LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá là xu thế phát triển khách quan, là đặc điểm nổi trội của hoạt
đông kinh tế quốc tế hiện nay. Do được thừa hưởng những thành tựu tiên tiến
của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất quốc tế
đã có những bước thay đổi cách mạng, mà hệ quả trực tiếp của nó là làm xuất
hiện kinh tế tri thức. Đến lượt mình, sự phát triển của lực lượng sản xuất trên
thế giới đã đưa lại những thay đổi mới trong tương quan kinh tế thế giới và
những thay đổi này mang tính chất quốc tế trong các quan hệ kinh tế giữa các
nước. Từ đây, tính toàn cầu hoá trong hoạt động kinh tế của các nước trên thế
giới là một tất yếu. Các nước muốn phát triển nền kinh tế của mình, không thể
không tính đến tính toàn cầu của nền kinh tế quốc tế...
Việt Nam tuy còn nhiều khó khăn nhưng cũng không nằm ngoài tính khách
quan của xu thế hội nhập thế giới. Tuy nhiên để hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực, nước ta vừa đứng trước những cơ hội lớn lại vừa đứng trước những thách
thức lớn như vốn; sức ép cạnh tranh; thể chế chính sách và việc cải cách hành
chính quốc gia; hạn chế về khoa học công nghệ... trong đó các yếu tố về nguồn
nhân lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng, là một trong những thách thức lớn nhất
trong quá trình hội nhập của nước ta.
Thực vậy, trong thời đại ngày nay khi mà khoa học và công nghệ đã có
những bước nhảy vọt, kinh tế tri thức sẽ chiếm vị trí ngày càng lớn trong quá
trình phát triển. Với hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong mỗi
sản phẩm làm ra con người đang ngày càng tỏ rõ vai trò quyết định của mình
trong tiến trình phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại. Để hoà nhập vào nền
kinh tế khu vực và thế giới thì nước ta phải có được một nguồn nhân lực có đủ
sức đáp ứng được ác yêu cầu của trình độ phát triển của thế giới, của thời đại.
Đặc biệt trong bối cảnh khi mà nền kinh tế nước ta còn nghèo thì nguồn nhân
lực đóng vai trò then chốt cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
1
Nhằm làm sáng tỏ hơn thực trạng nguồn nhân lực nước ta trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế, em mạnh dạn nghiên cứu đề tai: “Một số giải pháp
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng
NNL càng lớn và ngược lại. Về chất lượng, NNL được xem xét trên các mặt
trình độ văn hoá, trình độ sức khoẻ, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất...
2. Phân loại NNL.
2.1. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành.
+ NNL có sẵn trong dân số. Bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ
tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay
không làm việc.
+ NNL tham gia vào hoạt động kinh tế. Là số người có công ăn việc làm,
đang hoạt động trong các ngành kinh tế và văn hoá của xã hội.
+ NNL dự trữ. Bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động, nhưng vì
các lý do khác nhau, họ chưa có công ăn việc làm ngoài xã hội.
2.2. Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận NNL tham gia vào nền sản xuất.
+ Bộ phận lao động chính. Là bộ phận nhân lực nằm trong độ tuổi lao động
và có khả năng lao động.
+ Bộ phận nguồn lao động phụ. Là bộ phân dân cư nằm ngoài độ tuổi lao
động có thể và cần phải tham gia vào nền sản xuất.
2.3. Căn cứ vào trạng thái có việc làm hay không.
+ Lực lượng lao động. Bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người thất
nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm.
4
+ Nguồn lao động. Bao gồm những người thuộc lực lượng lao động và
những người thất nghiệp song không có nhu cầu tìm việc làm
(
1
)
.
II. MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ.
1. Khái niệm về hội nhập kinh tế.
)
: Gi¸o tr×nh Kinh tÕ Quèc tÕ
5
xuất hiện phổ biến các loại hình công ty cổ phần trong nền kinh tế quốc gia.
Qua đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đã có sự thay đổi đáng kể, dần hình
thành vốn lớn cho sản xuất kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn. Tình hình này
càng đòi hỏi sự tham gia ngày càng lớn của chính phủ các quốc gia có nền kinh
tế phát triển. Bởi lẽ, các quốc gia này là những quốc gia có thế mạnh về vốn,
công nghệ, trình độ quản lý v.v. Ngày nay, một mặt do trình độ phát triển cao
của lực lượng sản xuất làm cho tính chất xã hội hoá của chính nó càng vượt ra
khỏi phạm vi biên giới quốc gia, lan toả sang các quốc gia khu vực và thế giới
nói chung và mặt khác, tự do hoá thương mại cũng đang trở thành xu hướng
twts yếu và được xem là nhân tố qun trọng thuc đẩy buôn bán giao lưu giữa các
quốc gia, thúc đẩy buôn bán giao lưu giữa các quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và nâng cao mức sống của mọi quốc gia. Chính vì vậy, hầu hết các quốc
gia trên thế giới theo định hướng phát triển của mình đều điều chỉnh các chính
sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dõ bỏ các rào cản thương mại, tạo
điều kinệ tho việc lưu chuyển các nguồn lực và hàng hoá tiêu dùng giữa các
quốc gia ngày càng thuận lợi hơn, thông thoáng hơn.
(3)
Hội nhập kinh tế là tất yếu bởi lẽ bất kỳ một quốc gia nào dù giàu có, phát
triển đến đâu cũng không thể tự mình đáp ứng được tất cả các nhu cầu của
chính mình. Đặc biệt trong thời đại ngày nay khi mà hoạt động của các quốc gia
không còn bó hẹp trong ranh giới lãnh thổ của mình mà vươn rộng ra nhiều
nước khác trên thế giới. Khi trình độ phát triển càng cao thì nền kinh tế càng
phụ thuộc với mức độ nhiều hơn vào thị trường thế giới. Đó là một vấn đề có
tính quy luật. Những quốc gia chậm trễ trong hội nhập kinh tế quốc tế thường
phải trả giá bằng chính sự tụt hậu của mình, ngược lại những nước vội vã không
phát huy nội lực, không chủ động hội nhập cũng đã bị trả giá. Bởi vậy, để hội
nhập có hiệu quả, cần phải có quan điểm nhận thức đúng dắn, nhất quán, cơ chế
7
Con người vừa là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần vừa la
mục tiêu, đối tượng hướng tới của qúa trình phát triển, là trung tâm của sự phát
triển. Thực tế đã chứng minh được vai trò quyết định đó của con người trong
phát triển kinh tế. Trước đây, Nhật Bản là một nước khan hiếm tài nguyên, chịu
sự khắc nghiệt của tự nhiên, nghèo nàn và lạc hậu, chỉ nhờ sức mạnh nguồn
nhân lực đáng khâm phục của mình, nước Nhật đã vươn lên thành một cường
quốc kinh tế trên thế giới.
Nền kinh tế ngày nay là nền kinh tế tri thức, là nền kinh tế dựa trên cơ sở
của công nghệ thông tin hiện đại, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới...
Để có được tri thức cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc để phát triển
khoa học công nghê, đặc biệt là công nghệ thông tin; đồng thời phải đầu tư cho
phát triển giáo dục đào tạo hay nói cách khác phải đầu tư cho phát triển nguồn
nhân lực. Suy cho cùng, tri thức là hệ quả tất yếu, của sự phát triển nguồn nhân
lực. Các nước muốn phát triển nền kinh tế tri thức cần phải đầu tư cho phát triển
con người mà cốt lõi là phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đầu tư phát
triển nhân tài.
Để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, để đạt được tốc độ tăng
trưởng nhanh, hiêu quả kinh tế -xã hội cao thì nước ta cần phải có một đội ngũ
nguồn nhân lực đủ mạnh, đủ khả năng đáp ứng được các yêu cầu mà nền kinh tế
khu vực và thế giới và thực tiễn của đất nước đòi hỏi.
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ vai trò quyết
định của nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là yếu tố quan
trọng đối với sự nghiệp phát triển lực lượng sản xuất và tốc độ tăng trưởng kinh
tế để Việt Nam tiếp tục phát triển bền vững và hội nhập thành công vào nền
kinh tế quốc tế. Nước ta vẫn còn đang là một nước nông nghiệp, rõ ràng chúng
ta không thể xấy dựng và phát triển nền kinh tế tri thức như các nước công
nghiệp phát triển. Để tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được thực hiện tốt, cần
phải bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Với tư cách là mục tiêu và động
8
đối tác nước ngoài đã làm gia tăng kim ngạch xuất khẩu, thu hút đáng kể vốn và
công nghệ bên ngoài cho đầu tư phát triển, cải thiện tình trạng nợ nước ngoài,
10
góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an ninh tài chính quốc
gia. Tới hôm nay chúng ta có đủ căn cứ để hài lòng về những thành công đã gặt
hái được trong 5 năm qua. Những mục tiêu kinh tế đề ra cho 5 năm đã đạt được,
có những mặt còn vượt cả dự kiến. Tốc độ tăng trưởng GDP trong 5 năm bình
quân đạt 7,5%/năm, riêng trong năm 2005 đạt mức kỷ lục trong 9 năm qua là
8,5%. Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp
hóa - hiện đại hóa. Tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống 20,7%, tỷ trọng ngành
công nghiệp tăng lên 41% trong tổng GDP. Tích luỹ tiêu dùng, thu chi ngân
sách, cán cân thanh toán quốc tế cơ bản ổn định đáp ứng được yêu cầu tăng
trưởng của nền kinh tế. Tổng đầu tư toàn xã hội tăng nhanh và đạt 37,5% so với
GDP. Hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế có bước tiến quan
trọng. Quan hệ quốc tế được mở rộng, các cam kết quốc tế được triển khai thực
hiện tốt. Nguồn vốn ODA và FDI liên tục tăng. Thị trường xuất khẩu được duy
trì và mở rộng, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh và đạt 17%/năm. Cùng
với phát triển kinh tế, 5 năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng
khích lệ trong lĩnh vực xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao; tạo
thêm nhiều việc làm mới, giảm tỉ lệ thất nghiệp. Công tác xoá đói giảm nghèo
đạt được thành tựu nổi bật, được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Những thành tựu
đó thật đáng trân trọng nếu tính rằng trong 5 năm qua Việt Nam phải đối mặt
với nhiều thách thức, trong đó nổi lên là thiên tai nặng nề liên tiếp xảy ra; giá cả
trên thế giới biến động phức tạp; dịch bệnh, nhất là dịch cúm gia cầm diễn ra
nghiêm trọng.
Quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy cuộc chạy đua phát triển nguồn nhân
lực tại các quốc gia, khu vực trên thế giới về khả năng cạnh tranh trên thị trường
lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế. Đối với nước ta, phát triển
nguồn nhân lực để thực hiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước và tham
gia tích cực vào phân công lao động quốc tế, gia nhập các tổ chức kinh tế khu
12
an toàn lao động và sản xuất ra sản phẩm chất lượng thấp chiếm 26,4%, khả
năng mở rộng thị trường yếu, một số ngành sản xuất kinh doanh còn mang tính
độc quyền và được tiếp cận các nguồn lực thuận lợi hơn... đã hạn chế đến kích
thích học tập, đào tạo, học nghề nâng cao trình độ của người lao động và suy
cho cùng là hạn chế đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Quá trình toàn cầu hoá có đặc trưng của sự phát triển và tăng cường vai trò
của các tổ chức kinh tế và thương mại (WTO-Tổ chức thương mại quốc tế,
APEC, WB-Ngân hàng thế giới, các khối kinh tế khu vực ASEAN, EC...) đã
dẫn đến mở rộng và thay đổi các thông lệ quốc tế về đầu tư, thương mại và lao
động. Nước ta tham gia dòng chảy toàn cầu hoá cũng có sự thay đổi, điều chỉnh
pháp luật liên quan tới đầu tư, thương mại, lao động. Trong đó, có sự thay đổi
chính sách phát triển nguồn nhân lực và chính sách liên quan đến phát triển
nguồn nhân lực như: xã hội hoá giáo dục, đào tạo tự do lựa chọn ngành nghề
đào tạo của người lao động, khuyến khích sử dụng lao động chuyên môn kỹ
thuật, tiền lương/tiền công đối với lao động chuyên môn kỹ thuật, tín dụng đào
tạo và dạy nghề cho các đối tượng tài năng của đất nước, bảo hiểm xã hội đối
với người lao động, đổi mới đầu tư cho giáo dục và đào tạo...
Bước vào năm 2006, Việt Nam tiến vào thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập kinh
tế quốc tế toàn diện hơn và sâu rộng hơn. Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ
các cam kết của AFTA, thực hiện hầu hết các cam kết chủ yếu của Hiệp định
Thương mại Việt-Mỹ, bắt đầu thực hiện các cam kết của khu vực thương mại tự
do ASEAN-Trung Quốc, theo đó hàng rào bảo hộ đã giảm thiểu đáng kể, đồng
thời Việt Nam cũng sẽ có khả năng khai mở thị trường lớn hơn với AFTA,
Trung Quốc, Mỹ và các quốc gia thành viên WTO.
Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thành lập ngày 1/1/1995 ban đầu có
130 nước thành viên đến nay đã lên đến 146 thành viên trong đó có đến hai
13
phần ba là nước đang và kém phát triển. Đây là tổ chức thương mại lớn nhất
sẽ giúp chúng ta có được một môi trường pháp lý hoàn chỉnh và minh bạch hơn,
có sức hấp dẫn hơn đối với đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Gia nhập WTO
cũng là thông điệp hết sức rõ ràng về quyết tâm cải cách của ta, tạo niềm tin cho
các nhà đầu tư khi bỏ vốn vào làm ăn tại Việt Nam. Ngoài ra, cơ hội tiếp cận thị
trường của các Thành viên WTO khác một cách bình đẳng và minh bạch, theo
đúng chuẩn mực của WTO, cũng là một yếu tố quan trọng để thu hút vốn đầu tư
của nước ngoài.
Thứ ba, nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế. Giảm
thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế, mở cửa thị trường dịch vụ sẽ khiến môi trường
kinh doanh ở nước ta ngày càng trở nên cạnh tranh hơn. Trước sức ép cạnh
tranh, các doanh nghiệp trong nước, bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước, sẽ
phải vươn lên để tự hoàn thiện mình, nâng dần khả năng cạnh tranh cho sản
phẩm của mình, nhờ đó góp phần nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh cho
toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, giảm thuế và loại bỏ các hàng rào phi thuế cũng
sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp cận các yếu tố đầu vào với chi phí hợp lý hơn, từ
đó có thêm cơ hội để nâng cao sức cạnh tranh không những ở trong nước mà
còn trên thị trường quốc tế.
Thứ tư là sử dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Môi
trường thương mại quốc tế, sau nhiều nỗ lực của WTO đã trở nên thông thoáng
hơn. Tuy nhiên, khi tiến ra thị trường quốc tế doanh nghiệp của ta vẫn phải đối
mặt với nhiều rào cản thương mại, trong đó có cả những rào cản trá hình, núp
bóng các công cụ được WTO cho phép như chống trợ cấp, chống bán phá
giá...Tranh chấp thương mại là điều khó tránh mà phần thua thiệt thường rơi về
phía ta, bởi ta là nước nhỏ. Gia nhập WTO sẽ giúp ta sử dụng được cơ chế giải
quyết tranh chấp của tổ chức này, qua đó có thêm công cụ để đấu tranh với các
nước lớn, bảo đảm sự bình đẳng trong thương mại quốc tế. Thực tiễn cho thấy
cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO hoạt động khá hiệu quả và nhiều nước
đang phát triển đã thu được lợi ích từ việc sử dụng cơ chế này.
15
2. Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong tiến trình hội nhập.
9 chi nhánh vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là
357 triệu USD, vốn thực hiện là 195 triệu USD. Các dự án đầu tư FDI đã có
những đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh: đóng
góp 25,6% giá trị sản xuất công nghiệp, 33,8% doanh thu du lịch, 19,5% kim
ngạch xuất khẩu, 12% nguồn thu ngân sách, 15,5% GDP.
(5)
Nhờ chính sách cải cách đổi mới phát triển kinh tế, chất lượng nguồn nhân
lực đã được nâng cao nhiều. Trình độ học vấn và dân trí của nguồn nhân lực
Việt Nam là khá cao. Tỷ lệ mù chữ của lực lượng lao động cả nước là 5,01%, tỷ
lệ tốt nghiệp phổ thông cơ sở là 3,28%, tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học là
19,7%; so với thời điểm 1/4/2003 tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông cơ sở tăng 2,6%;
tốt nghiệp phổ thông trung học tăng 1,4%. Công tác nghiên cứu khoa học cũng
được chú trọng. Chúng ta cũng đã phát triển được một đội ngũ cán bộ khoa học
và công nghệ đông đảo. Nhiều nhà kinh tế, nhiều cán bộ khoa học của Việt
Nam cũng đã tiếp thu và tiếp cận được với nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ
hiện đại của thế giới; nhiều công nhân, lao động Việt Nam thông qua xuất khẩu
lao động và các chuyên gia nước ngoài đã có điều kiện tiếp cận được với những
máy móc thiết bị hiện đại và tác phong lao động công nghiệp. Qua đó chất
lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã được nâng cao hơn.
Một trong những thuận lợi nữa của nước ta khi tham gia hội nhập kinh tế
quốc tế là có được sự ổn định về chính trị và xã hội; cùng với lợi thế về nguồn
nhân lực dồi dào và tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng.
b. Về ngoại lực.
(
5)
Nguồn www.moi.gov.vn
17
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đang được sự ủng hộ từ
nhiều quốc gia trên thế giới. Đó là một thuận lợi rất lơn mà Việt Nam cần được
khai thác tốt. Trong những năm qua Việt Nam đã có được bước tiến lớn trong
đồng bộ, vừa thừa vừa thiếu; trình độ, kiến thức, năng lực lãnh đạo và quản lý
chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ quản lý thị trường.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước
thuộc các bộ, các ngành ở các cơ quan trung ương có 129.763 người, trong đó
có 74% công chức có trình độ đại học trở lên. Theo Nghị định 09/1998/NĐ-CP
ban hành ngày 23/1/1998 số lượng cán bộ chính quyền cơ sở loại xã sau đây
được ấn định như sau:
- Dưới 10.000 dân: 17-19 cán bộ.
- Từ 10.000 đến 20.000 dân: 19-21 cán bộ.
- Trên 20.000 dân cứ thêm 3000 dân thêm 1 cán bộ, tối đa không quá 25
cán bộ.
So với đội ngũ công chức hành chính trong nước từ cấp huyện lên trung
ương hiện có khoảng trên dưới 200.000 người, thì đội ngũ cán bộ làm công tác
chính quyền cơ sở không phải là nhỏ. Ngoài số đó ra còn có khoảng 200.000 là
đại biểu hội đồng dân cư, những người đang được chính quyền cơ sở trao những
quền hạn nhất định về mặt chính quyền, hợp thành một đội ngũ cán bộ đông đảo
ở cơ sở và trong toàn quốc.
Tính đến năm 2002, số cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học là
trên 1.000.000 người, trong đó khoảng trên 10.000 người là cán bộ có trình độ
trên đại học. Đội ngũ này chiếm 2,3% lực lượng lao động xã hội. Số trinh viên
tốt nghiệp đại học hàng năm khoảng 25.000 người có học vị trên đại học bổ
xung vào nguồn nhân lực chất lượng cao. Hàng năm ở Việt Nam tỷ lệ cán bộ có
trình độ cao đẳng, đại học trên 1000 dân đang tăng lên:
Năm Tỷ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng,
đại học trên 1000 dân
1997 12,0
19
1999 13,3
2000 14.1
Trong khi đó ở các nước khác là:
quá lạc hậu. Thu nhập bình quân đầu người tính bằng USD theo tỉ giá sức mua
tương đương của Việt Nam năm 2003 theo số liệu của Ngân hàng thế giới là
2.490 USD/năm (bằng 10% của Singapore, 28% của Malaysia, 33% của Thái
Lan, 54% của Philippines, 77% của Indonesia, 50% của Trung Quốc).
(7)
Do chiến tranh, do hoàn cảnh lịch sử, cơ sở vật chất mà chúng ta kế thừa
quá nghèo nàn. Bên cạnh đó còn biết bao vấn đề khó khăn về con người do
chiến tranh thiên tai để lại như những nạn nhân chất độc màu da cam... Công tác
ưu đãi và cứu trợ xã hội là gánh nặn đối với xã hội.
Trong lĩnh vực công nghiệp, công nghệ của ta lạc hậu so với thế giới từ 50–
100 năm. Hệ thống thiết bị kỹ thuật ở hầu hết các doanh nghiệp lạc hậu so với
mức trung bình của thế giới từ 2–3 thế hệ (ngoại trừ một số lĩnh vực mới). Công
nghệ và kỹ thuật lạc hậu không cho phép nâng cao năng suất lao động xã hội,
làm cho giá thành cao, không cạnh tranh được với các mặt hàng của các nước
(
7)
Nguồn: www.dpi.hochiminhcity.gov.vn
21
trên thế giới. Năng lực cạnh tranh yếu là nguy cơ rất lớn đẩy chúng ta tụt hậu xa
hơn trong bối cảnh toàn cầu hoá. Mặt khác công nghệ lạc hậu làm cản trở sự
phát triển của đội ngũ lao động có trình độ lành nghề và trình độ cao.
Cơ chế luật pháp còn nhiều bất cập. Để chủ động hội nhập kinh tế, vấn đề
rất bức xúc hiện nay là hoàn thiện hệ thông luật pháp phù hợp với sự phát triển
thị trường trong nước gắn liền mở cửa thị trường. Từ năm 1992, sau Hiếun pháp
được ban hành, Nhà nước đã ban hành hơn 100 luật, bộ luật; hàng trăm pháp
lệnh, nghị định và rất nhiều văn bản pháp quy, hướng dẫn các văn bản luật, bổ
sung, chi tiết hoá các quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, tính khả thi còn thấp và
năng lực thi hành còn nhiều bất cập, yếu kém, cho nên hiệu lực, hiệu quả các
văn bản pháp quy bị hạn chế. Tiến hành hội nhập, thực hiện của quá trình tham
gia AFTA, APEC, quan hệ thương mại với Liên minh Châu Âu (EU), khu vực
kinh tế cá thể cao phản ánh phương thức kinh doanh nhỏ lẻ, phân tán còn khá
phổ biến trong nền kinh tế. Tỉ trọng kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn thấp
23
nhưng tăng tương đối mạnh trong những năm vừa qua, thể hiện sức hấp dẫn của
môi trường đầu tư của nước ta.
Về cơ cấu các ngành kinh tế.
Cơ cấu các ngành kinh tế ở nước ta
Ngành 2000 (%) 2004 (%)
Công nghiệp - xây dựng 36,6 39,8
Dịch vụ 39,1 39,9
Nông, lâm, ngư nghiệp 24,3 21,3
Nguồn: www.cuts-international. org
Như vậy, cơ cấu kinh tế theo ngành cũng có những chuyển biến tích cực,
dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hoá. Tăng dần tỷ trọng trong
GDP các ngành công nghiệp-xây dựng (tăng từ 36,6% năm 2000 lên 39,8%
năm 2005) và dịch vụ (tăng từ 39,1% năm 2000 lên 39,9% năm 2005) giảm dần
tỷ trọng nông-lâm-ngư nghiệp (từ 24,3% năm 2000 giảm xuống 21,3% năm
2005). Tăng tỉ trọng của công nghiệp, dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước
ta trước hết chính là quá trình phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp,
thông qua đó giảm bớt lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng khả năng tích
luỹ cho dân cư. Đây lại chính là điều kiện để tái đầu tư, áp dụng các phương
pháp sản xuất, công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất, trong đó có cả sản xuất
nông nghiệp. Kết quả là, tất cả các ngành kinh tế đều phát triển, nhưng ngành
công nghiệp và dịch vụ phát triển nhanh hơn, biểu hiện là tăng tỷ trọng của sản
phẩm công nghiệp và dịch vụ trong GDP. Tuy nhiên, ta có thể nhận thấy tỷ
trọng ngành dịch vụ tăng còn ở mức chậm, chưa đạt mức kế hoạch đặt ra, ngành
24
công nghiệp tăng mạnh nhưng trên thực tế cho thấy nhiều quy hoạch phát triển
còn rập khuôn, mang nặng tính phong trào. Có thể lấy ví dụ về điều này qua
25