ĐẠI HỌC THÁI NGUN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM BÙI THỊ THANH TÂM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH
TỰ HỌC CÁC ĐOẠN TRÍCH TRUYỆN KIỀU
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10
Chun ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt MÃ SỐ: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Trọng Hồn Thái Ngun - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> ii LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Trọng Hồn - người
thầy đã tận tình giúp đỡ em trong q trình học tập, nghiên cứu và hồn thành
luận văn.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cơ trong khoa Ngữ văn, khoa Sau đại
học trường ĐHSP Thái Ngun đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên em trong q
trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn BGH trường THPT n Lập
(huyện n Lập, tỉnh Phú Thọ), những người thân trong gia đình, bạn bè đã
giúp đỡ, tạo điều kiện cho tơi trong suốt thời gian qua.
Thái Ngun, ngày…tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn:
Bùi Thị Thanh Tâm
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5. Phương pháp nghiên cứu 13
6. Đóng góp của luận văn 14
7. Cấu trúc của đề tài 14
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1. Cơ sở lí luận 15
1.1.1. Dạy học tự học 15
1.1.2. Truyện Kiều và những điểm cần lưu ý khi dạy học Truyện Kiều 34
1.2. Cơ sở thực tiễn 39
1.2.1. Những thuận lợi và khó khăn khi hướng dẫn học sinh tự học các
đoạn trích Truyện Kiều 39
1.2.2. Khảo sát thực trạng dạy học các đoạn trích Truyện Kiều trong
chương trình Ngữ văn 10 ở trường trung học phổ thơng 41
Chương 2. HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC CÁC ĐOẠN TRÍCH
TRUYỆN KIỀU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 60
2.1. Giới thiệu khái qt các đoạn trích Truyện Kiều trong chương trình
Ngữ văn 10 (hiện hành) 60
2.1.1. Đoạn trích Trao dun 60
2.4.1. Về phía giáo viên 90
2.4.2. Về phía học sinh 90
Chương 3. THIẾT KẾ VÀ DẠY THỰC NGHIỆM 92
3.1. Mục đích thực nghiệm 92
3.2. Đối tượng thực nghiệm 92
3.3. Nội dung thực nghiệm 92
3.4. Cách thức thực nghiệm 92
3.5. Bài soạn thực nghiệm Nỗi thương mình (trích Truyện Kiều) của
Nguyễn Du 93
3.5.1. Nội dung bài soạn 93
3.5.2. Thuyết minh thiết kế 107
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> vi
3.6. Kết quả và đánh giá kết quả thực nghiệm 109
3.6.1. Biệp pháp đánh giá 109
3.6.2. Hướng đánh giá 109
3.6.3. Kết quả thực nghiệm và đối chứng 110
học, kĩ thuật, hội nhập và phát triển. Xu thế tồn cầu hóa tạo điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia (tạo cơ hội để tiếp cận xu thế
mới, tri thức mới, những mơ hình giáo dục hiện đại, tranh thủ những nguồn
lực bên ngồi, tạo cơ hội để phát triển giáo dục) nhưng cũng đem lại khơng ít
những khó khăn, thách thức (nguy cơ tụt hậu xa hơn, những khoảng cách kinh
tế, tri thức, giáo dục ngày càng gia tăng). Đối với nước ta, những khó khăn
càng lớn hơn nữa. Việt Nam mới bước vào sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa, nghĩa là phải thực hiện 2 cuộc cách mạng cùng một lúc để từ nền văn
minh nơng nghiệp tiến lên văn minh cơng nghiệp và tiến thẳng đến nền văn
minh trí tuệ. Xuất phát điểm của ta về kinh tế, khoa học và cơng nghệ còn rất
thấp, vốn đầu tư cho sự nghiệp đổi mới còn hạn chế (đầu tư cho giáo dục bình
qn đầu người chỉ mới bằng 1/10 mức trung bình, 1/100 mức cao của thế giới
(2002)). Dân tộc ta phải giải quyết một bài tốn cực kì khó khăn: “Làm thế nào
để tăng tốc độ phát triển nhanh và bền vững từ một đất nước nghèo?”.
Đứng trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ ra phương hướng
phát triển của đất nước. Đó là khơi dậy và phát huy nội lực, trên cơ sở đó thu
hút ngoại lực. Nội lực hàng đầu chính là nội lực ở con người Việt Nam. Định
hướng này đã đặt ra u cầu mới cho Giáo dục. Giáo dục khơng phải đào tạo
ra những con người “thừa hành và thừa hành sáng dạ” như thời kì xã hội
trước mà giáo dục phải hướng tới tạo ra những con người tự chủ, năng động,
sáng tạo, những con người mới của thế kỉ mới.
Luật Giáo dục 2005 đã đưa ra u cầu cụ thể cho giáo dục thời đại.
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> 2
sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng
thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (điều 5 trang 13 - 14).
Trong từng giai đoạn phát triển, Đảng và Nhà nước lại vạch ra những
hướng đi sát thực.
Phân tích tình hình, nhận định những thuận lợi, khó khăn của đất nước,
tích cực hóa hoạt động học tập của người học, làm cho học sinh độc lập suy
nghĩ, kích thích tư duy sáng tạo. Để phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của
người học, có nhiều biện pháp khác nhau, trong đó cốt lõi là hướng dẫn tự
học. Tự học là con đường đúng đắn người HS cần thiết phải đi trong hành
trình tìm kiếm chân lí. Có hình thành và phát triển, bồi dưỡng cho HS năng
lực tự học thì mới đem lại hiệu quả cho Giáo dục Đào tạo. Dạy học hướng
vào việc phát triển năng lực tự học cho HS được coi là chìa khóa vàng để giải
quyết bài tốn nghịch lí giữa sự vơ hạn của lượng thơng tin tri thức và giới
hạn của tuổi học đường.
Đổi mới phương pháp dạy học cần được hiểu một cách đúng đắn, khơng
phải là tăng hoặc giảm một số thủ pháp, biện pháp đã coi là đổi mới. Thực
chất của việc đổi mới phương pháp dạy học là phát triển năng lực tự học cho
HS, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Có như vậy HS
mới nâng cao năng lực tư duy, tìm tòi, khám phá ra những vấn đề mới. Nó
giúp HS hiểu rõ bản chất sự việc một cách sâu sắc nhất. Một người HS tuy có
đủ điều kiện để học tập (thầy giỏi, tài liệu hay, phương tiện hỗ trợ hiện đại…)
vẫn khơng thể thành cơng nếu khơng có nỗ lực tự học, tự giác, sáng tạo. Tự
học là con đường khẳng định, con đường sống, con đường thành đạt cho
những ai có ý chí và khát vọng vươn lên.
1.3. Dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học các đoạn trích Truyện Kiều nói
riêng chưa thốt khỏi guồng quay của lối dạy học truyền thống
Do nhiều ngun nhân mà thực tiễn việc dạy học tự học ở phổ thơng nói
chung còn gặp rất nhiều khó khăn. Đối với dạy học Văn lại càng khó khăn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> 4
hơn nữa. Trong đó khơng thể khơng nói đến việc dạy học các tác phẩm văn
học trung đại. Văn học trung đại với những đặc điểm của nó (lấy văn học dân
gian làm nền tảng, tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo tinh hoa từ văn học Trung
Hoa, Ấn Độ và các nước lân cận). Những khoảng cách văn hóa, khoảng cách
tiếp nhận, sự am hiểu còn hạn chế của GV, đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và
2.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vấn đề tự học đã được các nhà giáo dục nổi tiếng thế giới quan tâm từ rất
lâu dưới các phương diện và góc độ khác nhau như phát huy tính tích cực,
tính độc lập, tính tự giác, tính sáng tạo của người học của các tác giả: Xơcrat
(469 – 399 TCN), người phương Tây, Khổng Tử (511 – 479 TCN), người
phương Đơng.
Xơcrat đã đưa ra quan niệm rất nổi tiếng: Giáo dục phải giúp con người tự
khẳng định chính mình. Từ đó ơng u cầu cần phải để cho người học tự suy
nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người học tự phát hiện thấy sai lầm của mình và tự
khắc phục những sai lầm đó.
Khổng Tử trong q trình dạy học trò ln đề cập đến rèn tính sáng tạo,
tích cực cho người học. Ơng đưa ra u cầu đối với học trò “Cử nhất ngung
bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dã” (Đưa cho 1 góc phải tìm ra được 3
góc còn lại nếu khơng sẽ khơng dạy nữa). Ơng đề cao tinh thần tự học, học
phải đi đơi với hành: “Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi” (Học
mà khơng suy nghĩ thì sự học hẹp hòi, suy nghĩ mà khơng học thì mung lung
bất định).
Hai ơng đã có những tư tưởng tiến bộ, vượt thời đại. Tuy nhiên những tư
tưởng đó chưa phải là phổ biến thời bấy giờ.
Thế kỉ XVII, J.A. Comenxki (1592 – 1670) đề cập đến vấn đề: “Đánh
thức năng lực nhạy cảm, phán đốn của người học”, tìm ra phương pháp cho
GV giảng ít hơn, HS học nhiều hơn. Trên cơ sở đó ơng đề ra một số ngun
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> 6
tắc dạy học nhằm phát huy tính tích cực của HS: Ngun tắc tơn trọng đặc
điểm đối tượng, ngun tắc đi từ cái chung đến cái riêng, ngun tắc đảm bảo
tính trực quan trong dạy học. Những gợi ý của Comenxki là cơ sở để lí luận
dạy học ngày nay xây dựng hệ thống các ngun tắc dạy học: Đảm bảo sự
thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng; Đảm bảo tính vừa sức chung và
tính vừa sức riêng trong dạy học.
Người ta có thể dạy cho người học theo nhiều hình thức khác nhau, tùy theo
điều kiện, hồn cảnh, tính chất đặc thù của mơn học và nội dung u cầu của
bài học. Dù tn theo hình thức nào đều phải thực hiện 3 giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: GV thiết kế bài tập và cung cấp nguồn tài liệu cần thiết
cho bài tập cùng những chỉ dẫn cụ thể cho người học về việc phải làm gì để
hồn thành bài tập.
- Giai đoạn 2: GV tổ chức cho người học tự nghiên cứu, tự làm bài tập
với sự hỗ trợ của những thơng tin có sẵn.
- Giai đoạn 3: GV làm việc với người học trên lớp theo hình thức cá
nhân hay tập thể bằng các cách khác nhau: thảo luận, xêmina, củng cố ơn tập,
xây dựng bài giảng, kiểm tra đánh giá, tự kiểm tra, đánh giá.
Có thể thấy các tác giả đã nhìn nhận tự học ở góc độ mới, tự học như là
một phương pháp để đem lại hiệu quả cao cho dạy học. Vào những năm cuối
thế XX, cuốn Rèn luyện trí tuệ để thành đạt (xuất bản lần đầu tiên tại Pháp,
tháng 8/1994) tuy khơng trực tiếp đề cập đến vấn đề tự học nhưng tác giả ln
đề cao việc GV giúp HS phát huy óc sáng tạo, năng lực tìm tòi, nghiên cứu,
phát hiện vấn đề. Ý kiến tác giả đặt ra được đơng đảo xã hội lúc bấy giờ quan
tâm, đặc biệt là ngành Giáo dục.
Vấn đề tự học còn được đề cập đến trong những hội thảo quốc tế như Hội
thảo quốc tế đón chào thế kỉ XXI (có tên “Kết nối hệ thống tri thức trong một
thế giới học tập”). Hội thảo có sự tham gia của gần 400 nhà giáo dục thuộc
18 quốc gia được tổ chức vào tháng 12/2000 tại Manila (Philippines). Hội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> 8
thảo đã cho thấy mối quan tâm của xã hội đối với giáo dục trong xã hội ngày
nay. Một trong những nội dung chính được bàn luận sơi nổi tại hội thảo này là
các con đường và cách thức dạy học nhằm giúp người học chiếm lĩnh hệ
thống tri thức và tự phát triển cá nhân.
Nhìn chung, qua nghiên cứu các quan điểm, tư tưởng bàn về dạy học và
tự học của các tác giả, chúng tơi nhận thấy: Tự học là vấn đề quan trọng với
mơn Văn. “Hướng dẫn…” đưa ra u cầu dù chuyển biến nội dung hay
phương pháp như thế nào thì cũng đều phải theo hướng phát huy tinh thần chủ
động, sáng tạo của HS trong học tập. Trên tinh thần đó, rất nhiều tài liệu nghiên
cứu chun ngành phương pháp dạy học Văn tiếp tục đi sâu về vấn đề này.
G.S. Phan Trọng Luận trong cuốn Phương pháp dạy học Văn cũng đã
dành một dung lượng khá lớn để bàn về dạy học tự học. Theo ơng “tự học là
chuyện cũ mà mới”, là vấn đề cần được quan tâm hơn nữa. Ơng khẳng định
“tự học là chìa khóa vàng cần được mài sáng thêm trong giai đoạn cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thế kỉ XXI” và “Đề cao tự học trong
bối cảnh hiện nay của đất nước và thế giới đang bước vào thế kỉ XXI là cách
nhìn vừa thực tế vừa có ý nghĩa chiến lược”.
Sau nhiều năm đổi mới dạy học Văn mà chưa thu được hiệu quả như
mong muốn, trong cuốn Nghiên cứu văn học và đổi mới phương pháp dạy
học văn, PGS.TS. Nguyễn Huy Qt đã phân tích những ngun nhân cản trở
việc đổi mới phương pháp dạy học văn. Trong đó ngun nhân thứ nhất được
đề cập đến đó là: Trình độ yếu kém và tinh thần tự học tập của HS chưa cao.
Và vấn đề mấu chốt của đổi mới khơng phải là thay một số bước hoặc một số
thao tác lên lớp một cách gượng ép, thiếu linh hoạt. Vấn đề cốt lõi của đổi
mới phương pháp dạy học Văn là ở chỗ người GV khéo léo, linh hoạt phối
hợp sử dụng các phương pháp để tích cực hóa hoạt động của người học, rèn
luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu cho người học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> 10
Vấn đề tự học còn được đề cập đến trong những tạp chí nghiên cứu giáo
dục. Bài viết của Nguyễn Kỳ “Biến q trình dạy học thành q tự học” (Tạp
chí Nghiên cứu giáo dục số 288 (tháng 3/1996)). Theo ơng “tự học là nội lực
ở người học cho nên xã hội hóa giáo dục cốt lõi là xã hội hóa tự học”.
Gần đây nhất là bài viết của Đặng Thành Hưng có tên “Bản chất và điều
kiện của tự học” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục. Bài viết bàn về vấn đề
tự học. Tác giả phân tích những cách giải thích và biện hộ sai lầm về vấn đề
GS. Đặng Thanh Lê trong Giảng văn Truyện Kiều đã đưa ra hướng phân
tích Truyện Kiều theo cách tiếp cận thi pháp học và ngơn ngữ học. Trong đó
tác giả nêu ra các cách thức để tiến hành như xác lập hệ thống cấu trúc đoạn
trích theo đặc điểm thể loại, vấn đề giới thiệu vị trí đoạn trích. Mặt khác cũng
xác định tính chất của hình tượng nhân vật theo thể loại. Từ đó dẫn đến phân
tích nhân vật theo đặc trưng thi pháp cổ điển, tập trung vào phân tích ngơn
ngữ của tác phẩm. Phần sau tác giả giới thiệu bài phân tích các đoạn trích
giảng được học trong chương trình.
Cuốn Dạy học Truyện Kiều – Những vấn đề cần bàn (Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội năm 2007) của nhà giáo Lê Xn Lít là một cơng trình
cơng phu về dạy học kiệt tác này. Tác giả dựa trên kết quả nghiên cứu nhiều
năm về Truyện Kiều từ đó đưa ra những gợi ý cho việc dạy và học các đoạn
trích Truyện Kiều.
Cùng với các cơng trình nghiên cứu trên, hiện nay cũng đã có rải rác các
bài báo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ quan tâm tìm hiểu việc dạy học các
đoạn trích Truyện Kiều.
- Luận án tiến sĩ giáo dục của Nguyễn Thanh Sơn: Con đường nâng cao
hiệu quả dạy học tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du cho HS phổ thơng
miền núi Hòa Bình, năm 2002.
- Luận văn thạc sĩ giáo dục của Hồng Thị Thanh Mai: Dạy học một số
đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du ở THPT theo hướng lịch sử phát
sinh, năm 2010.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> 12
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thành Long: Hướng dẫn tìm hiểu những
sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du trong các đoạn trích Truyện Kiều ở SGK
Ngữ văn 10, năm 2011.
Các luận văn đã vận dụng một số phương pháp khác nhau để hướng dẫn
HS tìm hiểu các đoạn trích Truyện Kiều. Đây sẽ là những tài liệu bổ ích cho
chúng tơi trong q trình nghiên cứu của mình.
Hoạt động dạy và tự học của GV và HS đối với các đoạn trích Truyện
Kiều ở trường phổ thơng.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phân tích, tổng hợp, khái qt hóa, hệ thống hóa các tài liệu lí luận về tự
học và hướng dẫn tự học. Phát hiện và khai thác những khía cạnh mà các
cơng trình nghiên cứu trước đây đã đề cập tới. Trên cơ sơ đó, chúng tơi xây
dựng những luận điểm, luận cứ cho đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu thực tiễn chúng tơi sử dụng các phương pháp sau đây:
5.2.1. Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát các giờ dạy học các đoạn trích Truyện Kiều ở trường
phổ thơng. Từ đó xem xét thực tế dạy học cũng như thái độ của HS đối với
mỗi bài học. Qua quan sát có được những thơng tin cần thiết để góp phần
hồn thiện đề tài nghiên cứu.
5.2.2. Phương pháp khảo sát
Tiến hành khảo sát bài soạn ở nhà của HS, giáo án của GV, khảo sát tiến
trình dạy học và hiệu quả sau giờ học của các đoạn trích Truyện Kiều. Trên
cơ sở khảo sát chúng tơi đưa ra những luận cứ, luận chứng về thực trạng dạy
học các đoạn trích Truyện Kiều. Từ đó mạnh dạn đề xuất cách giải quyết
mang tính khả thi nhất, phù hợp với tinh thần đổi mới dạy học theo hướng
hiện đại ngày nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> 14
5.2.3. Phương pháp đàm thoại
Trò chuyện với GV và HS về tình hình dạy học các đoạn trích Truyện
Kiều để lấy ý kiến làm luận chứng xác thực cho đề tài.
5.3. Phương pháp thực nghiệm
Ứng dụng những tiền đề lí luận, và xem xét thực trạng dạy học, chúng tơi
tiến hành thiết kế và dạy thực nghiệm bài học đoạn trích Truyện Kiều.
thành nhân và thành danh phần mà quan trọng là nhờ tự học.
Vấn đề tự học ngày nay càng được quan tâm hơn nữa. Lịch sử nhân loại
đã bước sang kỉ ngun mới, kỉ ngun của thơng tin tri thức. Thơng tin và tri
thức được coi là tài sản vơ giá, là quyền lực tối ưu của mỗi quốc gia. Tình
hình đó tác động đến những quan niệm về giáo dục. Giáo dục được xem là
chìa khóa vàng để mỗi người, mỗi quốc gia tiến bước vào tương lai. Là ngành
sản xuất mà lợi nhuận của nó khó có thể đong đếm được. Giáo dục khơng chỉ
có chức năng chuyển tải những kinh nghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước
cho thế hệ sau, mà quan trọng là trang bị cho mỗi người phương pháp học tập,
tìm cách phát triển năng lực nội sinh, phát triển tư duy nội tại, thích ứng với
xã hội học tập thường xun, học tập suốt đời. Để làm được điều đó, tự học
được xem là giải pháp tối ưu nhất. Các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục đặc
biệt quan tâm, đi sâu khai thác vấn đề tự học.
Trước hết cần xem xét khái niệm học:
Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Học tập là một q trình tự điều khiển
tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong và bằng cách đó mà hình
thành cấu trúc tâm lí mới, phát triển nhân cách tồn diện” [41, tr.36].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> 16
Theo Nguyễn Cảnh Tồn thì: “Học tập là một qua trình phát triển nội
tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị
của mình bằng cách thu nhận, xử lí và biến đổi thơng tin từ bên ngồi thành
tri thức bên trong con người mình” [48, tr.64]. Nhưng có hai cách học cơ bản:
“Một là cách học có phần bị động, từ ngồi áp vào như kiểu hình thành phản
xạ cổ điển(Classical conditioning) của Pávlop; Hai là cách học chủ động, tự
bản thân mình tạo nên phản xạ có điều kiện, như kiểu hình thành phản xạ tác
động (Operant conditioning) của B.F. Skiner” [48, tr.112].
Nhìn chung, mặc dù quan niệm về học có chỗ khác nhau nhưng các tác
giả đều thống nhất: Học cốt lõi phải là tự học, học chỉ có hiệu quả khi chủ thể
thực sự chủ động, tích cực tự học. Việc học sẽ trở nên vơ nghĩa nếu bản thân