện:
- Đó là câu chuyện về cuộc đời nhiều
bí ẩn và éo le của một người đàn bà
hàng chài nghèo khổ, lam lũ…
- Câu chuyện đã giúp nghệ sĩ Phùng
hiểu:
+ Người đàn bà hàng chài: một phụ nữ
nghèo khổ, nhẫn nhục, sống kín đáo,
sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời, có tâm hồn
13
trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”
nhưng vẫn cam chịu “không hề kêu
Tấm ảnh “bộ lịch năm ấy”như thế
nào?
Gọi 1 HS đọc lại đoạn văn cuối cùng
của truyện.
-> đó là chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn
của cuộc đời, cũng là biểu tượng của
nghệ thuật.
đẹp đẽ, giàu đức hi sinh và lòng vị tha;
+ Người chồng của chị: bất kể lúc nào
thấy khổ quá là lôi vợ ra đánh;
+ Chánh án Đẩu: có lòng tốt, sẵn sàng
bảo vệ công lí nhưng kinh nghiệm
sống chưa nhiều;
+ Chính mình (Phùng): sẵn sàng làm
tất cả vì sự công bằng nhưng lại đơn
giản trong cách nhìn nhận, suy nghĩ.
=> Qua câu chuyện về cuộc đời của
người đàn bà hàng chài và cách ứng xử
của các nhân vật, nhà văn muốn gửi
đến người đọc thông điệp: đứng nhìn
cuộc đời, con người một cách đơn
giản, phiến diện; phải đánh giá sự việc,
hiện tượng trong các mối quan hệ đa
diện, nhiều chiều.
c. Tấm ảnh được chọn trong “bộ lịch
năm ấy”:
- Mỗi lần nhìn kĩ vào bức ảnh đen
trắng, người nghệ sĩ thấy “hiện lên cái
màu hồng hồng của ánh sương mai”.
- Nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy
1 đoạn phim về bạo lực gia đình)
sâu sắc, đa nghĩa.
3. Ý nghĩa văn bản:
- Nghệ thuật chân chính phải luôn gắn
với cuộc đời, vì cuộc đời;
- Người nghệ sĩ cần phải nhìn nhận
cuộc sống và con người một cách toàn
diện, sâu sắc.
- Tác phẩm cũng rung lên hồi chuông
báo động về tình trạng bạo lực gia đình
và hậu quả khôn lường của nó.
4. Củng cố: theo các mục của bài học.
5. Hướng dẫn tự học:
- Tìm đọc trọn vẹn truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa.
- Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Soạn bài mới theo
phân phối chương trình
2 Kết quả thực nghiệm:
Giảng dạy từ năm 2010 đến nay, dù đựoc phân công vào lớp đại trà,
trình độ tiếp thu và ý thức xây dụng bài còn hạn chế. Với cách truyền đạt về
những kiến thức, kinh nghiệm trên, tôi còn trình chiếu những trích đoạn phim,
những hình ảnh tư liệu về vấn những nạn, và đã lồng ghép định hướng cho học
sinh những tư tưỏng mang tính thực tế. Đa phần các em đều chăm chú lắng
nghe, và tiếp thu bài một cách triệt để. Không còn tình trạng khi giáo viên giảng
bài về các vấn đề tư tưởng đạo đức các em đều né tránh hoặc nghe qua loa coi
đó là chủ nghĩa giáo điều, lý thuyết xuông
Cụ thể kết quả ba khoá học sinh khối 12 tốt nghiệp tỷ lệ môn Ngữ văn
thi tốt nghiệp của những lớp tôi trực tiếp giảng dạy đều đạt tỷ lệ cao từ trung
bình trở lên, không có học sinh điểm yếu, kém. Còn thi Đại học, Cao đẳng, môn
Ngữ văn cũng có điểm cao hơn so với hai môn còn lại. Và thực tế đã công nhận.
Kết luận và đề xuất
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 27 tháng 05 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Ký và ghi rõ họ tên
Lê Thị Châu
16
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Lịch sử vấn đề: 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
4. Mục đích nghiên cứu: 2
5. Phương pháp nghiên cứu 2
6. Đóng góp của đề tài: 2.
7. Cấu trúc của đề tài: 2
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận của vấn đề: 2
1. Đặc điểm văn học sau năm 1975 2
a. Văn học vận động theo hướng dân chủ hóa 2
b. Tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân là nền tảng tư tưởng và
cảm hứng chủ đạo, bao trùm trong nền văn học giai đoạn này 3
c. Văn học phá triển phong phú, đa dạng, phức tạp, hướng tới tính hiện đại 4
II. Thực trạng của vấn đề: 4
1. Các bài học sau năm 1975 trong chương trình ngữ văn 12: 4
a. Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu 4
b. Một người Hà Nội (đọc thêm – Nguyễn Khải) 4
c. Mùa lá rụng trong vườn ( đọc thêm – Ma Văn Kháng) 4