Hiệp định về chống bán phá giá của wto và một số giải pháp chống bán phá giá của việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 64

Kho¸ luËn tèt nghiÖp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay cùng với quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại là yêu
cầu bức thiết đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường mở cửa, bang giao kinh tế
thông qua đàm phán cắt giảm thuế quan, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan
cản trở thương mại,... Theo đó cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn và các công ty kinh
doanh các hàng hoá này sẽ chẳng ngại ngần sử dụng cả các biện pháp cạnh
tranh không lành mạnh, trong đó có việc bán phá giá hàng hoá của mình ra thị
trường nước ngoài nhằm tiêu thụ được nhiều sản phẩm. Điều này thực sự đã
gây ra nhiều thiệt hại cho ngành sản xuất của những nước nhập khẩu. Tuy
nhiên, trong khi nhiều nước trên thế giới tiến hành chống bán phá giá mạnh
mẽ để đối phó với tình trạng này thì từ lâu chúng ta lại bỏ mặc cho hiện tượng
bán phá giá tiếp diễn tại Việt Nam mà không chịu bất cứ sự kiểm soát nào.
Đây thực sự là vấn đề bất cập gây nhức nhối cần nhanh chóng được khắc
phục. Để giải quyết vấn đề bất cập này đòi hỏi phải nghiên cứu và đưa vào áp
dụng biện pháp chống bán phá giá để có thể sử dụng công cụ mà WTO cho
phép (được tổ chức này công khai hoá trong bản Hiệp định chống bán phá giá
của nó năm 1995) để bảo hộ sản xuất trong nước và cũng là để tạo ra môi
trường cạnh tranh lành mạnh hơn trong thương mại. Chính vì vậy mà em chọn
đề tài "Hiệp định về chống bán phá giá của WTO và một số giải pháp
chống bán phá giá của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế" với mong muốn có thể góp phần làm khởi động một chương trình chống
bán phá giá hiệu quả ở Việt Nam trong một tương lai gần.
2. Mục đích của đề tài
Giới thiệu những vấn đề cơ bản về Hiệp định chống bán phá giá của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), kinh nghiệm chống bán phá giá của một
số nước, cộng đồng kinh tế tiêu biểu đã và mới là thành viên của WTO. Từ
1
TrÇn ThÞ BÝch Thñy - A11K38D FTU
đó, trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác này ở Việt Nam đề xuất một số

Từ xưa cho đến mãi gần đây, người ta vẫn cho rằng trong buôn bán để có
lợi nhuận thì dĩ nhiên doanh thu phải cao hơn chi phí bỏ ra. Muốn vậy, giá
bán hàng phải lớn hơn chi phí giá thành. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay có
hiện tượng một nước xuất khẩu sản phẩm thấp hơn giá bán trên thị trường nội
địa, thậm chí thấp hơn giá thành. Vậy, đó là hiện tượng gì? Vì sao lại tồn tại
hiện tượng này?... Tất cả sẽ được làm sáng tỏ ở mục 1.1 chương này.
1.1. Khái quát chung về bán phá giá
1.1.1. Khái niệm về bán phá giá
Có nhiều khái niệm khác nhau về bán phá giá chẳng hạn như: bán phá giá
hàng hoá là xuất khẩu hàng hoá theo giá cả thấp hơn hoặc theo giá rẻ mạt.
Định nghĩa này có thể gây hiểu nhầm vì bán phá giá hàng hoá không đồng
nghĩa với hàng hoá bán rẻ- một nước có thể xuất khẩu hàng hoá tới nước
khác, bán với giá rẻ hơn hàng hoá cùng loại đang bán trên thị trường nước
nhập khẩu, nếu giá bán không thấp hơn giá bán của hàng hoá đó trên thị
trường nước xuất khẩu thì hành động đó không phải là bán phá giá. Hay cũng
có khái niệm cho rằng: bán phá giá là bán hàng ra nước ngoài với giá thấp
hơn giá bán tại thị trường nội địa. Theo các cách hiểu này thì muốn xác định
được hành vi bán phá giá người ta cần phải xác định giá nội địa. Tuy nhiên,
việc xác định giá nội địa đôi khi không chính xác vì trong một số trường hợp,
giá bán tại thị trường nội địa của công ty còn nhỏ hơn chi phí sản xuất.
Ngày nay, khái niệm về bán phá giá ngày càng được phát triển hoàn chỉnh
hơn. Người ta cho rằng bán phá giá là bán hàng ra nước ngoài với giá thấp
hơn chi phí sản xuất. Quan điểm này ngày càng được nhiều người thừa nhận.
1.1.2. Mục tiêu và điều kiện thực hiện việc bán phá giá
3
TrÇn ThÞ BÝch Thñy - A11K38D FTU
1.1.2.1. Mục tiêu và nguyên nhân
Hành động bán phá giá xảy ra là nhằm đạt được một số mục tiêu cụ thể và
do một số nguyên nhân dẫn đến hành động đó. Dưới đây là một số nhóm mục
tiêu và nguyên nhân.

khẩu, triệt tiêu được sự cạnh tranh của hàng hoá nội địa, thì các hãng nước
ngoài sẽ tìm cách thao túng thị trường để thu lợi nhuận tối đa.
1.1.2.1.2. Bán phá giá nhằm đạt mục tiêu chính trị, thao túng các nước khác
Chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm đến xuất khẩu gạo, bởi vì cạnh tranh giá
gạo gây ảnh hưởng lớn đến việc đạt các mục tiêu quan trọng khác. Mỹ sẵn
sàng bỏ ngân sách mua phần lớn số gạo trên thị trường thế giới rồi bán phá
giá. Điều này làm cho nhiều nước xuất khẩu gạo phải lao đao và sẽ phải chịu
vòng phong toả của Mỹ. Chẳng hạn, năm 1998 giá xuất khẩu gạo của Mỹ vào
khoảng 400 USD/tấn, thậm chí 800 USD/tấn, và nước này cũng sẵn sàng bán
ra thị trường thế giới chỉ bằng 60-70%, thậm chí 40% mức giá mua. Mức này
thấp hơn nhiều so với giá thành của chính nông dân Mỹ sản xuất ra. Như vậy,
Mỹ có thể sẵn sàng bỏ ra 700-800 triệu USD/năm để trợ giá xuất khẩu gạo,
nhằm thực hiện mục tiêu của mình. Chính vì điều này mà mặc dù sản lượng
gạo xuất khẩu của Mỹ hàng năm thấp, nhưng Mỹ lại thao túng giá gạo trên thị
trường thế giới.
1.1.2.1.3. Do có các khoản tài trợ của Chính phủ nước ngoài
Chính phủ các nước phương Tây coi tài trợ là con đường ngắn nhất để đạt
được sự cân bằng kinh tế và đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách tối
ưu. Chính sách tài trợ nhằm đạt được hai mục đích sau: (i) duy trì và tăng
cường mức sản xuất xuất khẩu; (ii) duy trì mức sử dụng nhất định đối với các
yếu tố sản xuất như lao động và tiền vốn trong nền kinh tế. Các khoản tài trợ
có thể được cấp cho người sản xuất cũng như cho người tiêu dùng, nhưng về
mặt tác động kinh tế thì chúng đều như nhau vì đều đưa đến những hệ quả
kinh tế tương tự.
Các khoản tài trợ cho công nghiệp
5
TrÇn ThÞ BÝch Thñy - A11K38D FTU
Những hình thức tài trợ chủ yếu là: Trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng ưu
đãi, sự tham gia của chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như hỗ trợ
xuất khẩu.

- Tham gia của chính phủ vào chi phí kinh doanh
Sự tham gia của chính phủ vào chi phí kinh doanh thường là 15% tổng tài
trợ trở xuống. Từ thập kỷ 80 đến nay, phần sở hữu nhà nước trong hoạt động
kinh doanh có xu hướng giảm. Phương pháp này được sử dụng để bù đắp
những tổn thất trong những lĩnh vực kinh tế riêng đang suy thoái.
Khả năng tài trợ của chính phủ
Hiện nay, tài trợ cho công nghiệp vẫn được chính phủ các nước phương
Tây duy trì ở mức khá cao. Ví dụ, ở các nước thuộc EU, trung bình mức tài
trợ là gần 9% tổng chi tiêu của chính phủ, mặc dù mức chênh lệch giữa các
nước là khá lớn, từ 1,2% ở Mỹ đến 14% ở Ý.
Trên thực tế, các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công nghệ mới,
trang bị máy và thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp cho các ngành mới gia nhập thị
trường và đẩy mạnh phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn.
Bảng 1: Phương hướng sử dụng các khoản tài trợ cho công nghiệp (%)
Nước Nghiên
cứu khoa
học kỹ
thuật và
phát triển
Kinh
doanh nhỏ
và vừa
Phát triển
cơ sở hạ
tầng
Giúp đỡ
cho những
ngành
riêng biệt
Phát triển

14,9
46,6
22,4
66,7
73,3
43,0
63,7
80,3
71,1
27,3
19,0
19,3
2,4
22,6
17,0
5,2
1,4
17,1
44,7
Nguồn: Ủy ban kinh tế Châu Âu, năm 1998
7
TrÇn ThÞ BÝch Thñy - A11K38D FTU
1.1.2.1.4. Một nước có thể do nhập siêu lớn, cần phải có ngoại tệ để bù đắp
cho thiếu hụt này. Khi đó có thể áp dụng công cụ bán phá giá để giải
quyết vấn đề thiếu hụt ngoại tệ.
1.1.2.1.5. Bán phá giá cũng có thể xảy ra trong trường hợp một nước có quá
nhiều hàng tồn kho không thể giải quyết theo cơ chế giá bình thường
Trong nền kinh tế hàng hoá trước đây, khi gặp khủng hoảng thừa, các chủ
doanh nghiệp thường chất đống hàng hoá của mình, châm lửa đốt, hoặc đổ
xuống biển để giữ giá, nhất định không bán phá giá. Còn hiện nay, ở các nước

xuất khẩu để bán phá giá ra nước ngoài. Trung Quốc đã bị nhiều nước lên án
về việc này.
1.1.2.1.7. Ở nước ta còn có hiện tượng một số công ty kinh doanh hàng nhập
khẩu trả chậm, đã dùng nguồn vốn nước ngoài để kinh doanh mặt hàng khác.
Do đó, họ tìm cách bán phá giá trên thị trường, có lúc bán ồ ạt chịu lỗ 10-20%
so với giá vốn nhập khẩu để nhanh chóng thu hồi vốn, đi buôn mặt hàng khác
có lợi nhuận cao hơn, không những đủ bù số lỗ hàng nhập trả chậm mà còn
“lãi đậm”. Năm 1995, ba mặt hàng quan trọng đã bị bán phá giá: xăng dầu,
thép xây dựng và phân bón. Cuối năm 1995, giá phân ure Inđônêxia nhập vào
Việt nam đang ở mức rất cao (260-265 USD/tấn CIF cảng Sài Gòn), nhưng
giá bán buôn cả tàu tại Tân Quy, Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh liên tục
giảm xuống chỉ còn 2.425 đồng/kg.
1.1.2.1.8. Hàng ngoại nhập lậu
Với lợi nhuận siêu ngạch có được từ trốn thuế nhập khẩu, hàng ngoại sẽ
điều tiết và chiếm lĩnh được thị trường với giá cạnh tranh so với hàng sản xuất
trong nước. Chẳng hạn, mặt hàng mỹ phẩm, các chế phẩm để trang điểm, các
chế phẩm dưỡng da chịu thuế nhập khẩu là 20-50%, nếu ai trốn được khoản
thuế này, người đó có quyền quyết định giá cạnh tranh áp đảo và giành được
lợi nhuận siêu ngạch để rồi loại khỏi thị trường các doanh nghiệp làm ăn chân
chính.
1.1.2.2. Điều kiện thực hiện
9
TrÇn ThÞ BÝch Thñy - A11K38D FTU
Điều kiện để bán phá giá một loại hàng hoá nào đó là phải lũng đoạn được
mặt hàng đó ở thị trường trong nước để tránh nguồn hàng nhập khẩu trở lại.
Bán phá giá hàng hoá thường gây nên những tổn thất cho nhà xuất khẩu do
việc bán giá thấp hơn tại thị trường nội địa. Những thua thiệt do bán phá giá
thường được bù đắp bằng các nguồn sau đây:
(i) Có sự hỗ trợ hữu hiệu của chính phủ đối với sản phẩm bán phá
giá thông qua khuyến khích sự thoả thuận giữa các doanh

trị. Ở đây, doanh nghiệp sử dụng biện pháp cạnh tranh không lành mạnh này
để dễ dàng loại bỏ các đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường hòng độc chiếm
nó.
Loại hành động này gọi là phá giá độc quyền.
Phá giá độc quyền được xếp vào dạng phá giá chiến lược và phá giá có
tính chất cướp bóc, có hại cho nền kinh tế. Đứng về quan điểm kinh tế thì cần
có những biện pháp trả đũa hợp pháp đối với hai loại phá giá độc quyền này.
Phá giá có tính chất cướp bóc: Mục đích của loại phá giá này là loại bỏ
những đối thủ cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu để nắm lấy độc quyền và
áp đặt những giá loại cao. Điều này gây thiệt hại cho cả các ngành của khu
vực lẫn những ngành ngoại vi, và người tiêu dùng cuối cùng.
Phá giá chiến lược: Loại phá giá này có thể xảy ra khi quá trình sản xuất
một sản phẩm là đối tượng của nền kinh tế có quy mô lớn, người ta làm như
thế nào để có một thị trường nội địa được bảo hộ và có khối lượng lớn sản
phẩm có lợi thế về giá xuất khẩu. Dựa vào thị trường gốc của mình, một số
công ty có thể bán với giá hạ giả tạo trên thị trường nước ngoài. Để bù lại,
việc tăng khối lượng sản xuất giúp cho họ giảm được chi phí sản xuất. Cũng
như phá giá có tính chất cướp bóc, phá giá chiến lược có thể trong thời han
ngắn loại bỏ được những đối thủ cạnh tranh trong nước của thị trường xuất
khẩu.
1.1.3.2. Phá giá phi độc quyền
11
TrÇn ThÞ BÝch Thñy - A11K38D FTU
Phá giá phi độc quyền bao gồm một tổng thể những loại hình phá giá
không gây nguy hiểm nào cho cạnh tranh và phúc lợi xã hội. Trong trường
hợp này phá giá vừa có lợi cho người tiêu dùng và những nhà sản xuất sử
dụng sản phẩm bán phá giá, vừa góp phần tăng cường cuộc chơi bình thường
của cạnh tranh. Không có hàng rào cản trở đi vào thị trường có liên quan
khiến cho những đối thủ cạnh tranh không thể hưởng được độc quyền, phi độc
quyền hoá. Phá giá phi độc quyền gồm:

Số lượng nhập khẩu bị lên án phải chiếm một thị phần lớn và có tỷ lệ tăng
nhanh.
Các nước xuất xứ của những sản phẩm xuất khẩu bị lên án phải là không
nhiều, và số các nước này phải ít hơn các nước so sánh về kinh tế.
Những hàng rào thuế quan mạnh để tác động đến thị trường xuất khẩu sản
phẩm phá giá. Ngoài những tác động khác, hàng rào thuế quan có thể tạo
ra thêm những chi phí về hạ tầng cơ sở, về nghiên cứu phát triển và
marketing.
Nếu ít nhất một trong ba điều kiện này chưa được xác định thì trong
trường hợp có phá giá phi độc quyền sẽ không có hại gì đến kinh tế của nước
nhập khẩu. Lúc đó những biện pháp đấu tranh bằng chống bán phá giá sẽ
không biện minh được về kinh tế mà ngược lại có thể gây thiệt hại cho cạnh
tranh, cho phúc lợi của người tiêu dùng và cho cạnh tranh của ngành đang sử
dụng sản phẩm này.
Xác định các loại phá giá bằng những chỉ số kinh tế:
Trên cơ sở điều kiện nêu trên, người ta đưa ra một số chỉ tiêu kinh tế để
xác định các loại phá giá, và tùy theo hậu quả gây ra đối với những lợi ích
kinh tế để có những biện pháp trả đũa đứng trên quan điểm vì phúc lợi xã hội.
Có bốn tiêu chí đặc biệt cần thiết đã nêu lên tính chất độc quyền của những
loại hình phá giá:
Tiêu chí đầu tiên là số lượng sản phẩm nhập khẩu bị bán phá giá phải
chiếm một thị phần lớn. Tham khảo những thủ tục chống tập trung hoá trong
khuôn khổ của luật cạnh tranh, nhìn chung người ta cho rằng một công ty
13
TrÇn ThÞ BÝch Thñy - A11K38D FTU
không thể tiến hành một chiến lược độc quyền vượt quá 20% thị phần. Do đó
tiêu chí đầu tiên này được lượng hoá bằng công thức sau:
( )
2,01
5

30
2
+ 20
2
+20
2
= 2600). Chỉ số HHI quan tâm đến quy mô v sà ự phân bố tương xứng của các hãng trong
một thị trường. Chỉ số n y tià ến tới 0 khi một thị trường bao gồm một lượng lớn các hãng với quy mô
tương đối tương xứng với nhau. Chỉ số HHI tăng cả khi số hãng trong thị trường giảm v khi sà ự chênh
lệch về quy mô giữa các hãng tăng lên. Chỉ số HHI c ng cao thì mà ức độ tập trung của thị trường trong
một số lượng nhỏ các hãng c ng cao. Nhà ững thị trường m trong à đó 1000 <= HHI <= 1800 thì được coi là
có mức độ tập trung vừa phải, HHI > 1800 thì được coi l thà ị trường có mức độ tập trung cao, HHI <
1000 thì mức độ tập trung thấp. Các giao dịch l m cho chà ỉ số HHI tăng trên100 điểm trên thị trường tập
trung thì có cơ sở để cho rằng có khả năng l m tà ăng mối đe doạ về độc quyền.
14
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
phí lớn cho nghiên cứu phát triển bố trí mạng lưới phân phối, chi phí cho
quảng cáo quá cao. Đương nhiên có những khả năng nhất định trong việc
nhận được những thông tin này.
Không phải lo ngại gì về các nhà sản xuất nước ngoài chiếm quá nhiều thị
phần không mang tính chất độc quyền. Trong trường hợp này đánh thuế
chống bán phá giá là có hại vì có xâm phạm đến cạnh tranh và các tập thể
phải trả giá vì những biện pháp trả đũa. Ngược lại, khi những chỉ số kinh tế
cho thấy rằng phá giá có thể dẫn tới việc các nhà sản xuất nước ngoài nắm
độc quyền thị trường, thì những biện pháp đấu tranh nhằm ngăn chặn thiệt hại
được coi là có thể biện minh về kinh tế. Tuy nhiên, cần phải tiến hành nghiên
cứu sâu hơn trong các giai đoạn sau để xác định được thực tế của phá giá.
Những điều kiện hay các chỉ số kinh tế trên đây chỉ là cơ sở ban đầu để
phỏng đoán xem liệu việc phá giá có đem lại thiệt hại cho nền kinh tế của
những nước nhập khẩu không. Đây là tiền đề để trong giai đoạn thứ hai sẽ

chống bán phá giá đều có kết luận dẫn đến việc áp dụng thuế chống bán phá
giá. Số lượng lớn các cuộc điều tra chống bán phá giá trên cũng phần nào cho
thấy biện pháp phá giá để chiếm lĩnh thị trường, tối đa hoá lợi nhuận đã được
sử dụng khá nhiều trong chiến lược kinh doanh của các công ty, tập đoàn, hay
của một số nước riêng biệt nào đó.
Trên thực tế, các nước áp dụng thuế chống bán phá giá thường bị nước
xuất khẩu hàng hoá là đối tượng chịu thuế chống bán phá giá khởi kiện đến
WTO, cụ thể là Cơ quan giải quyết tranh chấp. Các vụ việc giải quyết tranh
chấp về việc bán phá giá và chống bán phá giá luôn là vấn đề phức tạp và gây
nhiều tranh cãi. Đôi khi, kết quả thường dẫn đến các hành vi trả đũa trong
thương mại, gây ra rất nhiều mâu thuẫn, ảnh hưởng xấu đến tình hình thương
mại chung trên thế giới. Vì vậy, các quốc gia thường rất thận trọng khi quyết
định việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu bị bán
phá giá vào nước mình.
16
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trong phần này sẽ tập trung trình bày thực trạng các cuộc điều tra chống
bán phá giá và việc áp dụng thuế chống bán phá giá ở các khu vực, các nước
khác nhau trên thế giới để có cái nhìn bao quát về vấn đề bán phá giá hàng
hoá hiện nay.
Căn cứ vào số liệu thống kê của WTO từ 01/01/1995 đến 31/12/2002, xu
hướng điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế giới có thể được
biểu diễn dưới biểu đồ sau:
BiÓu ®å 1: Xu h­íng ®iÒu tra vµ ¸p dông thuÕ chèng b¸n
ph¸ gi¸ trªn thÕ giíi
157
224
243
255
355

biến động, nó không tỷ lệ thuận với số cuộc điều tra chống bán phá giá như
mọi người thường nghĩ. Chẳng hạn, trong năm 2002 trong khi số cuộc điều tra
chống bán phá giá nói chung giảm mạnh nhưng số lần áp dụng thuế chống
bán phá giá lại đạt đến mức cao nhất trong giai đoạn 1995-2002; hay trong
năm 2001 trong khi số cuộc điều tra chống bán phá giá lên đến mức cao nhất
giai đoạn 1995-2002 thì số lần áp dụng thuế chống bán phá giá hay nói cách
17
Trần Thị Bích Thủy - A11K38D FTU
khỏc l s cuc iu tra cú kt lun cui cựng rng hng hoỏ b bỏn phỏ giỏ li
gim mnh.
ú l thc trng chung bỏn phỏ giỏ hng hoỏ trờn th gii. Sau õy ta s i
sõu phõn tớch tng nhúm nc c th. Theo cỏc tiờu chớ phõn loi cỏc nc
phỏt trin v ang phỏt trin ca Liờn hp quc, ta cú biu so sỏnh sau v
s ln ỏp dng thu chng bỏn phỏ giỏ ca hai nhúm nc ny (Biu 2).
Biểu đồ 2: So sánh số lần áp dụng thuế chống bán
phá giá ở các nước phát triển và đang
phát triển
48
51
73
102
124
128
80
134
70
33
39
60
59

lượng các cuộc điều tra chống bán phá giá đối với các mặt hàng đó. Điều đó
có nghĩa là một khi một mặt hàng nào đó là đối tượng của điều tra chống bán
phá giá thì xác suất mặt hàng đó bị áp dụng thuế chống bán phá giá là rất cao.
Cho nên, để xác định mặt hàng nào có nhiều nguy cơ bị điều tra chống bán
phá giá nhiều nhất cũng như mặt hàng nào ít chịu nguy cơ bị điều tra chống
bán phá giá nhất, chúng ta sẽ cùng xem xét trong bảng 2 dưới đây.
Bảng 2: Các cuộc điều tra chống bán phá giá theo mặt hàng
giai đoạn 1995-2002
Mặt hàng
Năm
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
Tổng
Kim loại thường và
các sản phẩm từ
chúng
43 39 63 103 110 107 136 86 687
Hoá chất 31 38 21 24 75 62 61 87 399
Nhựa và cao su 20 25 36 32 39 21 56 29 258
Máy móc, thiết bị
cơ khí, đồ điện
24 34 34 10 28 30 25 9 194
Dệt may 1 23 8 28 34 17 26 5 142
Bột giấy, bìa giấy 3 14 34 4 18 4 7 7 91

từ da
0 3 0 0 0 0 0 0 3
Ngọc trai, đá quý 0 0 0 0 0 0 1 0 1
Tổng 157 224 243 255 355 288 362 276 2160
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo của Ban Thư ký WTO và Ủy ban chống bán phá giá WTO
Bảng trên cho thấy 4 nhóm mặt hàng bị điều tra chống bán phá giá nhiều
nhất là kim loại cơ bản và các sản phẩm từ chúng (chiếm 31,81% số vụ điều
tra), hoá chất (18,47%), nhựa và cao su (11,94%), máy móc thiết bị cơ khí, đồ
điện (8,98%). Riêng 4 nhóm mặt hàng này đã chiếm tới 71,20% số vụ điều tra
bị áp dụng thuế chống bán phá giá. Điều này chứng tỏ các vụ điều tra chống
bán phá giá giai đoạn 1995-2002 không phân bố đều ở các mặt hàng mà có sự
tập trung cao vào một số ít mặt hàng- đây là những mặt hàng rất nhạy cảm với
các vụ điều tra chống bán phá giá. Và cũng chính 4 nhóm mặt hàng này cũng
bị áp dụng thuế chống bán phá giá nhiều nhất. Điều đó phần nào nói lên một
điều rằng trên thế giới các nước có xu hướng tập trung bán phá giá những mặt
hàng này sang các nước khác.
1.2.2. Thực trạng bán phá giá ở các nước phát triển
Kể từ thời điểm đầu năm 1995 cho đến cuối năm 2002, có 10 nước phát
triển đã tiến hành 924 cuộc điều tra chống bán phá giá chiếm 42,78% số cuộc
điều tra chống bán phá giá trên thế giới giai đoạn này được thể hiện ở bảng 3.
Bảng 3: Các cuộc điều tra chống bán phá giá do các nước phát triển tiến
hành giai đoạn 1995-2002
20
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Nước
Năm
1995
1996
1997
1998

2001
2002
Tổng
Mỹ 33 11 20 16 24 32 33 23 192
EU 14 17 11 25 18 41 13 25 164
Canada 7 0 7 10 10 14 19 0 67
Australia 1 1 1 7 6 5 10 9 40
Thổ Nhĩ Kỳ 11 0 0 0 1 8 2 11 33
New Zealand 3 4 0 1 0 1 2 0 11
Ba Lan 0 0 0 1 0 6 0 0 7
Nhật Bản 1 0 0 0 0 0 0 2 3
Latvia NA NA NA 0 0 0 0 1 1
Tổng 70 33 39 60 59 107 79 71 518
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo của Ban Thư ký WTO và Ủy ban chống bán phá giá WTO
21
TrÇn ThÞ BÝch Thñy - A11K38D FTU
Cũng trong thời gian này, hàng xuất khẩu của 33 nước phát triển (EU gồm
15 nước và cộng đồng EC được coi như một quốc gia) lại là đối tượng của
786 cuộc điều tra chống bán phá giá (xem bảng 5).
Bảng 5: Các cuộc điều tra chống bán phá giá đối với các nước phát triển
giai đoạn 1995-2002
Nước
Năm
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001

Nước
Năm
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
Tổng
EU 17 6 10 38 39 28 22 29 189
Mỹ 8 4 9 11 8 13 4 10 67
Nhật Bản 5 6 4 7 10 19 8 5 64
Ukraine 5 0 3 5 7 8 6 4 38
Turkey 1 1 1 2 4 3 3 3 18
Rumani 2 1 1 2 2 4 1 3 16
Ba Lan 1 1 1 1 4 2 4 1 15
Bulgari 1 0 1 0 2 1 1 2 8
Canada 1 0 0 2 1 0 0 4 8
Belarus 0 1 0 0 0 3 1 2 7
Hungary 0 1 0 0 2 2 0 1 6
Australia 0 0 0 1 2 2 0 0 5
Latvia 0 0 0 1 1 0 2 0 4
Lithuania 0 0 0 0 1 1 0 1 3
Estonia 0 0 0 0 1 0 0 1 2
NewZealand 0 0 0 1 0 0 1 0 2
Na Uy 0 0 1 0 0 0 0 0 1
Tổng 41 21 31 71 84 86 53 66 453
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo của Ban Thư ký WTO và Ủy ban chống bán phá

Nhật Bản thì tương đối đặc biệt khi chỉ áp dụng thuế chống bán phá giá 3
lần (tất cả đều là đối với nhóm mặt hàng dệt may và các sản phẩm dệt may)
nhưng lại 34 lần bị áp dụng thuế chống bán phá giá (trong đó nhóm sản phẩm
của Nhật bị áp dụng loại thuế này nhiều nhất là kim loại cơ bản (chiếm tới
40,63% số vụ bị áp dụng loại thuế này).
1.2.3. Thực trạng bán phá giá ở các nước đang phát triển
Trong giai đoạn từ đầu năm 1995 đến cuối năm 2002, 29 nước đang phát
triển đã tiến hành 1.236 cuộc điều tra chống bán phá giá và có 740 lần áp
dụng thuế chống bán phá giá.
Bảng 7: Các cuộc điều tra chống bán phá giá do các nước đang phát triển
tiến hành giai đoạn 1995-2002
24
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Nước
Năm
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
Tổng
Ấn Độ 6 21 13 27 65 41 79 79 331
Argentina 27 22 14 8 24 45 26 14 180
Nam Phi 16 33 23 41 16 21 6 4 160
Brazil 5 18 11 18 16 11 17 9 105
Mexico 4 4 6 12 11 7 5 10 59
Hàn Quốc 4 13 15 3 6 2 4 10 57

Trích đoạn HIỆP ĐỊNH VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO 2.1 Khỏi quỏt chung về Hiệp định chống bỏn phỏ giỏ của WTO Tiờu chớ ỏp dụng Giai đoạn chuẩn bị trước khi bắt đầu điều tra Chớnh phủ của nước xuất khẩu phải được thụng bỏo và nhận được tài liệu về đơn kiện trước khi bắt đầu cuộc điều tra. Giới hạn thời gian cho phộp đối với cỏc bờn liờn quan để đưa ra cỏc ý kiến riờng cho họ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status