Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua một số đoạn trích truyện kiều trong chương trình ngữ văn lớp 10 - Pdf 43

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
V. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lý luận
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
1. Thực trạng chung
2. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài.
III. Một số giải pháp cụ thể
1.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
3. Vài lưu ý khi thực hiện các giải pháp.
4. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
C. KẾT LUẬN

Trang
2
2
3
3
3
3
4
4
6
6
7

như khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn.
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT mà đặc biệt là giảng dạy
những tác phẩm văn học thuộc thể loại trữ tình, trước đây bản thân tôi cùng các
đồng nghiệp vẫn quen sử dụng phương pháp dạy học truyền thống. Dạy học vẫn
nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết và truyền thụ tri thức một chiều vẫn là
phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên. Số giáo viên thường xuyên
chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử
dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học
sinh còn chưa nhiều. Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình
huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa
thực sự được quan tâm. Chính vì vậy mà quá trình dạy học môn Ngữ Văn ở
trường THPT vẫn còn nặng nề và chưa khai thác hết được tiềm năng sáng tạo cho
học sinh.
Trước những vấn đề đó bản thân tôi là một tổ trưởng chuyên môn cũng có
nhiều năm đứng trên bục giảng tôi luôn băn khoăn suy nghĩ, trăn trở làm cách
nào có thể nâng cao được chất lượng giáo dục học sinh và điều quan trọng hơn là
học sinh qua mỗi bài học các em có thể khám phá được những tri thức mới như
thế nào và có thể ứng dụng được gì vào trong thực tiễn cuộc sống. Chính vì điều
đó tôi muốn cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để có thể đưa ra được những phương
pháp dạy học phù hợp với thực tiễn dạy học Ngữ văn ngày nay. Đó là lý do tôi
chọn đề tài nghiên cứu “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
qua một số đoạn trích Truyện Kiều trong chương trình Ngữ Văn lớp
10”. Tuy nhiên trong khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm nên trong đề tài tôi
2


chủ yếu tâp trung nghiên cứu sâu các phương pháp kỹ thuật dạy học theo định
hướng phát triển năng lực với những đoạn trích tiêu biểu của Truyện Kiều như :
Trao duyên ; Nỗi thương mình và Chí khí anh hùng.
II. Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài.

+ Phương pháp nghiên cứu tình huống
Từ những thu hoạch này, tôi hi vọng những cách tiếp cận, dạy – học theo
định hướng phát triển năng lực của người học sẽ trở nên có hiệu quả hơn, từ đó
có thể áp dụng rộng rãi cho việc dạy học các tiết đọc hiểu văn bản trong chương
trình Ngữ Văn lớp 10 nói riêng và chương trình Ngữ Văn THPT nói chung.
V. Phương pháp nghiên cứu.
Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát.
3


- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm khoa học.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm.
- Phương pháp thử nghiệm để kiểm nghiệm một số kết quả mà đề tài đề xuất.

B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Dạy học được xem là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và
có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành
động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng,
các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải
quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người
học. Trong giai đoạn hiện nay nền giáo dục của nước ta đã và đang thực hiện đổi
mới một cách căn bản và toàn diện. Từ đổi mới về chương trình giáo dục đến
việc đổi mới về phương pháp dạy học và cách đánh giá kết quả học tập của học
sinh. Nghị quyết số 29 của BCH TW8 khóa XI được triển khai tạo cơ sở cho giáo
viên tích cực hơn trong việc tìm tòi, sáng tạo những phương pháp dạy học mới

giáo phong kiến hay không?
+ Phát hiện và đánh giá những khó khăn, thách thức đặt ra trong quá trình tạo lập
văn bản nói và viết.
- Năng lực sáng tạo : Mục tiêu cần hướng đến là hình thành cho học sinh khả
năng phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống để từ đó
đề xuất các giải pháp một cách thiết thực.
+ Có cách tiếp cận và cắt nghĩa độc đáo về nội dung, giá trị của tác phẩm
+ Phát hiện những nét nghĩa mới, giá trị mới của văn bản.
+ Có cách nói và cách viết sáng tạo, độc đáo, hiệu quả.
- Năng lực hợp tác: Mục tiêu cần hướng đến là hình thành cho học sinh khả năng
phối hợp, tương tác hỗ trợ nhau cùng thực hiện nhiệm vụ để cùng đạt mục tiêu
chung ( chẳng hạn như thảo luận nhóm )
Thảo luận nhóm là phương pháp có thể áp dụng với nhiều bài học, điều quan
trọng ta phải chú ý là đề tài cho học sinh thảo luận phải là đề tài có tính phức
hợp, có vấn đề, cần huy động sự suy nghĩ của nhiều người.
Thông qua việc thảo luận nhóm có thể hình thành cho học sinh khả năng
+ Thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận cá nhân
+ Điều chỉnh thái độ, cách ứng xử
Ví dụ: Đánh giá của em về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích “ Chí khí anh hùng”
- Năng lực tự quản bản thân (Thực chất là KNS). Mục tiêu cần hướng đến là
hình thành cho học sinh khả năng:
+ Làm chủ cảm xúc
+ Suy nghĩ và hành động hướng vào mục tiêu phù hợp với hoàn cảnh
+ Tự đánh giá, điều chỉnh hành động phù hợp với những tình huống mới
Qua môn học có thể giáo dục cho học sinh xác định các kế hoạch hành
động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh kế hoạch để đạt được mục tiêu đặt ra,
nhận biết những tác động của ngoại cảnh đến việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện
kĩ năng của cá nhân để khai thác, phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những
yếu tố tiêu cực, từ đó xác định được các hành vi đúng đắn, cần thiết trong những
tình huống của cuộc sống. [10]

Việc dạy học các đoạn trích trong Truyện Kiều không chỉ yêu cầu học sinh nắm
vững nội dung bài học mà còn phải biết cảm nhận được cái hay cái đẹp của văn
chương và những giá trị to lớn của Truyện Kiều, từ đó có thể hình thành những
chuẩn mực trong suy nghĩ và trong hành động, có khả năng giải quyết tình huống
thực tiễn một cách linh hoạt.
II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM
1. Thực trạng chung
Từ những thực tế nói trên vấn đề dạy học gắn với phát triển năng lực học
sinh đã được đề cập nhiều và đã được áp dụng ở nhiều trường học, nhiều cơ sở
giáo dục. Ở trường THPT Mai Anh Tuấn, vấn đề này cũng hết sức được quan tâm
từ việc chỉ đạo của nhà trường đến việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo
hướng nghiên cứu bài học và những đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên.
Phần truyện Kiều là một trong những nội dung lớn và quan trọng chiếm tỷ lệ cao
trong tổng số tiết học của chương trình Ngữ Văn lớp 10. Việc giúp học sinh đọc
hiểu các văn bản này không chỉ là để phát huy năng lực cảm thụ văn học của các
em mà còn giúp các em có thêm tình yêu đối với một di sản văn học của dân tộc,
đồng thời góp phần phát triển một số năng lực của người học. Tuy nhiên trong
thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, qua nhiều năm, tôi
thấy việc dạy – học các văn bản Truyện kiều trong chương trình tại đơn vị chưa
thật phát huy và khơi dậy tối đa các năng lực của học sinh. Điều đó, thể hiện ở
những tồn tại sau:
- Dạy học đọc – hiểu còn mang nặng tính truyền thụ một chiều những cảm nhận
của giáo viên về văn bản. Nhìn chung vẫn là chú trọng dạy kiến thức hơn là hình
thành kỹ năng.
- Dạy học tích hợp đã được chú trọng, tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn mang tính
khiên cưỡng, nội dung tích hợp vào bài học như giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng
thực hành tiếng Việt vẫn còn mang tính hình thức. Chưa làm cho học sinh huy
động kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực… để giải quyết các
nhiệm vụ học tập.

pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi nghiên cứu bài học. Mặt
khác do tâm lý xã hội và những tác động không nhỏ của nền kinh tế thị trường đã
ảnh hưởng đến niềm yêu thích của học sinh đối với bộ môn. Nhiều em học sinh
lựa chọn các môn khối A, B, A1.. khá là thơ ơ đối với môn Ngữ văn.
Chính vì vậy mà chúng ta cần phải thay đổi, thay đổi cả ở người dạy và ở
người học để sau mỗi bài dạy – học, học sinh không chỉ có được hiểu biết (kiến
thức) mà còn phải phát triển được năng lực bản thân , làm tăng thêm tình yêu đối
với bộ môn của các em, có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu về đổi mới giáo
dục.
2. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài.
2.1 Thuận lợi:
Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá được lãnh đạo
nhà trường, tổ chuyên môn quan tâm chỉ đạo thực hiện một cách tích cực, có hệ
thống, bám sát chủ trương đổi mới nền giáo dục của Đảng và nhà nước.
- Đội ngũ giáo viên trẻ khỏe và có trình độ chuyên môn vững, được đào tạo
chuẩn, trên chuẩn và đã được tham gia các lớp tập huấn về chuyên môn do Sở
giáo dục và đào tạo tổ chức hàng năm.
Đa số học sinh học tập tích cực và có sự hợp tác chặt chẽ với giáo viên trong quá
trình dạy – học.
7


- Cơ sở vật chất được đầu tư: Mạng Internet, máy tính, máy chiếu được trang bị
phục vụ dạy học, học sinh được trang bị kiến thức về vi tính để khai thác thông
tin trên mạng Internet.
2.2 Khó khăn:
- Một số giáo viên chưa mạnh dạn thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, dạy
học còn mang nặng cách dạy truyền thống truyền thụ kiến thức mà chưa chú
ý đến phát triển năng lực ở học sinh.
- Một số học sinh chưa chăm học, thời gian dành cho môn học còn ít. Một số phụ

Đồng thời chúng tôi cũng mong muốn tìm ra được những giải pháp hữu hiệu để
nâng cao hiệu quả trong công tác giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện, góp phần hoàn thiện nhân cách ở học sinh.
2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống. Các phương pháp dạy
học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại… luôn là những phương pháp quan
trọng trong dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ
8


các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải
tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu
quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững
những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị
cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình
bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt câu hỏi và xử lý các câu trả lời
trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương
pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương
pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới,
đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và
sáng tạo của học sinh. Chính vì vậy chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp
sau đây:
2.1 Đổi mới khâu thiết kế hoạt động dạy học môn Ngữ Văn theo định hướng
phát triển năng lực của học sinh.
Định hướng thiết kế bài học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực
của học sinh. Một giờ dạy học thành công là do sự chi phối của nhiều yếu tố.
Chuẩn bị một giờ dạy học là một trong những yếu tố quan trọng, nó quyết định
không nhỏ tới thành công của một giờ dạy. Có chuẩn bị tốt, chu đáo, kĩ càng thì
hiệu quả của một giờ dạy sẽ được nâng lên một cách rõ ràng.
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ

liên quan đến kiến thức mới bằng cách sử dụng các câu hỏi, các bài tập. Sau đó
giáo viên hoặc học sinh sẽ nêu vấn đề, tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ quan niệm
của mình về vấn đề học tập.
Bước 2: Tổ chức điều khiển học sinh tiến hành thảo luận
Giáo viên tổ chức cho học sinh đề xuất các giả thuyết, kiểm tra giả thuyết (thử và
sai) phân tích kết quả và từ đó rút ra kết luận chung cho cả lớp.
Bước 3: Tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức
Giáo viên tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề
về lý thuyết cũng như thực tiễn, qua đó giúp học sinh khắc sâu hơn kiến thức
mới.Theo tinh thần trên, thiết kế bài học được biên soạn theo các chủ đề, tổ chức
hoạt động cho học sinh theo 5 bước gồm: Hoạt động trải nghiệm, hoạt động hình
thành kiến thức mới, hoạt động thực hành, hoạt động ứng dụng, hoạt động bổ
xung. Trong mỗi chủ đề, các đơn vị kiến thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
thành một thể thống nhất. Mỗi đơn vị kiến thức được hướng dẫn học theo một
cấu trúc thống nhất gồm các hoạt động, trong đó có hoạt động cá nhân hoặc hoạt
động nhóm; hoạt động với giáo viên và gia đình. Mỗi hoạt động trong tiến trình
học tập được xây dựng với mục tiêu, nội dung và cách thức cụ thể như sau:
2.1.1. Hoạt động trải nghiệm
* Mục đích của hoạt động
- Hoạt động trải nghiệm giúp học sinh huy động vốn kiến thức và kỹ năng để
chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kỹ năng mới.
- Giúp học sinh tạo hứng thú để bước vào bài học mới
- Giúp giáo viên tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết như thế nào về những vấn đề
trong cuộc sống có liên quan đến nội dung bài học.
* Nội dung, hình thức trải nghiệm
- Câu hỏi, bài tập: có thể là quan sát tranh/ảnh để trao đổi với nhau về một vấn đề
nào đó có liên quan đến bài học; hoặc trực tiếp ôn lại kiến thức đã học ở cấp/lớp
dưới, thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi đơn giản, nhẹ nhàng.
Vd: Trước khi dạy “ Trao duyên” chúng ta có thể cho học sinh tìm hiểu xem một
số văn bản truyện, tranh liên quan đến nguồn gốc của truyện Kiều, hay những ấn

Các kiến thức làm văn cũng được dạy tích hợp với Đọc hiểu và Tiếng Việt. Cũng
như phần kiến thức Tiếng Việt, những nội dung lý thuyết Làm văn được giảm tải
và chuyển hóa thành kỹ năng.
Lưu ý:
- Giáo viên cần dự kiến những trường hợp học sinh không làm được bài
tập/nhiệm vụ để có phương án giải quyết. Có thể kích thích lại hứng thú hoặc ra
bài tập/nhiệm vụ khác, từ những bài tập dễ hơn, phù hợp hơn, rồi từ đó nâng dần
hiểu biết của các em.
- Các hoạt động của học sinh trong mục này gồm: Hoạt động cá nhân, hoạt động
nhóm. Kết thúc hoạt động nhóm, học sinh phải trình bày kết quả và thảo luận với
giáo viên.
2.1.3. Hoạt động thực hành
* Mục đích của hoạt động
Yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến thức vừa học được ở hoạt động hình
thành kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể. Thông qua đó giáo
viên xem học sinh đã nắm được kiến thức hay chưa và nắm được ở mức độ nào.
* Nội dung và hình thức các bài tập/nhiệm vụ
- Hoạt động thực hành gồm các bài tập/nhiệm vụ yêu cầu học sinh củng cố các tri
thức vừa học và rèn luyện các kỹ năng liên quan.
- Các bài tập/nhiệm vụ trong phần thực hành cũng theo trình tự; Đọc hiểu văn
bản, Tiếng Việt và Tập làm văn.
- Các bài tập/nhiệm vụ trong Hoạt động thực hành tập trung hướng đến việc hình
thành các kỹ năng cho học sinh, khác với bài tập trong Hoạt động hình thành kiến
thức mới chủ yếu hướng tới việc khám phá tri thức. Đây là hoạt động gắn với
thực tiễn bao gồm những nhiệm vụ như: trình bày, viết văn...
Lưu ý:
Học sinh có thể được hướng dẫn hoạt động cá nhân hoặc nhóm để hoàn thành các
câu hỏi, bài tập, bài thực hành...Hoạt động cá nhân để học sinh hiểu và biết được
mình hiểu kiến thức như thế nào, có góp gì vào hoạt động nhóm và xây dựng các
hoạt động của tập thể lớp. Hoạt động nhóm để trao đổi, chia sẻ kết quả mình làm

và có thời gian.
2.1.5. Hoạt động bổ sung
* Mục đích của hoạt động
Hoạt động này giúp học sinh tiếp tục mở rộng kiến thức, kỹ năng. Hoạt động này
dựa trên lập luận cho rằng, quá trình nhận thức của học sinh là không ngừng, như
vậy cần có sự định hướng để đáp ứng nhu cầu tiếp tục học tập, rèn luyện sau mỗi
bài học cụ thể.
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ cụ thể
- Đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan
- Trao đổi với người thân về nội dung bài học như: kể cho người thân nghe về câu
chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa câu chuyện...
- Tìm đọc sách, báo, mạng internet ...một số nội dung theo yêu cầu.
Lưu ý:
- Các nhiệm vụ trong Hoạt động bổ xung được thiết kế cho học sinh tự làm việc ở
nhà.
- Hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ theo nhóm, đồng thời yêu cầu học sinh
làm các bài tập đánh giá năng lực.
Thời gian cho mỗi hoạt động cần được xác định sao cho phù hợp với số tiết học
được phân bố cho từng cụm bài/chủ đề, thời khóa biểu lên lớp của giáo viên.
12


Trong thiết kế bài học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
cấp THPT nói trên, giáo viên cần xác định và nêu rõ các cách thức tổ chức hoạt
động cho cá nhân, hoạt động cho cặp đôi, hoạt động nhóm, hoạt động chung cả
lớp, hoạt động với cộng đồng.
+ Hoạt động cá nhân: là hoạt động yêu cầu học sinh thực hiện các bài tập/nhiệm
vụ một cách độc lập. Loại hoạt động này nhằm tăng cường khả năng hoạt động
độc lập của học sinh, diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là đối với các bài tập/nhiệm
vụ có yêu cầu khám phá, sáng tạo, hoặc rèn luyện đặc thù. Giáo viên cần đặc biệt

là những đoạn trích tiêu biểu nhằm khái quát lên những giá trị lớn của tác phẩm.
Do đó khi giảng dạy những đoạn trích này giáo viên cũng cần tập trung hướng tới
những chủ đề lớn của tác phẩm.
Chẳng hạn khi dạy đoạn trích “Trao Duyên” cần hướng tới hai chủ đề trọng điểm
là: Bi kịch tình yêu và khát vọng tình yêu hạnh phúc của Thúy Kiều.
Khi dạy đoạn trích “Nỗi thương mình” thì cần tập trung khắc họa được bi kịch
nhân phẩm của Thúy Kiều.
13


Dạy đoạn trích “Chí khí anh hùng” thì cần phải tập trung làm rõ được khát vọng
tự do của người anh hùng Từ Hải.
Do vậy để thực hiện một giờ dạy đọc hiểu văn bản phát huy được tính tích cực
của học sinh và làm cho một tiết học trở nên sinh động, nhẹ nhàng giáo viên cần
làm tốt các bước sau:
2.2.1 Giải pháp thứ nhất: Xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm về
Nguyễn Du và truyện Kiều và hướng dẫn cho học sinh thực hiện.
Để giúp học sinh thực hiện được hoạt động này chúng ta có nhiều phương
án để lựa chọn. Chẳng hạn như giáo viên có thể báo cáo với Ban giám hiệu nhà
trường tổ chức cho học sinh đi thăm quan quê hương của Nguyễn Du, tham quan
khu lưu niệm Nguyễn Du. Tuy nhiên không phải giáo viên ở trường nào cũng có
thể làm được điều này vì còn liên quan đến kinh phí, thời gian tổ chức , cũng như
các điều kiện khác. Do vậy chúng ta có thể lựa chọn những phương án khác.
Cách thông thường mà chúng tôi thường làm sẽ lồng ghép nội dung này vào bài
dạy Truyện Kiều ( Tiết PPCT 80 ) bằng cách trước khi hướng dẫn học sinh đi vào
bài học chúng ta có thể tranh thủ giới thiệu những nét khái quát về tác giả
Nguyễn Du và Truyện Kiều thông qua các tư liệu tranh ảnh phim tài liệu để các
em có thể hiểu thêm về tác giả và tác phẩm. Bên cạnh đó giáo viên cũng có thể
vận dụng làm việc này vào các tiết tự chọn để tổ chức cho học sinh những hoạt
động trải nghiệm về Nguyễn Du và Truyện Kiều chẳng hạn như các hoạt động

- Giải thích nhan đề Trao duyên để làm rõ tình cảnh trớ trêu của Thúy Kiều khi
phải trao đi cái thứ quý giá và thiêng liêng nhất của đời mình dù người đó là em
gái ruột.
- Hướng dẫn học sinh phân tích quá trình trao duyên của Thúy Kiều cho Thúy
Vân:
+ Dùng ngôn ngữ và hành động đặc biệt
+ Kể lại mối tình giữa mình với Kim trọng cho em nghe
+ Đưa ra lý do để buộc Thúy Vân phải chấp nhận
+ Thúy Kiều trao kỷ vật tình yêu cho em và dặn dò em.
- Phân tích tâm trạng đau đớn giằng xé đầy bi kịch của Thúy Kiều
Tâm trạng đau đớn giằng xé đầy bi kịch ấy được thể hiện như thế nào?
+ Tình thì đẹp mà đành phải trao. ( Đây là mâu thuẫn của bi kịch)
Thúy Kiều đã giải quyết bi kịch của mình như thế nào?
+ Thúy kiều đã bán mình chuộc cha ( Chọn chữ Hiếu để thay thế chữ tình mong
tìm được một chút an ủi).
+ Thúy Kiều trao duyên cho em. ( Chọn chữ Nghĩa để phần nào chuộc lại sự phụ
tình của nàng đối với Kim Trọng)
+ Thúy Kiều tưởng tượng ra mình sẽ chết và mong muốn trở về gặp yêu theo
quan niệm dân gian là “ Duyên nợ ba sinh” ( Tức là mượn một thứ hạnh phúc
siêu hình để an ủi mình.)
Thế nhưng mọi con đường giải quyết bi kịch của Thúy Kiều đều thất bại. Bởi bản
chất của tình yêu không tồn tại nơi chữ Hiếu và chữ Nghĩa và Thúy Kiều cũng
không thể chấp nhận được sự an ủi của thứ Hạnh phúc siêu hình trong triết lý
dân gian. Chính vì thế mà cho đến cuối đoạn trích thì duyên có thể trao được
nhưng tình thì không thể trao. Đau khổ vẫn còn nguyên đau khổ. [1]
Tại sao khi trao duyên cho em rồi mà Thúy Kiều vẫn còn đau khổ?
=> Bởi Thúy Kiều là một con người giàu khát vọng. Vì vậy nàng không thể chấp
nhận được những cách giải quyết thông thường mà những cô gái trong chế độ
phong kiến vẫn thường làm. Nhưng đây cũng chính là chỗ hơn người của nàng và
cũng là sự sáng tạo độc đáo của đại thi hào Nguyễn Du.

lộ rõ chủ đề của đoạn trích. Cho nên đối với đoạn trích này tôi chỉ tập trung tổ
chức cho học sinh thảo luận một vấn đề trọng tâm là : Tại sao Thúy Kiều lại tự
thương mình? Để từ đó có thể giúp các em phát huy được những năng lực cơ bản
như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác hay năng lực phát hiện và sáng
tạo.
Đối với đoạn trích chí khí anh hùng thì lại phải chọn cách giải quyết khác. Bởi
khác với hai đoạn trích ở trên, đoạn trích này lại tập trung khai thác một khía
cạnh khác của Truyện Kiều đó là: Khát vọng tự do của con người. Vì vậy khi
giảng dạy đoạn trích này tôi thường hướng dẫn học sinh khai thác một số vấn đề
trọng tâm như sau:
- Đoạn trích tập trung thể hiện vấn đề gì?
=> Đoạn trích tập trung thể hiện chí khí anh hùng của người Từ Hải
- Chí khí ấy là gì?
- Chí khí của người anh hùng Từ Hải được thể hiện như thế nào trong đoạn
trích?
Thông qua việc thể hiện chí khí anh hùng của Từ Hải tác giả muốn nhắn gửi điều
gì?
2.2.3 Giải pháp thứ ba là:Tăng cường thời lượng hoạt động của học sinh
trong các tiết dạy ở trên lớp.
Thông thường trong giờ dạy đọc hiểu văn bản theo cách truyền thống học
sinh rất ít khi được thực hành. Chủ yếu là các em thường hoạt động theo mô típ:
Nghe thầy cô hỏi – Suy nghĩ trả lời – Nghe thầy cô nhận xét kết luận – Ghi chép.
Việc hỏi đáp ở đây cũng diễn ra nhưng nhiều khi chỉ mang tính hình thức. Nhiều
khi các thầy cô hỏi rồi lại tự trả lời lấy và dần dần lại biến giờ dạy trở thành
những giờ dạy độc diễn. Thực trạng này dù không muốn nhưng vẫn cứ xảy ra khá
nhiều trong những giờ dạy Ngữ Văn và dần dần lại trở thành một thói quen cố
hữu trong ta. Cũng cần phải nhìn nhận một cách khách quan là có rất nhiều yếu tố
tác động đến giờ dạy, song theo chúng tôi vai trò tổ chức hoạt động của người
thầy là vô cùng quan trọng. Việc tổ chức cho học sinh hoạt động ở đây không chỉ
đơn thuần diễn ra ở những tiết thực hành mà ngay cả ở những tiết dạy đọc hiểu

và có nhiều câu khó đối với học sinh. Mặt khác giáo viên cũng có thể yêu cầu học
sinh tìm kiếm những tài liệu có liên quan đến bài học để phụ vụ cho quá trình
chiếm lĩnh văn bản.
Cũng cần lưu ý rằng việc giao nhiệm vụ phải gắn liền với việc kiểm tra
mức độ hoàn thành nhiệm vụ của học sinh. Thực tế là có giáo viên khi giao
nhiệm vụ cho học sinh nhưng đến tiết sau lai quên mất hoặc khi giảng dạy lại
không bám sát vào những nhiệm vụ mà mình đã giao, dẫn đến có nhiều học sinh
chán nản. Mặt khác theo xu thế chung hiện nay thì có nhiều học sinh không mặn
mà với môn Văn lắm. Vì vậy khi giáo viên giao nhiệm vụ cho các em thì các em
thường không hoàn thành hoặc không tự giác hoàn thành. Chính vì vậy việc kiểm
tra mức độ hoàn thành nhiệm vụ của học sinh là điều cần thiết. Việc đổi mới tư
duy trong đánh giá kiểm tra của giáo viên cũng là điều cần thiết. Chẳng hạn khi
giảng tôi thường không kiểm tra bài cũ của học sinh và tôi cũng không dùng thuật
ngữ này. Thay vào đó tôi thường Kiểm tra mức độ hoàn thành nhiệm vụ mà tôi đã
giao ở tiết trước ( hay là kiểm tra sự chuẩn bị bài của các em trước khi đến lớp).
Cách đánh giá cũng sẽ thay đổi. Thông thường tôi chỉ đánh giá học sinh ở ba mức
độ: Hoàn thành tốt; Hoàn thành nhiệm vụ và Không hoàn thành nhiệm vụ. Tất
nhiên chúng ta cũng có thể quy các mức đánh giá này ra thang điểm để cho điểm
17


học sinh. Với cách làm như vậy giáo viên vừa có thể khuyến khích học sinh tìm
hiểu nghiên cứu bài học trước ở nhà vừa cũng có thể ràng buộc các em phải hoàn
thành nhiệm vụ trước những bài học. Lâu dần cũng có thể hình thành cho các em
những thói quen tự nghiên cứu chiếm lĩnh tri thức, kích thích niềm đam mê và
sáng tạo của học sinh.
3. Vài lưu ý khi thực hiện các giải pháp.
Có thể nhận thấy rằng: các giải pháp nêu ra gắn với trình tự của một giờ
dạy học, do vậy mỗi giải pháp được xem là một thành tố góp phần làm cho hoạt
động dạy học đạt kết quả cao. Để học sinh thực sự làm chủ quá trình học tập giáo


Lớp/
Sĩ số

10I
40
10M
42

Năng lực
đọc hiểu
VB

Năng
lực hợp
tác

25/40
62.5%
36/42
85.7%

19/40
47.5%
28/42
66.6%

Năng
lực giải
quyết

tình huống trong cuộc sống và nghề nghiệp. Với quyết tâm đổi mới phương pháp
dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục, việc vận dụng phương pháp dạy học theo
định hướng phát triển năng lực bước đi quan trọng trong tiến trình đổi mới. Để
làm được điều đó đòi hỏi tất cả giáo viên phải không ngừng học hỏi nghiên cứu
để bồi dưỡng năng lực chuyên môn, tận tụy tâm huyết với nghề thì mới mong đạt
được hiệu quả.
Với những điều đã trình bày trên, tôi những mong có thể đóng góp một
phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy Ngữ văn trong trường THPT
Mai Anh Tuấn. Đồng thời có thể chia sẻ kinh nghiệm của bản thân với các đồng
nghiệp. Mặc dù rất cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu còn ngắn, năng lực
bản thân cũng có hạn nên ắt hẳn không thể tránh khỏi những sai sót, tôi rất
mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
trong tương lai.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 18 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm
của mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.

Phạm Văn Khang

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Giảng văn Truyện Kiều - Đặng Thanh Lê – NXB Giáo Dục
[2]. Thi pháp văn học trung đại Việt Nam – Trần Đình Sử - NXB ĐHQG Hà Nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status