Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Ngày 20/7/2000, Trung tâm giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
khai trơng tạo ra sự khởi đầu cho hoạt động của TTCK Quốc gia. Ngày 28/7/2000,
vào lúc 11 giờ, phiên giao dịch đầu tiên của TTCK Việt Nam đợc thực hiện và đợc
đánh giá là thành công ngoài dự kiến.
Về nhiều mặt, đối với chúng ta, việc xây dựng thành công một TTCK tơng đối
hoàn chỉnh, hoạt động theo quy trình tơng đối hiện đại, có thể xem là một công
trình thế kỷ trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Đây là kết qủa của quá trình chuẩn bị
công phu với nỗ lực nhằm đa TTCK đi vào hoạt động, tạo thêm một kênh huy động
vốn hữu hiệu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Chúng ta đang sống trong một bối cảnh kinh tế-xã hội đặc biệt với những thay
đổi hết sức lớn lao, tất cả mọi quốc gia đều đang nằm trong vòng quay mạnh mẽ của
quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế. Trong bối cảnh đó, Việt Nam chúng ta
không thể đứng ngoài cuộc. Hội nhập kinh tế đòi hỏi rất nhiều đến việc sử dụng tối
đa nội lực cũng nh tranh thủ hợp lý nguồn ngoại lực từ bên ngoài. Quá trình hội nhập
kinh tế tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, mọi mặt của nền kinh tế. Là một
thể chế thị trờng bậc cao, TTCK cũng không thể nằm ngoài xu hớng hội nhập. Mặc
dù, TTCK Việt Nam ra đời cha lâu, nhng vẫn luôn chịu tác động của quá trình hội
nhập kinh tế. Vì vậy, việc nghiên cứu TTCK Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá
và hội nhập kinh tế hiện nay là hết sức cấp thiết và cấp bách.
Mục đích của đề tài nghiên cứu:
Một là: Xác định cấu trúc hợp lý của một TTCK trong tiến trình hội nhập kinh
tế.
Hai là: Phân tích, đánh giá quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam nói chung
và sự phát triển của TTCK Việt Nam nói riêng trong tiến trình hội nhập kinh tế. Nêu
lên một số thuận lợi và khó khăn của TTCK Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh
tế.
Ba là: Làm rõ một số quan điểm chỉ đạo quá trình hội nhập của TTCK Việt
Nam . Nêu lên những định hớng chiến lợc cho qúa trình hội nhập TTCK .
Bốn là: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển TTCK Việt

&PTNT, Công ty chứng khoán
Thăng Long, Công ty chứng khoán Bảo Việt, Công ty chứng khoán Ngân hàng ACB.
Kết quả của cuộc điều tra này là một trong những căn cứ để chúng tôi đánh giá thực
trạng và tìm ra giải pháp cho TTCK Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận đợc sự đóng góp ý kiến và
sự chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô giáo khoa Ngân hàng-Tài chính. Mặc dù đã có
nhiều cố gắng tìm hiểu và phân tích các tài liệu trong nớc và quốc tế, các thông tin
chi tiết về TTCK và qúa trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong thời gian vừa
qua, song vì đây là một vấn đề lớn và phức tạp nên chúng tôi không tránh khỏi những
sai sót trong cách viết. Chúng tôi rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến, sự phê bình
của các thầy cô giáo và những ngời quan tâm để chúng tôi có thể hoàn thiện hơn đề
tài này.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ch ơng 1: Lý luận chung về Thị Trờng Chứng Khoán
trong tiến trình hội nhập
1.1. Tổng quan về Thị Trờng Chứng Khoán
1.1.1. Khái niệm về chứng khoán và thị tr ờng Chứng Khoán
1.1.1.1. Chứng khoán
a. Khái niệm, đặc điểm của Chứng khoán
Có nhiều cách hiểu khác nhau về chứng khoán, trong đó có một cách hiểu cho
rằng: "Chứng khoán là chứng chỉ hay bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của ngời sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành
Hay có một cách hiểu khác: "Chứng khoán đợc hiểu là giấy tờ làm bằng
chứng, chứng nhận cho ngời cầm giữ nó có những quyền nhất định về một loại tài
sản nào đó".
Dù có nhiều khái niệm khác nhau về chứng khoán nhng về cơ bản các chứng
khoán mang lại cho ngời sở hữu hợp pháp chứng khoán những quyền sau:
- Quyền sở hữu.

cụ chứng khoán phái sinh.
b.1. Cổ phiếu: Có bản chất là chứng khoán vốn (Stock/Share/Action)
Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ chứng nhận quyền sở hữu của một
cổ đông đối với một công ty cổ phần.
Cổ đông đợc hởng quyền cũng nh những khoản nợ và những nghĩa vụ tài chính
khác trong phạm vi lợng vốn cố định mà nhà cổ đông đóng góp vào công ty. Do vậy
cổ phiếu còn đợc gọi là chứng khoán vốn.
Cổ phiếu đợc chia làm 2 loại:
- Cổ phiếu thờng hay cổ phiếu phổ thông: là loại cổ phiếu có lợi tức không cố
định mà phụ thuộc vào lợi nhuận thu đợc của công ty cổ phần, nên nó có độ rủi ro
cao.
Việc trả cổ tức đối với cổ phiếu đợc thực hiện bằng các hình thức sau:
+ Trả bằng tiền mặt .
+ Trả bằng cổ phiếu của công ty.
+ Trả bằng tài sản của công ty.
Tuy nhiên, công ty cổ phần cũng có thể phát hành cổ phiếu không có mệnh
giá. Ngời nắm giữ loại cổ phiếu này thờng dành cho các sáng lập viên của công ty.
Cổ phiếu này có đặc điểm là ngời nắm giữ nó chỉ đợc hởng lợi sau khi tiền lời thuần
túy đã chia cho các cổ đông.
- Cổ phiếu u đãi (preferred stocks) (cổ phiếu độc quyền) là loại cổ phiếu đợc
hởng những quyền u tiên:
+ Đợc hởng một mức cổ tức riêng biệt, có tính cố định hàng năm.
+ Đợc u tiên chia lãi cổ phần trớc cổ phiếu thờng.
+ Đợc u tiên phân chia tài sản còn lại của công ty sau khi công ty phá sản hoặc
giải thể trớc cổ phiếu thờng.
Tuy nhiên không giống nh cổ phiếu thờng, ngời sở hữu cổ phiếu u đãi không
tham gia quản lý điều hành công ty (trừ cổ đông u đãi biểu quyết).
Giống nh cổ phiếu thờng, cổ phiếu u đãi có thể có mệnh giá hoặc không có
mệnh giá. Nếu cổ phiếu u đãi có mệnh giá thì cổ tức đợc tính theo giá trị tuyệt đối
hoặc tỷ lệ % trên mệnh giá. Ngợc lại cổ phiếu u đãi không có mệnh giá thì cổ tức sẽ

- Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất ghi trên trái phiếu hoặc đợc nhà phát hành
công bố. Lãi suất danh nghĩa là một căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu.
- Thời hạn trái phiếu: Là khoảng thời gian kể từ ngày phát hành đến ngày
ngời phát hành hoàn trả hoàn trả hết tiền vay lần cuối.
- Kỳ trả lãi: là khoảng thời gian giữa các thời điểm ngời phát hành trả lãi cho
ngời nắm giữ trái phiếu.
- Giá phát hành: là tỷ lệ % giữa tổng số tiền lãi trong năm với giá thị trờng
hiện hành.
- Lãi suất đáo hạn: là lãi suất hoàn vốn t bản của một trái phiếu, nếu mua trái
phiếu vào thời điểm hiện tại và nắm giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn.
- Phí suất: là một khái niệm đợc sử dụng để xác định chi phí thực tế mà ngời
phát hành chi trả cho việc sử dụng một đơn vị tiền vay. Nó đợc xác định bằng tỷ lệ %
giữa tổng chi phí vay thực tế mà ngời phát hành phải trả trong một năm với giá bán
trái phiếu.
b.3 Các chứng khoán phái sinh
Là các chứng từ đợc ra đời từ các giao dịch chứng khoán và đợc chuyển đổi
sang chứng khoán qua mua bán.
Các chứng khoán phát sinh bao gồm:
- Chứng quyền: hay còn gọi là quyền tiên mãi hay quyền đặt mua mà một
chứng th do công ty cổ phần phát hành cho cổ đông, xác nhận quyền của cổ đông đ-
ợc mua một số lợng nhất định cổ phiếu mới phát hành với một giá cả nhất định và
trong một thời gian nhất định.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chứng khế (bảo chứng phiếu): Đây là một chứng th đợc công ty phát hành
kèm với trái phiếu cổ phiếu u đãi, trong đó cho phép ngời sở hữu đợc quyền mua một
số lợng chứng khoán nhất định (trái phiếu và cổ phiếu thờng hoặc chuyển đổi chứng
khoán đó sang cổ phiếu thờng mới phát hành, với giá cả nhất định và trong thời hạn
nhất định).
- Quyền chọn: là một kiểu hợp đồng giữa 2 bên, trong đó một bên bán cho

của các tổ chức phải đáp ứng đợc các tiêu chuẩn nhất định, các tiêu chuẩn này thờng
rất cao, do từng nớc quy định. Ngoài ra còn có các loại chứng khoán đặc biệt đợc
miễn giấy phép do cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, do chính phủ hoặc chính quyền
quyền địa phơng phát hành.
Thị trờng này, nh tên gọi của mình, có nơi mua bán chứng khoán cụ thể, là các
Sở (trung tâm) giao dịch chứng khoán.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- TTCK phi tập trung (OTC): Khác với TTCK tập trung, trên thị trờng OTC
các lệnh mua và bán chứng khoán đợc thực hiện trực tiếp giữa các nhà đầu t (chủ yếu
là các CTCK) hay còn gọi là các nhà tạo lập thị trờng. Các giao dịch đợc thực hiện
qua một hệ thống thông tin hiện đại, giá cả đợc tạo lập chủ yếu qua hình thức thơng
lợng, thỏa thuận chính vì thế trên thị trờng với mỗi loại chứng khoán tại mỗi thời
điểm có thể có nhiều mức giá.
Các nhà tạo lập thị trờng có thực hiện nghiệp vụ môi giới nhng chiếm tỷ trọng
không lớn trong tổng các giao dịch.
TTCK phi tập trung không có địa điểm cụ thể. Các nhà tạo lập thị trờng tự
chọn địa điểm cho mình và liên lạc với nhau qua mạng điện thoại hay mạng máy
tính.
Các loại chứng khoán trên thị trờng OTC cũng rất đa dạng nhng cha đủ tiêu
chuẩn niêm yết trên Sở (trung tâm) GDCK. Bao gồm chứng khoán của các công ty,
các quỹ đầu t, quỹ bảo hiểm, trái phiếu của Chính phủ và chính quyền địa phơng.
- Thị trờng tự do: Phơng thức giao dịch là xác định giá cả trên thị trờng tự do
khá giống với thị trờng OTC. Tuy nhiên, khi thực hiện giao dịch, những ngời mua và
bán chứng khoán phải trực tiếp gặp nhau hoặc qua điện thoại hay mạng Internet đơn
giản để có thể xác định giá cả và số lợng chứng khoán trao đổi.
TTCK tự do không thể có đợc hệ thống thanh toán bù trừ hiện đại nh trên
TTCK tập trung hoặc thị trờng OTC.
Có thể nói thị trờng tự do nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nớc. Các tiêu chuẩn
cho các loại chứng khoán đợc xác định theo nhận thức của các nhà đầu t.

Căn cứ vào tiêu thức này có thể nhóm các chủ thể tham gia TTCK thành:
- Chủ thể phát hành
- Chủ thể đầu t
- Chủ thể trung gian chứng khoán
- Chủ thể quản lý và giám sát hoạt động TTCK
- Các tổ chức khác có liên quan
d) Cơ chế hoạt động của thị tr ờng chứng khoán
Cơ chế hoạt động của thị trờng đợc hiểu là tổng hợp các hình thức và phơng
pháp tổ chức, quản lý các hoạt động của thị trờng, nhằm thực hiện nhng mục tiêu đa
đề ra. Đối với TTCK cơ chế hoạt động của thị trờng bao gồm các quy định, quy tắc
về các hoạt động cơ bản nh phát hành, niêm yết, giao dịch, lu trữ và thanh toán.
e) Phát hành chứng khoán
Phát hành chứng khoán là công việc "khai sinh" ra các loại chứng khoán, là
công việc khởi đầu để tạo ra chứng khoán và đa chứng khoán vào luân chuyển, lu
thông trên thị trờng thông thờng có hai hình thức phát hành: phát hành riêng lẻ và
phát hành ra công chúng.
- Phát hành riêng lẻ: (còn gọi là phát hành nội bộ) là việc phát hành chỉ đợc
thực hiện trong phạm vi một số ngời nhất định. Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ
thờng không chịu hoặc ít chịu sự điều chỉnh của các quy định luật về chứng khoán về
TTCK mà nó chịu sự điều chỉnh của các luật khác nh Luật Công ty, Luật doanh
nghiệp.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng: là việc phát hành chứng khoán trong
đó chứng khoán đợc bán rộng rãi ra công chúng và khối lợng phát hành đạt tới một
quy mô nhất định, chứng khoán phát hành ra công chứng là đối tợng giao dịch trên
TTCK chịu sự quản lý giám sát của một cơ quan chuyên trách và chịu sự điều chỉnh
của pháp luật về chứng khoán và TTCK .
f) Niêm yết chứng khoán.
Niêm yết chứng khoán là việc ghi danh các chứng khoán nhất định vào danh
mục các chứng khoán đủ tiêu chuẩn đợc giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán.
Mỗi thị trờng do những đặc điểm, điều kiện cụ thể khai thác mà có những quy

xem xét này, TTCK có các vai trò sau:
a. Thị tr ờng chứng khoán góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế.
Việc mua đi bán lại chứng khoán trên TTCK đã tạo điều kiện di chuyển vốn
đầu t từ ngành này sang ngành khác, phá vỡ tính ỳ của đầu t trong sản xuất, tạo ra
động lực và sự năng động cho sản xuất kinh doanh góp phần tạo ra sự phát triển
nhanh chóng của nền kinh tế.
b. Thị tr ờng chứng khoán tạo ra sự phân bổ vốn hợp lý cho các khu vực của nền kinh
tế.
Khi Chính phủ và các doanh nghiệp muốn huy động vốn trên TTCK thì Chính
phủ và các doanh nghiệp phải đa ra những mức lãi suất khác nhau cho từng loại trái
phiếu . Khi đa ra các mức lãi suất này Chính phủ và các doanh nghiệp phải cân nhắc
giữa khả năng sinh lãi của nguồn vốn, trong mối liên hệ với các khoản đầu t khác về
các rủi ro có liên quan. Khi nhu cầu về vốn của một ngành, lĩnh vực hay doanh
nghiệp nào đó là cấp thiết, khả năng sinh lời cao thì mức lãi suất sẽ đợc đặt ở mức
cao để thu hút đợc các nhà đầu t và ngợc lại. Chính điều này làm cho việc phân bổ
các nguồn vốn trở nên hợp lý hơn.
c. Thị tr ờng chứmg khoán kích thích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lành
mạnh và có hiệu quả hơn.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Với nguyên tắc công khai của TTCK , các nhà đầu t có thể theo dõi, đánh giá,
giám sát các công ty một cách dễ dàng. Đồng thời sự tự do lựa chọn của ngời đầu t
trong việc mua bán các chứng khoán của các doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá của
họ về doanh nghiệp sẽ buộc các doanh nghiệp phải tính toán, làm ăn một cách thật sự
hiệu quả nhằm huy động đợc vốn thông qua TTCK . Ngợc lại, nếu doanh nghiệp làm
ăn không có hiệu quả, họ khó có thể huy động đợc vốn bằng trái phiếu, cổ phiếu. Các
chứng khoán của họ đã phát hành sẽ sụt giá trên thị trờng, do các nhà đầu t sẽ đồng
loạt bán ra, làm cho giá trị của doanh nghiệp sụt giảm và đẩy doanh nghiệp tới nguy
cơ phá sản.
d. Thị tr ờng chứng khoán là ph ơng tiện giúp Chính phủ thực hiện các chính sách tài

10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đứng về phía ngời sử dụng vốn là các doanh nghiệp hoặc Chính phủ, TTCK
cho phép họ có thể gọi vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu đầu t phát triển, mở rộng sản
xuất kinh doanh và tài trợ cho các nhu cầu tài chính khác.
Nh vậy, TTCK là nơi cung cấp các cơ hội đầu t với khả năng sinh lời cao có
lựa chọn cho các nhà đầu t công chúng, từ đó nâng cao mức tiết kiệm quốc gia và tạo
ra khả năng huy động vốn to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế.
b. Tạo ra tính thanh khoản cho các chứng khoán.
Hoạt động diễn ra thờng xuyên, hàng ngày, hàng giờ trên TTCK là mua bán
các chứng khoán đã phát hành giữa các nhà đầu t nhằm thỏa mãn các nhu cầu về lợi
nhuận, thanh khoản, hay vì một lý do nào đó mà phải thay đổi các quyết định đầu t
trớc đó. Việc mua đi bán lại các chứng khoán này không tạo thêm nguồn vốn cho
chủ thể phát hành, nhng có khả năng tạo thu nhập cho ngời mua bán chúng và tạo ra
sự chuyển đổi quyển sở hữu chứng khoán từ ngời này sang ngời khác.
c. Đánh giá giá trị tài sản của doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế.
Thị trờng chứng khoán là nơi đánh giá và biểu hiện giá trị tài sản của doanh
nghiệp và của nền kinh tế một cách công khai và nhạy bén, thông qua giá cả của các
chứng khoán và các chỉ số chứng khoán. Nếu giá cả chứng khoán và các chỉ số chứng
khoán của doanh nghiệp cũng nh của toàn bộ TTCK tăng trởng một cách đều đặn ổn
định, cho phép chúng ta khẳng định sự phát triển ổn định và vững chắc của doanh
nghiệp cũng nh của cả nền kinh tế; và ngợc lại khi giá cả chứng khoán và các chỉ số
chứng khoán là không ổn định hoặc suy giảm thì điều này cho phép chúng ta khẳng
định tình trạng bất ổn, và có xu hớng suy thoái trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp cũng nh sự bất ổn và suy thoái nói chung của nền kinh tế.
1.2. Xây dựng và phát triển TTCK trong tiến trình hội
nhập.
Ngày nay nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế ở mỗi nớc là rất lớn vì vậy TTCK
ra đời nh là một tất yếu khách quan kinh tế của mỗi nớc. Xây dựng và phát triển
TTCK là cần thiết để tạo thêm một kênh huy động vốn có hiệu quả cho nền kinh tế.

Xét trên khía cạnh phân công và hợp tác sản xuất, có quan điểm cho rằng hội
nhập kinh tế là việc tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác sản xuất v-
ợt ra khỏi biên giới quốc gia, vơn tới quy mô toàn thế giới và đạt trình độ, chất lợng
mới.
Khi nghiên cứu quá trình một nớc tham gia vào các tổ chức kinh tế lớn trên thế
giới thì có nhiều quan điểm lại cho rằng: hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình một
quốc gia phấn đấu trở thành một thành viên chính thức và hoạt động nh một tế bào
sống trong một tổ chức kinh tế lớn có tầm cỡ khu vực và quốc tế (WTO, APEC,
AFTA...) .Con đờng duy nhất để giúp các nớc hội nhập thành công là phải tìm mọi
cách thích nghi càng nhanh càng tốt với môi trờng mới đã thay đổi.
Và có khá nhiều những quan điểm khác nữa về hội nhập kinh tế. Mỗi quan
điểm đợc đa ra khi các tác giả nghiên cứu về một khía cạnh nào đó của xu thế toàn
cầu hóa kinh tế xã hội hội nhập kinh tế.
Qua tổng kết các quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế thì chúng ta có thể chỉ
ra một số vấn đề đợc đề cập đến trong quan niệm về hội nhập kinh tế, đó là:
+Hội nhập và tham gia vào quá trình toàn cầu hóa.
+Mở rộng các quan hệ đa phơng.
+Tăng cờng hợp tác và cạnh tranh giữa các nớc.
+Các nớc có sự liên kết và phụ thuộc chặt chẽ với nhau.
+Sự lu thông hàng hóa dịch vụ, các luồng vốn...
+Hội nhập và thích nghi với môi trờng mới để hoạt động có hiệu quả hơn.
Từ các vấn đề chính đợc đề cập đó, theo chúng tôi hội nhập kinh tế quốc tế
trong giai đoạn hiện nay phải đợc hiểu là việc các nớc tham gia vào quá trình toàn
cầu hóa, ở đó các nớc vừa hợp tác vừa đấu tranh gay gắt để giành thị phần, vốn,
kinh nghiệm kỹ thuật, tham gia một cách có hiệu quả vào hoạt động phân công
lao động và hợp tác sản xuất đồng thời phát huy tối đa nội lực và khai thác vận
dụng các điều kiện thuật lợi bên ngoài, tận dụng các mối quan hệ kinh tế đa ph-
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ơng rộng khắp nhằm củng cố an ninh chính trị, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc

ớc. Hội nhập Thị trờng lao động đợc hiểu là việc làm cho lực lợng lao động của các
quốc gia trở thành một lực lợng lao động toàn cầu thông qua việc xuất khẩu và nhập
khẩu lao động. ở đây, tính chất hàng hóa của sức lao động đợc thể hiện rõ nét nhất:
đợc mua bán tự do, có giá cả cụ thể... Trong quá trình này, các nớc đang phát triển có
thể nhập khẩu lao động có trình độ cao ở các nớc phát triển và xuất khẩu lao động d
thừa sang các nớc khác. Điều này giúp cân đối nhu cầu lao động với những trình độ
khác nhau giữa các nớc phát triển và đang phát triển (không nên nhầm lẫn giữa xuất
nhập khẩu lao động có tổ chức với hoạt động di c tự do vì di c tự do có liên quan mật
thiết với vấn đề biên giới và chủ quyền quốc gia). Việc toàn cầu hoá Thị trờng lao
động giúp cho các nớc có thể tìm đợc nguồn nhân công có trình độ thích hợp với chi
phí rẻ nhất.
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thị trờng thứ 3 mà các nớc phải tham gia hội nhập là Thị trờng vốn -tiền tệ.
Toàn cầu hóa Thị trờng vốn -tiền tệ là quá trình kết nối ngày càng gia tăng các Thị tr-
ờng vốn-tiền tệ xuyên quốc gia, tiến tới phát triển một Thị trờng thống nhất. Thực tế
cho thấy, để phát triển nền kinh tế của một đất nớc thì quốc gia đó không thể chỉ dựa
vào nguồn vốn trong nớc mà nó còn phải thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn
vốn từ bên ngoài.Vì vậy, trong quá trình phát triển kinh tế thì việc mở cửa Thị trờng
vốn là một tất yếu khách quan. Mở cửa Thị trờng vốn là việc một quốc gia cho phép
các luồng vốn tự do ra- vào Thị trờng vốn của nớc mình và tất nhiên phải có sự kiểm
soát của Nhà nớc. Ngày nay, trên thế giới các dòng vốn chủ yếu là từ các nớc công
nghiệp phát triển đi vào các nớc đang phát triển. Xu hớng này phản ánh một thực tế
là các nớc công nghiệp phát triển có mức độ mở cửa Thị trờng rộng rãi hơn vì họ có
một hệ thống tài chính vững mạnh và một bề dày hoạt động trên Thị trờng vốn.
Vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập kinh tế ngày nay không chỉ dừng lại ở
việc có mở cửa Thị trờng vốn hay không mà còn ở chỗ năng lực thu hút và sử dụng
vốn của nền kinh tế có hiệu quả hay không để đáp ứng nhu cầu hội nhập. Bởi vì trong
bối cảnh tổng quát và dài hạn thì năng lực tăng trởng của nền kinh tế là yếu tố quan
trọng xác định triển vọng huy động vốn đầu t, điều này liên quan đến một nguyên tắc

hóa.
Thứ ba, quá trình toàn cầu tạo cơ hội cho các quốc gia tiếp cận với nguồn vốn
và công nghệ kỹ thuật cũng nh công nghệ quản lý.
Ngày nay trong nền kinh tế toàn cầu cùng với việc mở cửa thị trờng làm cho
các quan hệ trao đổi buôn bán hàng hóa dịch vụ gia tăng mạnh mẽ là dòng lu chuyển
của vốn, công nghệ cũng đợc mở rộng và đẩy nhanh. Tham gia vào quá trình toàn
cầu hóa các quốc gia không chỉ tận dụng đợc thị trờng mà còn có thể thu hút, sử
dụng các dòng vốn quốc tế. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với các quốc gia
đang phát triển, nơi mà đang cần vốn và công nghệ quản lý tiên tiến. Theo báo cáo
của tổ chức UNCTAD, năm 1997, các nớc đang phát triển tiếp nhận 1043 tỷ đô la
vốn đầu t. Kéo theo dòng chảy của vốn là các kỹ thuật công nghệ sản xuất và quản lý
tiên tiến cho phép các quốc gia nâng cao trình độ sản xuất, mở ra điều kiện tiếp tục
tham gia sâu vào hệ thống phân công lao động quốc tế.
Việc tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế mới cũng đồng thời là
quá trình cạnh tranh gay gắt. Do đó cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải nghiên
cứu phát triển công nghệ mới và qua toàn cầu hóa công nghệ này lại đợc lan truyền
rộng rãi giữa các quốc gia. Vì vậy, có thể thấy là toàn cầu hóa là nhân tố kích thích
sự phát triển và lan tỏa của khoa học công nghệ.
Thứ t, hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực cho phép các quốc gia thành viên
đợc hởng các u đãi về thuế quan, từ đó hàng hóa có thể nhanh chóng tiếp cận đợc với
Thị trờng thế giới. Đối với các nớc đang phát triển thì hội nhập vào các tổ chức kinh
tế quốc tế cũng chính là việc tham gia vào các diễn đàn cho phép mình bình đẳng bày
tỏ quan điểm, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình.
Thứ năm, toàn cầu hóa kinh tế thực chất là quá trình mở cửa hội nhập của các
quốc gia. Trong quá trình hội nhập các quốc gia đều nhanh chóng đợc tiếp nhận
những thông tin tri thức mới. Nhờ đó mà trình độ sản xuất và trình độ dân trí đợc
nâng cao.
Trong môi trờng bảo hộ, đặc biệt với nền kinh tế khép kín khó có thể tiếp
nhận và áp dụng những thông tin, tri thức mới. Ngày nay với sự phát triển của
Internet, thông tin đợc lan truyền đi khắp thế giới, xóa đi mọi ngăn cách về không

phát triển có lợi thế cũng sẽ lấn át sản phẩm của các quốc gia kém phát triển hơn.
Điều này đã đa đến sự cạnh tranh gay gắt và làm nảy sinh nạn phá sản, thất nghiệp,
làm trầm trọng thêm các vấn đề xã hội vốn đã rất nan giải ở các quốc gia chậm phát
triển hơn.
Thứ ba, toàn cầu hóa mở ra cơ hội tranh thủ nguồn lực bên ngoài, song chính
điều đó lại bao hàm khả năng phụ thuộc vào hệ thống phân công lao động quốc tế,
nếu nh không xác định đợc chiến lợc phát triển phù hợp dựa trên cơ sở phát huy nội
lực là chính. Trong điều kiện toàn cầu hóa đang chịu sự chi phối của các nớc t bản
phát triển thì sự phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế quốc tế, tất sẽ chịu sự khống chế của
các thế lực t bản tài chính quốc tế. Điều này cũng có nghĩa dẫn đến thu hẹp phạm vi
tác động và quyền lực của các chính quyền quốc gia với chính quá trình phát triển
kinh tế -xã hội của đất nớc mình.
Thứ t, toàn cầu hóa cho phép tận dụng các nguồn lực để rút ngắn quá trình
phát triển, song nó lại bao hàm khả năng không bền vững trong phát triển. Có thể có
tăng trởng nhng lại kèm theo những hậu quả khốc hại về mặt môi trờng, xã hội. Điều
này phụ thuộc rất lớn vào chính sách phát triển và hiệu quả của bộ máy quản lý.
Thực trạng của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, việc mở cửa đã du nhập các
thành tựu khoa học công nghệ, nguồn vốn . vv... song công nghệ lạc hậu đã làm ô
nhiễm môi trờng, thất thoát vốn...
Thứ năm, toàn cầu hóa còn đặt ra những hậu quả mang tính chất phi kinh tế.
Đó là vấn đề phổ biến, lan tràn nhanh của các dịch bệnh, đặc biệt HIV/AIDS. Do
toàn cầu hóa, luồng di chuyển lao động, du lịch, giao lu tăng mạnh, theo đó dịch
bệnh cũng có khả năng lây lan cực nhanh. Đồng thời, còn có sự phổ biến của văn hóa
ngoại lai với lối sống trái ngợc thuần phong mỹ tục, làm băng hoại đạo đức con ngời.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mạng Internet ngày nay là phơng tiện thông tin tuyệt vời, nhng nó cũng là con đờng
xâm thực về mặt văn hóa, khá nguy hiểm nếu không có những cách quản lý hiệu quả.
1.2.2. Vấn đề hội nhập Thị tr ờng chứng khoán :
Trong quá trình hội nhập TTCK thì yêu cầu đặt ra đối với cấu trúc, hàng hóa

Xu hớng hội nhập TTCK đã dẫn đến một làn sóng chuyển đổi hình thức sở
hữu các Sở GDCK thành các công ty cổ phần. Làn sóng này xuất hiện từ năm 1983
với Sở GDCK Xtôc-khôm (Thụy Điển), và cho đến nay, đã có 12 Sở GDCK đã
chuyển đổi cơ cấu sở hữu theo hình thức này.
Việc tổ chức Sở GDCK theo hình thức Công ty cổ phần giúp cho việc sát nhập
các Sở GDCK trở nên dễ dàng hơn từ đó thúc đẩy quá trình quốc tế hóa TTCK . Ví
dụ nh việc sáp nhập Sở GDCK Luân đôn và Sở GDCK Phờranhphuốc ngày
03/05/2000, hình thành nên một Sở GDCK mới có tên là "IX".
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Đối với Thị tr ờng OTC: Trên thực tế, việc tổ chức OTC là một tất yếu
khách quan trong quá trình hoàn thiện và phát triển TTCK . Tuy nhiên, ngoài việc tổ
chức Thị trờng OTC thì vấn đề đặt ra là phải tổ chức Thị trờng OTC nh thế nào để
đáp ứng các yêu cầu về hội nhập TTCK trong tiến trình hội nhập kinh tế.
Việc tổ chức Thị trờng OTC là nhằm thu hút các tổ chức phát hành, trung gian
chứng khoán và các nhà đầu t thông qua một mạng điện tử diện rộng đợc tổ chức
trong phạm vi một nớc. Việc hội nhập OTC yêu cầu phải tổ chức đợc một mạng giao
dịch điện tử toàn cầu. Điều này giúp cho các chủ thể của Thị trờng OTC một nớc có
thể tham gia giao dịch với các chủ thể của các Thị trờng OTC của các nớc khác. Nhờ
đó, nó giúp cho Thị trờng OTC của một nớc trở thành thành viên của mạng lới các
Thị trờng OTC trên khắp toàn cầu.
1.2.2.2.Về hàng hóa:
Vấn đề hội nhập TTCK xét trên khía cạnh hàng hóa đợc hiểu là việc làm cho
chứng khoán của một nớc đợc phép giao dịch trên TTCK ở các nớc khác.
Chúng ta biết rằng hàng hóa của TTCK bao gồm các loại: Cổ phiếu, Trái
phiếu, chứng chỉ quỹ đầu t và các loại chứng khoán phái sinh. Trong quá trình hội
nhập TTCK , các nớc đều cho phép phát hành trái phiếu và cổ phiếu bằng đồng ngoại
tệ mạnh và các cổ phiếu, trái phiếu này đợc niêm yết trên TTCK các nớc.
Nhng đối với cổ phiếu thì trong quá trình hội nhập TTCK , một nớc sẽ cho
phép cổ phần hóa các doanh nghiệp liên doanh với nớc ngoài hay doanh nghiệp

này đợc giải thích là do nền kinh tế của các nớc đang phát triển ít ổn định, thiếu vững
vàng hơn so với các nớc đang phát triển; hoạt động chứng khoán ở các nớc đang phát
triển còn mang nặng tính đầu cơ làm cho mức tăng trởng chỉ số chứng khoán không
phản ánh đúng thực chất tăng trởng kinh tế và nhu cầu tái sản xuất. ở các nớc đang
phát triển thì thợng tầng kiến trúc tài chính phình quá to vì vậy trong hoạt động tài
chính hàng ngày các cơ quan đó có ít nhiều quan hệ qua lại với nhau do đó mà chỉ
một chấn động nhỏ ở nơi này cũng gây thành phản ứng dây chuyền, ảnh hởng tới nơi
khác và chẳng mấy chốc bao trùm toàn bộ TTCK trong nớc. Đồng thời ở các nớc
đang phát triển thì trình độ tổ chức, điều hành hoạt động TTCK còn rất thấp. Điều
này làm giảm khả năng ngăn ngừa các ảnh hởng lan truyền từ bên ngoài và làm chậm
lại quá trình khắc phục những hậu quả của cuộc khủng hoảng TTCK của các nớc
đang phát triển. Điều này đợc thể hiện trong lịch sử, ở những nớc t bản phát triển, nơi
phát sinh khủng hoảng thì lại chịu tác động tiêu cực ít hơn nhiều so với các nớc đang
phát triển, các nớc luôn bị động trớc các khủng hoảng.
1.2.2.3.Về chủ thể:
Quá trình hội nhập TTCK xét trên khía cạnh chủ thể của TTCK là việc các
chủ thể có thể tham gia hoạt động trên Thị trờng của các nớc khác nhau trên thế giới.
Trên TTCK chúng ta thấy có sự tham gia hoạt động của các chủ thể nh: tổ
chức phát hành, nhà đầu t, trung gian chứng khoán và các cơ quan quản lý, giám sát
TTCK .
- Đối với các tổ chức phát hành: Trong một TTCK hội nhập thì các tổ chức
phát hành có thể phát hành và niêm yết các chứng khoán này trên các TTCK khác.
Điều này giúp cho các tổ chức phát hành có điều kiện phát hành các loại chứng
khoán khác nhau và niêm yết trên các TTCK khác nhau mà nó cho là có lợi nhất.
Các tổ chức phát hành sẽ cân nhắc tùy vào điều kiện ở các TTCK khác nhau để tìm
ra số lợng và chủng loại chứng khoán để niêm yết.
- Đối với nhà đầu t : Các nhà đầu t hoạt động trên một TTCK hội nhập sẽ có
điều kiện để đa dạng hóa danh mục đầu t của mình nhờ việc trên TTCK của một nớc
có niêm yết chứng khoán của TTCK các nớc còn lại. Việc các nhà đầu t tham gia
đầu t ở nhiều TTCK khác nhau sẽ làm cho các TTCK có mối liên hệ ràng buộc nhất

Giai đoạn khởi đầu (1981 - 1986) là giai đoạn mang tính tự phát.
- Các doanh nghiệp tự động phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn.
Lúc này trong nhận thức của nhà đầu t cũng nh tổ chức phát hành cha có khái niệm
chính xác về chứng khoán.
- Giai đoạn phát triển (từ 1986 -1991) là giai đoạn các nhà lãnh đạo nhận
thức đợc sự cần thiết phải phát triển rất mạnh TTCK . TTCK tự phát (chủ yếu là cổ
phiếu) đã phát triển rất mạnh. Các Công ty môi giới chứng khoán đợc thành lập (chủ
yếu từ các Ngân hàng), hình thành nên các điểm giao dịch chứng khoán. Năm 1986,
Nhà nớc Trung Quốc quyết định thành lập hai trung tâm giao dịch các cổ phiếu ở Th-
ợng Hải và Thâm Quyến, đến năm 1990, do tình hình kinh tế phát triển mạnh nên
quốc vụ viện Trung Quốc đã ra quyết định thành lập hai Sở GDCK trên cơ sở hai
trung tâm nói trên.
- Giai đoạn từ 1992 - nay: là giai đoạn hoàn thiện hệ thống pháp chế. Năm
1992, Quốc vụ viện ban hành một số văn bản pháp qui để quản lý việc phát hành và
kinh doanh chứng khoán trong nhất trong cả nớc.
1.3.1.2. Một số kinh nghiệm của Trung Quốc.
- Cơ quan quản lý cao nhất của TTCK Trung Quốc là ủy ban chứng khoán
Nhà nớc do Quốc vụ viện thành lập, quản lý hai Sở GDCK chính thức ở Thâm Quyến
và Thợng Hải.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Nhà nớc Trung Quốc luôn tôn trọng ý kiến của các chuyên gia cũng nh việc
học tập những nguyên lý căn bản nhất của TTCK quốc tế để trên cơ sở đó xây dựng
TTCK theo đờng lối đã chọn, sao cho phù hợp với thực tiễn và tâm lý của ngời dân
Trung Quốc.
- Các tổ chức tham gia TTCK phải là các định chế của Nhà nớc, do Nhà nớc
thành lập và trực tiếp điều hành, tuyệt nhiên không có sự tham gia của các cá nhân
độc lập. Các tổ chức 100% vốn đầu t nớc ngoài, Công ty liên doanh với nớc ngoài
không đợc phép niêm yết chứng khoán, trừ văn phòng đại diện của TTCK nớc ngoài
kinh doanh cổ phiếu B.

York đã trở thành Thị trờng giao dịch sôi nổi vào bậc nhất trên thế giới.
- TTCK New York rất chú trọng việc phát triển và hoàn thiện hệ thống truyền
đạt các lệnh và tin tức. Nhờ hệ thống truyền tin nhanh chóng mà các chi nhánh hay
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các đại lý của các CTCK Mỹ có thể đảm bảo việc thi hành các lệnh của Nhà đầu t
trong một thời hạn rất ngắn.
- ở Mỹ, hoạt động đầu t có vai trò quan trọng trớc cuộc đại khủng hoảng.
Chính điều này đã làm cho giá cả chứng khoán tăng vọt và làm cho nhà đầu t cố gắng
tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn bằng cách mua và bán một lợng lớn chứng khoán
trong ngắn hạn. Điều này đã bị Nhà nớc ngăn cấm bằng các luật lệ nghiêm ngặt và
bằng các chính sách thuế sau cuộc đại khủng hoảng 1929.
1.3.3. Kinh nghiệm của Thái Lan.
1.3.3.1. Quá trình hình thành và phát triển TTCK Thái Lan.
- Giai đoạn 1961 - 1970: đây là giai đoạn khởi đầu của TTCK Thái Lan với
các nhóm nghiên cứu tìm hiểu Thị trờng. Tháng 7 năm 1962, khai trơng với Sở giao
dịch chứng khoán, đó là một Công ty t nhân. Cũng năm ấy nó đợc sáp nhập và có tên
mới "Công ty TNHH Sở GDCK Băng Cốc". Nhng nó cũng bị đóng cửa sau thời gian
tồn tại ngắn ngủi.
- Giai đoạn từ 1970 đến nay: là giai đoạn hình thành và phát triển nh vũ bão
của TTCK Thái Lan. Năm 1984, Thái Lan thành lập Sở GDCK Thái Lan theo đạo
luật về Sở giao dịch chứng khoán, nó bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 30 tháng 4
năm 1975. Năm 1984, Thái Lan sửa đổi luật về giao dịch chứng khoán, cho phép các
CTCK và các Công ty hợp pháp khác đợc phát hành chứng khoán.
1.3.3.2. Một số kinh nghiệm của Thái Lan.
- Điều kiện để hình thành TTCK là có nền sản xuất hàng hóa phát triển,
kinh tế nhiều thành phần với nhiều doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn lớn cho
sản xuất - kinh doanh chứ không theo ý muốn chủ quan của các nhà lãnh đạo. Hay
TTCK không thể đợc hình thành từ những văn bản pháp luật hành chính đơn thuần.
- Hiện đại hóa các phơng tiện nghiệp vụ, trớc hết là hệ thống máy tính hiện đại

với thời gian, khi TTCK đi vào hoạt động ổn định và phát triển thì có thể nới lỏng
biên độ và từng bớc bãi bỏ quy định này.
- Khi tổ chức hình thành các Sở giao dịch thì Nhà nớc nên tham gia sở hữu
trong cơ cấu vốn của Sở giao dịch. Việc xây dựng Sở giao dịch nên theo hình thức
Công ty cổ phần trong đó có sự tham gia sở hữu trong cơ cấu vốn của Nhà nớc thông
qua hệ thống Ngân hàng Thơng mại hay một số tổ chức khác của Nhà nớc. Điều này
đảm bảo ngăn ngừa sự lộn xộn, không công bằng nhờ hệ thống pháp lý đầy đủ và rõ
ràng. Việc tham gia sở hữu của Nhà nớc sẽ đảm bảo cho Thị trờng luôn đợc ổn định,
giữ vững định hớng phát triển của đất nớc và có sự can thiệp kịp thời của Chính phủ
trong những điều kiện không ổn định. Còn các thành phần kinh tế khác tham gia sở
hữu sẽ đảm bảo tránh cho Thị trờng những yếu tố cứng nhắc trong khâu quản lý điều
hành, mọi quyết định đều đợc Hội đồng quản trị đa ra nhằm đảm bảo mục tiêu và
quyền lợi cho số đông chủ sở hữu.
- Kinh nghiệm các nớc cho thấy, để TTCK hoạt động sôi nổi và có hiệu quả
thì cần phải tăng khả năng cung cấp và nhu cầu mua chứng khoán trên Thị trờng. Để
tăng khả năng cung cấp chứng khoán cho Thị trờng, Nhà nớc cần mở rộng cổ phần
hóa toàn bộ hay từng phần các xí nghiệp quốc doanh nhằm khuyến khích cạnh tranh
và tăng số cổ đông cũng nh tăng số cổ phiếu cung cấp, Nhà nớc có thể thực hiện một
số u đãi về thuế (miễn giảm một phần hay toàn bộ trong một thời gian nhất định).
- Để hoàn thiện và phát triển TTCK thì về lâu dài không thể không có những
biện pháp cụ thể, tích cực để hoàn thiện và nâng cao nghiệp vụ của các CTCK, ngân
hàng thơng mại và các chủ thể khác tham gia trên TTCK . Đây là các chủ thể sẽ đảm
bảo cho TTCK đợc vận hành một cách suôn sẻ, giúp ổn định Thị trờng và tránh
những cuộc khủng hoảng trên TTCK .
- Để phát triển TTCK thì điều quan trọng là phải đảm bảo cho nó một môi
trờng hoạt động lành mạnh, công khai và chặt chẽ. Việc này sẽ giúp tạo sự tin cậy
của nhà đầu t trong và ngoài nớc trong việc tổ chức quản lý TTCK . Vì vậy trong khi
điều hành TTCK thì nhất thiết phải ổn định các mặt kinh tế chính trị, quốc phòng và
các quy định hợp lý và thông qua các tổ chức giám sát thông qua các quy định hợp lý
và thông qua các tổ chức giám sát tài chính; tích lũy các kinh nghiệm chuyên môn

Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.1. Sơ l ợc về sự tham gia của kinh tế Việt Nam trong nền
kinh tế khu vực và quốc tế .
Trong hơn 15 năm đổi mới vừa qua, nớc ta đã có những bớc đi đầu tiên, đã đạt
đợc những thành tựu nhất định trên con đờng hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Nớc
ta đã ký kết hiệp định thơng mại với hơn 60 nớc, đã có hơn 70 nớc và vùng lãnh thổ
đầu t trực tiếp vào Việt Nam với hơn 2.700 dự án đợc cấp giấy phép, 40 tỷ USD vốn
đăng ký. Cùng với vốn FDI, chúng ta còn tiếp nhận một lợng không nhỏ nguồn vốn
qua kênh ODA. Nguồn ODA thực sự có ý nghĩa quan trọng trong phát triển cơ sở hạ
tầng, có phần cứng và phần mềm đối với Việt Nam. Tính ra mức vốn nớc ngoài hiện
nay chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu t xã hội. Tỷ lệ góp vốn của khu vực có vốn đầu
t nớc ngoài trong GDP đều tăng lên qua các năm. Năm 1993 đạt 3,6%, đến năm 1998
đạt 9%, năm 1999 đạt khoảng 10,5%. Nguồn thu ngân sách từ khu vực có vốn đầu t
nớc ngoài đạt 370 triệu USD năm 1998.
Cùng với mở cửa thu hút vốn nớc ngoài, gia tăng xuất khẩu, các doanh nghiệp
Việt Nam cũng đã mạnh dạn tham gia đầu t ra nớc ngoài, kể cả vào những nớc phát
triển nh Nhật Bản. Tính cho đến năm 2001, Việt Nam đã có 27 dự án đầu t ra nớc
ngoài với tổng số khoảng 8 triệu USD, tập trung chủ yếu trong lĩnh vực chế biến thực
phẩm, thơng mại, dịch vụ và xây dựng... Đồng thời trong những năm 90, chúng ta đã
đăng ký các hợp đồng đa 7 vạn lao động ra nớc ngoài làm việc.
Nớc ta đã trở thành thành viên và có quan hệ với các tổ chức tài chính lớn của
quốc tế và khu vực nh IMF (Quỹ tiền tệ thế giới); WB (Ngân hàng thế giới), ADB
(ngân hàng phát triển Châu á), đã nhận đợc từ các tổ chức tài chính này những
khoản vay u đãi hàng tỉ USD để thực hiện nhiều dự án lớn, và nhận đợc viện trợ hàng
trăm triệu USD hỗ trợ kỹ thuật cho nhiều lĩnh vực (cải cách hệ thống thuế, hệ thống
ngân hàng, hệ thống thống kê). Ta đã ký hiệp định khung về quan hệ kinh tế với liên
minh Châu Âu (EU) do đó đã mở rộng thêm đợc thị trờng, đẩy mạnh đợc xuất khẩu
hàng hóa sang các nớc này. Nớc ta đã gia nhập hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
(ASEAN) năm 1995. Ta đã tham gia khu vực mậu dịch t do ASEAN (AFTA) cam kết
thực hiện chơng trình u đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) loại bỏ hàng rào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status