Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 27

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá là xu thế phát triển khách quan, là đặc điểm nổi trội của hoạt
đông kinh tế quốc tế hiện nay. Do được thừa hưởng những thành tựu tiên tiến
của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất quốc tế
đã có những bước thay đổi cách mạng, mà hệ quả trực tiếp của nó là làm xuất
hiện kinh tế tri thức. Đến lượt mình, sự phát triển của lực lượng sản xuất trên
thế giới đã đưa lại những thay đổi mới trong tương quan kinh tế thế giới và
những thay đổi này mang tính chất quốc tế trong các quan hệ kinh tế giữa các
nước. Từ đây, tính toàn cầu hoá trong hoạt động kinh tế của các nước trên thế
giới là một tất yếu. Các nước muốn phát triển nền kinh tế của mình, không thể
không tính đến tính toàn cầu của nền kinh tế quốc tế...
Việt Nam tuy còn nhiều khó khăn nhưng cũng không nằm ngoài tính khách
quan của xu thế hội nhập thế giới. Tuy nhiên để hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực, nước ta vừa đứng trước những cơ hội lớn lại vừa đứng trước những thách
thức lớn như vốn; sức ép cạnh tranh; thể chế chính sách và việc cải cách hành
chính quốc gia; hạn chế về khoa học công nghệ... trong đó các yếu tố về nguồn
nhân lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng, là một trong những thách thức lớn nhất
trong quá trình hội nhập của nước ta.
Thực vậy, trong thời đại ngày nay khi mà khoa học và công nghệ đã có
những bước nhảy vọt, kinh tế tri thức sẽ chiếm vị trí ngày càng lớn trong quá
trình phát triển. Với hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong mỗi
sản phẩm làm ra con người đang ngày càng tỏ rõ vai trò quyết định của mình
trong tiến trình phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại. Để hoà nhập vào nền
kinh tế khu vực và thế giới thì nước ta phải có được một nguồn nhân lực có đủ
sức đáp ứng được ác yêu cầu của trình độ phát triển của thế giới, của thời đại.
Đặc biệt trong bối cảnh khi mà nền kinh tế nước ta còn nghèo thì nguồn nhân
lực đóng vai trò then chốt cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhằm làm sáng tỏ hơn thực trạng nguồn nhân lực nước ta trong tiến trình

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NNL được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng NNL
được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng NNL. Các chỉ tiêu
này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân
số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng
NNL càng lớn và ngược lại. Về chất lượng, NNL được xem xét trên các mặt
trình độ văn hoá, trình độ sức khoẻ, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất...
2. Phân loại NNL.
2.1. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành.
+ NNL có sẵn trong dân số. Bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ
tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay
không làm việc.
+ NNL tham gia vào hoạt động kinh tế. Là số người có công ăn việc làm,
đang hoạt động trong các ngành kinh tế và văn hoá của xã hội.
+ NNL dự trữ. Bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động, nhưng vì
các lý do khác nhau, họ chưa có công ăn việc làm ngoài xã hội.
2.2. Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận NNL tham gia vào nền sản xuất.
+ Bộ phận lao động chính. Là bộ phận nhân lực nằm trong độ tuổi lao động
và có khả năng lao động.
+ Bộ phận nguồn lao động phụ. Là bộ phân dân cư nằm ngoài độ tuổi lao
động có thể và cần phải tham gia vào nền sản xuất.
2.3. Căn cứ vào trạng thái có việc làm hay không.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Lực lượng lao động. Bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người thất
nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm.
+ Nguồn lao động. Bao gồm những người thuộc lực lượng lao động và
những người thất nghiệp song không có nhu cầu tìm việc làm
(

2
)
: Gi¸o tr×nh Kinh tÕ Quèc tÕ
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Tính khách quan của Hội nhập kinh tế quốc tế.
Trước đây, tính chất xã hội hoá của quá trình sản xuất chủ yếu mới lan toả
bên trong phạm vi biên giới của từng quốc gia, nó gắnc các quá trình sản xuất,
kinh doanh riêng rẽ với nhau, hình thành các tập đoàn kinh tế quốc gia và làm
xuất hiện phổ biến các loại hình công ty cổ phần trong nền kinh tế quốc gia.
Qua đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đã có sự thay đổi đáng kể, dần hình
thành vốn lớn cho sản xuất kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn. Tình hình này
càng đòi hỏi sự tham gia ngày càng lớn của chính phủ các quốc gia có nền kinh
tế phát triển. Bởi lẽ, các quốc gia này là những quốc gia có thế mạnh về vốn,
công nghệ, trình độ quản lý v.v. Ngày nay, một mặt do trình độ phát triển cao
của lực lượng sản xuất làm cho tính chất xã hội hoá của chính nó càng vượt ra
khỏi phạm vi biên giới quốc gia, lan toả sang các quốc gia khu vực và thế giới
nói chung và mặt khác, tự do hoá thương mại cũng đang trở thành xu hướng
twts yếu và được xem là nhân tố qun trọng thuc đẩy buôn bán giao lưu giữa các
quốc gia, thúc đẩy buôn bán giao lưu giữa các quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và nâng cao mức sống của mọi quốc gia. Chính vì vậy, hầu hết các quốc
gia trên thế giới theo định hướng phát triển của mình đều điều chỉnh các chính
sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dõ bỏ các rào cản thương mại, tạo
điều kinệ tho việc lưu chuyển các nguồn lực và hàng hoá tiêu dùng giữa các
quốc gia ngày càng thuận lợi hơn, thông thoáng hơn.
(3)
Hội nhập kinh tế là tất yếu bởi lẽ bất kỳ một quốc gia nào dù giàu có, phát
triển đến đâu cũng không thể tự mình đáp ứng được tất cả các nhu cầu của
chính mình. Đặc biệt trong thời đại ngày nay khi mà hoạt động của các quốc gia
không còn bó hẹp trong ranh giới lãnh thổ của mình mà vươn rộng ra nhiều

đổi. Theo các lý thuyết gần đây, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và
bền vững cần dựa vào ba yếu tố cơ bản là áp dụng công nghệ mới, phát triển kết
cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó yếu tố và
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cũng là động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là
con người. Theo tổ chức Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), nhóm yếu tố lao
động là một trong 8 nhóm yếu tố quan trọng nhất quyết định năng lực cạnh
tranh của một quốc gia.
Con người vừa là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần vừa la
mục tiêu, đối tượng hướng tới của qúa trình phát triển, là trung tâm của sự phát
triển. Thực tế đã chứng minh được vai trò quyết định đó của con người trong
phát triển kinh tế. Trước đây, Nhật Bản là một nước khan hiếm tài nguyên, chịu
sự khắc nghiệt của tự nhiên, nghèo nàn và lạc hậu, chỉ nhờ sức mạnh nguồn
nhân lực đáng khâm phục của mình, nước Nhật đã vươn lên thành một cường
quốc kinh tế trên thế giới.
Nền kinh tế ngày nay là nền kinh tế tri thức, là nền kinh tế dựa trên cơ sở
của công nghệ thông tin hiện đại, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới...
Để có được tri thức cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc để phát triển
khoa học công nghê, đặc biệt là công nghệ thông tin; đồng thời phải đầu tư cho
phát triển giáo dục đào tạo hay nói cách khác phải đầu tư cho phát triển nguồn
nhân lực. Suy cho cùng, tri thức là hệ quả tất yếu, của sự phát triển nguồn nhân
lực. Các nước muốn phát triển nền kinh tế tri thức cần phải đầu tư cho phát triển
con người mà cốt lõi là phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đầu tư phát
triển nhân tài.
Để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, để đạt được tốc độ tăng
trưởng nhanh, hiêu quả kinh tế -xã hội cao thì nước ta cần phải có một đội ngũ
nguồn nhân lực đủ mạnh, đủ khả năng đáp ứng được các yêu cầu mà nền kinh tế
khu vực và thế giới và thực tiễn của đất nước đòi hỏi.
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ vai trò quyết

gia ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) gồm 146 nước thành viên trên toàn thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF),
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB),...
II. QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1. Tiến trình hội nhập ở Việt Nam
Trong những năm qua, nước ta đã thiết lập được quan hệ ngoại giao với
167 nước, đã trở thành thành viên của các tổ chức hợp tác quốc tế, tài chính khu
vực và trên thế giới như ASEAN, APEC, ASEM và đang hoàn tất quá trình đàm
phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Việc chủ động thực hiện
chính sách hội nhập kinh tế và xử lý tốt các mối quan hệ tài chính - tiền tệ với
đối tác nước ngoài đã làm gia tăng kim ngạch xuất khẩu, thu hút đáng kể vốn và
công nghệ bên ngoài cho đầu tư phát triển, cải thiện tình trạng nợ nước ngoài,
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an ninh tài chính quốc
gia. Tới hôm nay chúng ta có đủ căn cứ để hài lòng về những thành công đã gặt
hái được trong 5 năm qua. Những mục tiêu kinh tế đề ra cho 5 năm đã đạt được,
có những mặt còn vượt cả dự kiến. Tốc độ tăng trưởng GDP trong 5 năm bình
quân đạt 7,5%/năm, riêng trong năm 2005 đạt mức kỷ lục trong 9 năm qua là
8,5%. Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp
hóa - hiện đại hóa. Tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống 20,7%, tỷ trọng ngành
công nghiệp tăng lên 41% trong tổng GDP. Tích luỹ tiêu dùng, thu chi ngân
sách, cán cân thanh toán quốc tế cơ bản ổn định đáp ứng được yêu cầu tăng
trưởng của nền kinh tế. Tổng đầu tư toàn xã hội tăng nhanh và đạt 37,5% so với
GDP. Hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế có bước tiến quan
trọng. Quan hệ quốc tế được mở rộng, các cam kết quốc tế được triển khai thực
hiện tốt. Nguồn vốn ODA và FDI liên tục tăng. Thị trường xuất khẩu được duy
trì và mở rộng, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh và đạt 17%/năm. Cùng
với phát triển kinh tế, 5 năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng
khích lệ trong lĩnh vực xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao; tạo

chế, bí mật thương mại, bản thiết kế công nghiệp...), vốn quan hệ (danh tiếng,
thương hiệu, các quan hệ dài hạn....).
+ Gia tăng đóng góp của kiến thức vào tăng trưởng kinh tế .
+ Lợi thế khả năng tìm việc làm và tiền công cao của lao động có kỹ năng
và đặc biệt là lao động có chuyên môn kỹ thuật cao.
Quá trình toàn cầu hoá phát triển, các thị trường được mở rộng, tự do hoá
thương mại và đầu tư nước ngoài tạo ra sức ép cạnh tranh ngày càng cao đối với
mỗi nền kinh tế, doanh nghiệp. Tính cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh
nghiệp có tác động kích thích phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, trong nền
kinh tế Việt Nam tính cạnh tranh còn thấp, khu vực kinh tế tư nhân đa số là
doanh nghiệp nhỏ có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 87,2% tổng số doanh nghiệp,
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
công nghệ lạc hậu, trong đó số doanh nghiệp máy móc thiết bị không đảm bảo
an toàn lao động và sản xuất ra sản phẩm chất lượng thấp chiếm 26,4%, khả
năng mở rộng thị trường yếu, một số ngành sản xuất kinh doanh còn mang tính
độc quyền và được tiếp cận các nguồn lực thuận lợi hơn... đã hạn chế đến kích
thích học tập, đào tạo, học nghề nâng cao trình độ của người lao động và suy
cho cùng là hạn chế đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Quá trình toàn cầu hoá có đặc trưng của sự phát triển và tăng cường vai trò
của các tổ chức kinh tế và thương mại (WTO-Tổ chức thương mại quốc tế,
APEC, WB-Ngân hàng thế giới, các khối kinh tế khu vực ASEAN, EC...) đã
dẫn đến mở rộng và thay đổi các thông lệ quốc tế về đầu tư, thương mại và lao
động. Nước ta tham gia dòng chảy toàn cầu hoá cũng có sự thay đổi, điều chỉnh
pháp luật liên quan tới đầu tư, thương mại, lao động. Trong đó, có sự thay đổi
chính sách phát triển nguồn nhân lực và chính sách liên quan đến phát triển
nguồn nhân lực như: xã hội hoá giáo dục, đào tạo tự do lựa chọn ngành nghề
đào tạo của người lao động, khuyến khích sử dụng lao động chuyên môn kỹ
thuật, tiền lương/tiền công đối với lao động chuyên môn kỹ thuật, tín dụng đào
tạo và dạy nghề cho các đối tượng tài năng của đất nước, bảo hiểm xã hội đối

thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế.
Do có điều kiện tự nhiên và chi phí lao động rẻ, Việt Nam có lợi thế trong
một số ngành, đặc biệt là nông nghiệp và dệt may. Đây là 2 ngành được WTO
rất quan tâm và đã đề ra nhiều biện pháp để xóa bỏ dần các rào cản thương mại.
Thí dụ, theo Hiệp định Dệt may của WTO (ATC), mọi hạn chế định lượng đối
với mặt hàng dệt may phải được xóa bỏ từ ngày 1/1/2005. Gia nhập WTO, Việt
Nam sẽ được hưởng lợi ích này. Đối với thương mại hàng nông sản, các Thành
viên WTO cũng đã và đang đưa ra nhiều cam kết về cắt giảm trợ cấp, giảm thuế
(4)
Theo www.mpi.gov.vn
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và loại bỏ hàng rào phi thuế, từ đó mang lại cơ hội mới cho những nước xuất
khẩu nông sản như Việt Nam.
Thứ hai là Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Việc gia nhập WTO
sẽ giúp chúng ta có được một môi trường pháp lý hoàn chỉnh và minh bạch hơn,
có sức hấp dẫn hơn đối với đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Gia nhập WTO
cũng là thông điệp hết sức rõ ràng về quyết tâm cải cách của ta, tạo niềm tin cho
các nhà đầu tư khi bỏ vốn vào làm ăn tại Việt Nam. Ngoài ra, cơ hội tiếp cận thị
trường của các Thành viên WTO khác một cách bình đẳng và minh bạch, theo
đúng chuẩn mực của WTO, cũng là một yếu tố quan trọng để thu hút vốn đầu tư
của nước ngoài.
Thứ ba, nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế. Giảm
thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế, mở cửa thị trường dịch vụ sẽ khiến môi trường
kinh doanh ở nước ta ngày càng trở nên cạnh tranh hơn. Trước sức ép cạnh
tranh, các doanh nghiệp trong nước, bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước, sẽ
phải vươn lên để tự hoàn thiện mình, nâng dần khả năng cạnh tranh cho sản
phẩm của mình, nhờ đó góp phần nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh cho
toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, giảm thuế và loại bỏ các hàng rào phi thuế cũng
sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp cận các yếu tố đầu vào với chi phí hợp lý hơn, từ

sản, Bảo hiểm xã hội...
Bên cạnh đó, công cuộc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước đã được
đẩy mạnh, hệ thống ngân hàng thương mại đã được chấn chỉnh, sắp xếp lại, thị
trường chứng khoán đã hoạt động. Việc quan trọng nhất là các doanh nghiệp
cần ra sức đổi mới công nghệ, cải tiến quản lý, nâng cao chất lượng hàng hoá,
giảm giá thành.
Về đầu tư nước ngoài. Khung pháp luật cũng được đổi mới liên tục và ngày
càng phù hợp hơn, thông thoáng hơn và được đánh giá là có sức hấp dẫn hơn.
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhiều lĩnh vực và hình thức đa dạng mở ra cho các nhà đầu tư nước ngoài cho
phép đầu tư theo công ty cổ phần, niêm yết trên thị trường chứng khoán...
Một ví dụ điển hình ở tỉnh Quảng Ninh, trong những năm qua, với chủ
trương chủ động hội nhập, Đảng bộ tỉnh đã đề ra những chính sách thông
thoáng nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2002 đã thu hút được một số
lượng đáng kể vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA). Tính đến ngày 31-12-2002, trên địa bàn tỉnh có 50 dự án và
9 chi nhánh vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là
357 triệu USD, vốn thực hiện là 195 triệu USD. Các dự án đầu tư FDI đã có
những đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh: đóng
góp 25,6% giá trị sản xuất công nghiệp, 33,8% doanh thu du lịch, 19,5% kim
ngạch xuất khẩu, 12% nguồn thu ngân sách, 15,5% GDP.
(5)
Nhờ chính sách cải cách đổi mới phát triển kinh tế, chất lượng nguồn nhân
lực đã được nâng cao nhiều. Trình độ học vấn và dân trí của nguồn nhân lực
Việt Nam là khá cao. Tỷ lệ mù chữ của lực lượng lao động cả nước là 5,01%, tỷ
lệ tốt nghiệp phổ thông cơ sở là 3,28%, tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học là
19,7%; so với thời điểm 1/4/2003 tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông cơ sở tăng 2,6%;
tốt nghiệp phổ thông trung học tăng 1,4%. Công tác nghiên cứu khoa học cũng
được chú trọng. Chúng ta cũng đã phát triển được một đội ngũ cán bộ khoa học

mềm tăng gấp rưỡi, năng suất phần mềm ở ngưỡng 10.000 USD/người/năm.
Giá trị xuất khẩu phần cứng cũng tăng 27%, đạt con số 700 triệu USD. So với
năm 2002 số nhân sự làm phần mềm của Việt Nam năm 2003 tăng từ 8.000 lên
12.000 người, tạo ra giá trị sản phẩm/dịch vụ khoảng 120 triệu USD, trong đó
gia công/xuất khẩu 30 triệu USD, còn lại là phục vụ thị trường trong nước.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị phần mềm nhập khẩu qua đường
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chính ngạch rất thấp, chỉ khoảng 7-10 triệu USD trong năm 2003. Năng suất lập
trình viên năm 2003 ở ngưỡng 10.000 USD/người/năm
(6)
.
2.2. Khó khăn.
Về công tác quản lý. Mặc dù đã có những cải cách đáng kể nhưng vẫn còn
nhiều bất cập trong công tác quản lý. Đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng
được yêu cầu của thời kỳ hội nhập. Đội ngũ đông nhưng không mạnh, không
đồng bộ, vừa thừa vừa thiếu; trình độ, kiến thức, năng lực lãnh đạo và quản lý
chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ quản lý thị trường.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước
thuộc các bộ, các ngành ở các cơ quan trung ương có 129.763 người, trong đó
có 74% công chức có trình độ đại học trở lên. Theo Nghị định 09/1998/NĐ-CP
ban hành ngày 23/1/1998 số lượng cán bộ chính quyền cơ sở loại xã sau đây
được ấn định như sau:
- Dưới 10.000 dân: 17-19 cán bộ.
- Từ 10.000 đến 20.000 dân: 19-21 cán bộ.
- Trên 20.000 dân cứ thêm 3000 dân thêm 1 cán bộ, tối đa không quá 25
cán bộ.
So với đội ngũ công chức hành chính trong nước từ cấp huyện lên trung
ương hiện có khoảng trên dưới 200.000 người, thì đội ngũ cán bộ làm công tác
chính quyền cơ sở không phải là nhỏ. Ngoài số đó ra còn có khoảng 200.000 là

20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chưa phù hợp, thể hiện ở chỗ số ngành được đào tạo ồ ạt như ngành kinh tế, luật
trong khi đó các ngành kỹ thuật, công nghệ thông tin, khoa học cơ bản chưa
được coi trọng đúng mức.
Một số bộ phận cán bộ thoái hoá, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, cơ hội
trong thực thi công vu. Chính sách đối với cán bộ, công chức nhất là về tiền
lương; còn nhiều bất hợp lý; nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, chưa đảm bảo, chậm đổi mới. Thể chế hành chính vẫn chưa đáp ứng được
đòi hỏi của phát triển kinh tế, mở cửa hội nhập thể hiện ở thể chế pháp luật
không đồng bộ, chậm đi vào cuộc sống, trật tự kỷ cương bị vi phạm nghiêm
trọng; cải cách thủ tục hành chính chưa được tiến hành thường xuyên, chậm
tổng kết việc thực hiện “một cửa, một dâu”, chậm công bố những văn bản pháp
luật hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp; số khiếu nại, tố cáo hành chính vẫn
còn tồn đọng nhiều; những phiền hà, sách nhiễu trong thực thi công vụ chưa
được khắc phục triệt để; tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều đầu
mối, tầng lớp trung gian, chất lượng hoạt động và hiệu quả thấp. Đặc biệt, sự
phân cấp thẩm quyền trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành, giữa TW
và địa phương chưa cụ thể, thiếu nhất quán,dẫn đến tranh chấp thẩm quyền, đùn
đẩy trách nhiệm và thiếu sự phối hợp giữa các ngành các cấp.
Nước ta vẫn là nước nghèo. Trình độ phát triển của chúng ta còn quá thấp,
quá lạc hậu. Thu nhập bình quân đầu người tính bằng USD theo tỉ giá sức mua
tương đương của Việt Nam năm 2003 theo số liệu của Ngân hàng thế giới là
2.490 USD/năm (bằng 10% của Singapore, 28% của Malaysia, 33% của Thái
Lan, 54% của Philippines, 77% của Indonesia, 50% của Trung Quốc).
(7)
Do chiến tranh, do hoàn cảnh lịch sử, cơ sở vật chất mà chúng ta kế thừa
quá nghèo nàn. Bên cạnh đó còn biết bao vấn đề khó khăn về con người do
chiến tranh thiên tai để lại như những nạn nhân chất độc màu da cam... Công tác
ưu đãi và cứu trợ xã hội là gánh nặn đối với xã hội.

Cơ cấu kinh tế còn chưa phù hợp. Trong những năm qua cơ cấu kinh tế đã
có những chuyển biến tích cực, đúng hướng nhưng chưa mạnh.
Về cơ cấu thành phần kinh tế.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguồn: www.dpi.hochiminhcity.gov.vn
Qua biểu đồ trên ta thấy, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng
mạnh về tỷ trọng đóng góp GDP trong tổng cả ba khu vực (từ 18,6% năm 2000
lên 25,6% năm 2005), tiếp theo là khu vực ngoài quốc doanh (từ 35,5% năm
2000 lên 37,1% năm 2005) trong khi đó tỷ trọng đóng góp GDP của khu vực
quốc doanh đã có xu hướng giảm (từ 45,9% năm 2000 xuống còn 37,3% năm
2005). Đây là biểu hiện có chiều hướng tích cực trong cơ cấu kinh tế. Tuy
nhiên, khu vực Quốc doanh vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong thành phần kinh tế.
Khu vực này giành được vị trí có lợi trong sản xuất kinh doanh và được hưởng
nhiều ưu đãi của Nhà nước, nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh lại kém, phần
lớn số doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ hoặc chưa có lãi. Bên cạnh đó
môi trường đầu tư, kinh doanh chậm được cải thiện; các chính sách khuyến
khích phát triển các thành phần kinh tế khác chậm đưa vào cuộc sống, còn
nhiều biểu hiện phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh,
làm cho các thành phần kinh tế này còn e ngại, dè dặt, chưa mạnh dạn đưa vốn
vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Tỉ trọng của thành phần kinh tế nhà
nước hiện vẫn còn cao (chiếm 37,9%), điều này là một nguyên nhân của tình
trạng hiệu quả thấp, sức cạnh tranh yếu của nền kinh tế. Tỉ trọng của khu vực
kinh tế cá thể cao phản ánh phương thức kinh doanh nhỏ lẻ, phân tán còn khá
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phổ biến trong nền kinh tế. Tỉ trọng kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn thấp
nhưng tăng tương đối mạnh trong những năm vừa qua, thể hiện sức hấp dẫn của
môi trường đầu tư của nước ta.
Về cơ cấu các ngành kinh tế.

Về cơ cấu vùng kinh tế. Gắn với quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của
các vùng lãnh thổ, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm đang được xây dựng
và hình thành theo hướng phát huy thế mạnh của từng vùng, làm cho bộ mặt
kinh tế, xã hội ở các địa phương, các vùng đều có những thay đổi tích cực.
Đến năm 2000, các tỉnh vùng núi phía Bắc đóng góp khoảng trên 9% GDP
của cả nước; vùng đồng bằng sông Hồng khoảng 19%; Bắc Trung bộ và Duyên
hải Miền Trung khoảng 15%; vùng Tây Nguyên 3%; vùng Đông Nam bộ
khoảng 35% và đồng bằng sông Cửu Long khoảng 19%. Ba vùng kinh tế trọng
điểm đóng góp khoảng 50% giá trị GDP cả nước; 75-80% giá trị gia tăng công
nghiệp và 60-65% giá trị gia tăng khu vực dịch vụ. Nhịp độ tăng trưởng của các
vùng trọng điểm đều đạt trên mức trung bình cả nước, bước đầu có tác dụng
thúc đẩy sự phát triển chung
(8)
. Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm,
chưa phát huy mạnh lợi thế so sánh của từng ngành, từng vùng; chưa tạo được
động lực thúc đẩy mạnh mẽ các thành phần kinh tế phát triển.
Về nguồn nhân lực. Tham gia quá trình toàn cầu hoá đang đặt ra cho lao
động nước ta những yêu cầu cấp bách, không những cần phải nâng cao khả
năng cạnh tranh về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề mà còn các phẩm
chất khác như ngoại ngữ, tác phong và văn hoá ứng xử công nghiệp hiện đại,
tinh thần chấp hành kỷ luật lao động, kỷ luật công nghệ, hiểu biết pháp luật...
(
8)
Nguồn: www.mpi.gov.vn
25

Trích đoạn Về đào tạo và phỏt triển NNL. Về cơ chế chớnh sỏch của Nhà nước trong cụng tỏc quản lý và sử dụng lao động Hội nhập là mở cửa tham gia vào quỏ trỡnh toàn cầu húa cũng cú nghĩa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status