Hướng dẫn học sinh cách khai thác nghệ thuật ngôn từ qua các đoạn trích giảng truyện kiều trong chương trình ngữ văn 9 - Pdf 44

1. Mở đầu
1.1. Lí do chon đề tài:
“Truyện Kiều” từ khi ra đời đến nay, trải qua thời gian trên một trăm năm
mà vấn đề nghiên cứu phê bình tác phẩm này vẫn chưa bao giờ có thể coi là kết
thúc. Bởi các đóng góp của Nguyễn Du về vấn đề giá trị nhân đạo cũng như về
mặt phản ánh hiện thực qua tác phẩm. Theo Hoài Thanh: “Truyện Kiều là “một
tiếng kêu thương”, “một bản tố cáo”, “một giấc mơ”. “Truyện Kiều là đỉnh cao
của thơ ca cổ điển dân tộc, trong tác phẩm đó, chúng ta có thể rút ra nhiều bài
học kinh nghiệm bổ ích cho việc sáng tạo nghệ thuật ngày nay.”[4]
Văn học là loại hình ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện
biểu hiện đặc thù. Giảng dạy văn học xét đến cùng là giảng dạy ngôn ngữ văn
học. Khi tìm hiểu “Truyện Kiều”, người giáo viên cần đặc biệt chú ý phân tích
ngôn ngữ của truyện. Nhưng với yêu cầu của chương trình phổ thông và một số
tiết quy định, giáo viên không thể tham lam đi vào việc phân tích quá nhiều từ
ngữ mà phải biết chọn lọc. Do đó, khi phân tích, người thầy cần tập trung vào
những từ ngữ có ý nghĩa biểu hiện tính cách nhân vật cũng như chủ đề cơ bản
của tác phẩm với giá trị nghệ thuật tối ưu. Chính vì vậy, việc tìm hiểu giá trị của
các từ ngữ trong “Truyện Kiều” ngày càng có những điều mới mẻ, giúp ta nâng
cao được trình độ cảm thụ từ ngữ, cảm thụ tác phẩm cho học sinh.
Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục và đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong
hoạt động học tập cùng với những băn khoăn, trăn trở qua nhiều năm dạy văn,
với mong muốn học sinh có sự rung động tinh tế, lâu bền với các tác phẩm văn
học thông qua việc cảm thụ các từ ngữ “đắt” trong tác phẩm đã thôi thúc tôi
quyết định chọn đề tài : “Hướng dẫn học sinh cách khai thác nghệ thuật ngôn
từ qua các đoạn trích giảng “Truyện Kiều” trong chương trình ngữ văn 9” cho
sáng kiến kinh nghiệm của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Trong trường phổ thông trung học cơ sở hiện nay, học sinh nói chung và
học sinh lớp 9 nói riêng, trình độ cảm thụ văn học chưa cao. Các em chưa trang
bị được cho mình vốn sống, vốn văn hoá, sử dụng từ ngữ trong nghệ thuật diễn

là “người nghệ sĩ ngôn từ”[5]- như Mac-xim Gooc-ki đã khẳng định: Từ là yếu
tố quan trọng nhất của văn học. Các yếu tố ngữ âm chỉ có mặt hình thức , nếu
không thông qua nghĩa của từ, của câu thì tác dụng gợi ý, gợi cảm sẽ hết sức hạn
chế. Do góp phần đắc lực vào việc xây dựng hình tượng văn học, ngôn ngữ phải
biểu hiện thành những hình tượng ngôn từ.
Trong các tác phẩm văn học thì từ chính là chất liệu, phương tiện để xây
dựng nên những hình tượng nghệ thuật. “Thiên tài ở chỗ dùng từ xác đáng”[2]nói như vậy, Để có được những tác phẩm để đời, người nghệ sĩ đã phải khổ công
lao động vất vả. Nguyễn Tuân- người được xem là bậc thầy của nghệ thuật ngôn
từ cũng đã từng nói rất hay, rất thấm thía về cái khổ công của người luyện chữ
ấy: “Đêm thanh vắng còn gì dễ sợ bằng trang giấy cứ trắng nguyên cho tới gần
hết đêm…Thấy nguyền rủa bè lũ hình tượng chữ nghĩa nó cứ bè nhau từ giã
mình, mình bỗng chốc là kẻ cùng đường bên sông chữ quạnh vắng thê lương”.
Như vậy, qua ngôn từ, ta cảm được “cái tâm”, “cái tài” của nhà văn trước hiện
thực cuộc sống. Vậy lẽ nào ta không khai thác, tìm hiểu nó mà chỉ hiểu cái nghĩa
“tường minh” chờn vờn bên ngoài còn xem nhẹ cái nghĩa “hàm ý” sâu xa để rồi
học tác phẩm mà học sinh lại chẳng hiểu tác phẩm nói gì hay sao?
Trên cơ sở đó, giáo viên xác lập cho học sinh cách khai thác nghệ thuật
ngôn từ qua các đoạn trích giảng “Truyện Kiều” trong chương trình Ngữ văn 9.
2.2. Cơ sở thực tiễn
Trong chương trình ngữ văn 9, các em được tiếp xúc với nhiều tác phẩm
văn học cổ. Vì vậy, việc rèn luyện để học sinh cảm nhận được giá trị nghệ thuật
của các từ ngữ trong các tác phẩm là rất cần thiết và quan trọng. Chính vì lẽ đó,
ở đề tài này tôi xin đề cập đến một vài biện pháp giúp học sinh cảm thụ được
giá trị một số từ ngữ nghệ thuật trong “Truyện Kiều”. Từ đó, học sinh có thể tự
mình phân tích tác phẩm để thấy rõ giá trị và hạn chế của tác phẩm đó.

2


2.3. Thực trạng vấn đề nghiên cứu

sinh những hứng thú, say mê học môn văn hơn. Khi đó học sinh sẽ không còn
thụ động tiếp nhận những kiến thức thầy cô truyền đạt lại mà bị cuốn hút vào
những hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và hướng dẫn. Từ đó học sinh sẽ
chủ động tham gia vào quá trình nhận thức và có những ý kiến cá nhân của mình
về các vấn đề được đặt ra trong tác phẩm, các em sẽ tự mình khám phá những
chân trời kiến thức mới.
Chính vì vậy, trong đề tài này tôi mạnh dạn đưa ra một vài biện pháp
giúp học sinh cảm thụ giá trị của một số từ ngữ nghệ thuật qua các đoạn
trích giảng “Truyện Kiều” trong chương trình Ngữ văn 9.
3


2.4.1. Trau dồi vốn hiểu biết cho học sinh:
*Xét về mặt trang bị “vốn”, phần trang bị vốn thứ nhất (vốn sống, vốn văn hóa)
trong văn học cho học sinh nói chung và học sinh lớp 9 nói riêng là trang bị tri
thức văn hóa…
Như chúng ta đã biết, mỗi tác phẩm đều ra đời trong những hoàn cảnh
nhất định một đi không trở lại. Vì vậy để học sinh nắm được các từ ngữ trong
“Truyện Kiều” một cách chính xác và đầy đủ nhất, giáo viên cần giúp các em
hiểu rõ hơn thời đại tác giả Nguyễn Du sống, biến cố lịch sử nào ảnh hưởng đến
cuộc đời ông từ đó ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác thơ văn của tác giả ra sao?
Cụ thể:
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu về thời đại Nguyễn Du sống (cuối thế
kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX):
+ Xét trên bình diện hệ thống các sự kiện, bức tranh toàn cảnh của xã hội Việt
Nam thời Lê Mạc, Nguyễn Sở đầy rẫy những bất ngờ. Tính chất và quy mô của
những xung đột không thể dung hòa. Giai cấp phong kiến tham bạo, tranh bá Đế
vương, chém giết tàn bạo lẫn nhau. Cuộc đối đầu giữa hai dòng họ: Trịnh ở Đàng
Ngoài và Nguyễn ở Đàng Trong kéo dài hơn hai thế kỷ có lúc gây ra cái họa
“nồi da nấu thịt, cốt nhục tương tàn”[1]

năm 1820. Tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền,
huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
+ Ông sinh ra trong một gia đại đình quý tộc, một dòng họ nổi tiếng về tước
vị và văn chương. Cha và anh Nguyễn Du đều làm đến chức Tể tướng thời Hậu
Lê. Dòng họ của Nguyễn Du có nhiều người làm văn viết sách.
+ Tuy xuất thân trong một gia đình đại quý tộc nhưng do biến động xã hội,
gia đình này cũng thăng trầm sa sút. Bản thân Nguyễn Du 10 tuổi đã mồ côi
cha, 12 tuổi mồ côi mẹ, Nguyễn Du phải sống với anh là Nguyễn Khản nên
cuộc đời ông đã trải qua những năm tháng gian truân, trôi dạt, vất vả, long
đong. Do đó vốn sống của nhà thơ trở nên phong phú, rất có ích cho sáng tác
văn học.
+ Tâm trạng của Nguyễn Du rất phức tạp, ông muốn “phù Lê chống Tây Sơn
nhưng không thành. Năm 1776, ông có ý định vào Nam giúp Nguyễn Ánh
nhưng bị bắt giam ba tháng rồi được tha. Sau ông có ra làm quan dưới triều
Nguyễn (thời Gia Long) nhưng tâm trạng luôn u uất “Rụt rè sợ hãi, chỉ vâng
vâng dạ dạ cho qua chuyện” (lời của Gia Long quở trách Nguyễn Du).
Ông đã từng làm quan giám khảo trường thi Hương, từng đi xứ sang
Trung Quốc. Vào ngày 10 tháng 8 năm 1820, ông đột ngột mất trong một nạn
dịch ghê gớm chết hàng vạn người. Trải qua “bao cuộc bể dâu”, tiếp xúc với
những cảnh đời bi thảm trong cuộc sống và qua sách vở, Nguyễn Du chỉ giữ lại
cho mình một trái tim yêu thương vô hạn đối với con người và cuộc sống.
- Về xuất xứ lai lịch của Truyện Kiều:
+ Nguyễn Du viết truyện Kiều vào đầu thế kỷ XIX (1805 -1809) dựa vào tiểu
thuyết Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc.
+ Truyện Kiều là tên thường gọi căn cứ vào hình tượng của nhân vật trung
tâm. Còn ý đồ sáng tác của Nguyễn Du có lẽ gửi vào tên gốc ban đầu “Đoạn
trường Tân Thanh” ( tiếng nói mới về nỗi đau như đứt từng khúc ruột).
Giúp học sinh nắm được hoàn cảnh ra đời của “Truyện Kiều” là bước đầu
người giáo viên giúp em hiểu được ý tình của tập truyện Nôm này và các em
cũng thấy được tài năng sáng tạo kiệt xuất của Nguyễn Du. Từ một cuốn tiểu

bất ngờ, cành lê như đem vào màu trắng, màu sắc của sự tinh khôi bằng bàn tay
vô hình của tạo hóa. Nó đang chăm chút tô điểm, không cầu kì trau chuốt mà
rất ý nhị. “ Điểm” ở đây là điểm xuyết, nghĩa là thêm vào, chỉ một chút thôi mà
gương mặt của cành lê không còn là chính nó. “ Trắng điểm” và “ điểm trắng”
chỉ hơn nhau một sự lung linh nho nhỏ mà đã là hai thế giới rất xa nhau. Đọc
hai câu thơ tuyệt bút của Nguyễn Du : “ Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê
trắng điểm một vài bông hoa”, tuy không tả mặt biển mà ta cứ như dập dờn,
say giữa những con sóng đung đưa cỏ xanh hoa trắng. Mùa xuân đối với một
năm giống như bông hoa phong nhụy mơ màng, ấp ủ biết bao, hy vọng biết
bao, nó là một nụ cười chúm chím, một thứ “ hương thầm”.
Hay trong đoạn trích “ Cảnh ngày xuân”, với ngôn ngữ giàu chất tạo hình,
Nguyễn Du đã tái hiện cảnh lễ hội trong tiết thanh minh và hoạt cảnh du xuân
bằng một loạt từ ghép là danh từ (yến anh, chị em, tài tử, giai nhân), động từ
(sắm sửa, dập dìu), tính từ (gần xa, nô nức) và cách nói ẩn dụ “ nô nức yến
anh”…làm hiện lên trước mắt người đọc động thái tâm trạng của những đoàn
người nhộn nhịp đi chơi xuân như chim én chim oanh bay ríu rít, những người đi
quét tước, sửa sang phần mộ, viếng mộ người thân.
Trong đoạn trích này, giáo viên cũng cần chú ý đến hệ thống từ láy mà tác
giả sử dụng để phân tích cho học sinh thấy rõ. Những từ láy “ tà ta”, “ thanh
thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng
con người. Đặc biệt, hai chữ “ nao nao” đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật,
diễn tả sự xúc động đến rưng rưng “ Thiệt lòng mình cũng nao nao lòng người”
(Truyện Kiều). Cảm giác bâng khuâng xao xuyến về một ngày vui xuân đang
còn mà sự linh cảm về điều sắp xảy ra đã xuất hiện. Dòng nước uốn quanh “ nao
nao” như báo trước ngay sau lúc này thôi Thúy Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên,
sẽ gặp chàng thư sinh “ phong tư tài mạo tót vời” Kim Trọng. Bi kịch và hạnh
phúc cùng đến với Thúy Kiều ở buổi “ thanh minh trong tiết tháng ba”.
Trong đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích”, giáo viên cần chỉ rõ cho học
sinh thấy dụng ý dùng từ của Nguyễn Du. Hai chữ ” khóa xuân” cho thấy nàng
Kiều đang bị giam lỏng. Chữ “ xuân” mang nhiều hàm nghĩa : nói về Thúy

chọn từ ngữ mà tập trung phân tích để từ đó có khả năng gây hứng thú, rung
cảm đối với học sinh và đồng thời cũng tác động tới sự lĩnh hội nhận thức của
các em.
Ngoài ra, người giáo viên cũng cần chú ý giúp học sinh có những hiểu
biết nhất định về các ước lệ nghệ thuật ngôn ngữ, nghệ thuật văn học.
Chẳng hạn : Để gợi tả vẻ đẹp của Kiều, Nguyễn Du sử dụng rất nhiều
hình tượng nghệ thuật ước lệ. Hình ảnh ước lệ “ làn thu thủy” - làn nước mùa
thu dợn sóng – gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh,
linh hoạt. Còn hình ảnh ước lệ “ nét xuân sơn” - nét núi mùa xuân xanh tươi –
lại vẽ lên đôi lông mày thanh tú trên gương mặt trẻ trung. Thực ra, bút pháp ước
lệ nghiêng về nghệ thuật gợi, tác động tới người đọc thông qua sự phán đoán, trí
tưởng tượng chứ không miêu tả cụ thể, tỉ mỉ. Bên cạnh đó, Nguyễn Du còn sử
dụng ý thơ cổ : “ Một hai nghiêng nước nghiêng thành” (Thơ của Lí Diên Niên
đời Hán : “ Nhất cố khuynh nhân thành – Tái cố khuynh nhân quốc”) nhưng bức
chân dung Thúy Kiều không vì thế mà bị khuôn vào công thức, sáo mòn. Bởi lẽ,
những danh từ “ làn, nét”, những động từ “ ghen, hờn”, những tính từ “ thắm,
xanh” và lối tiểu đối đã tạo ra những đường nét đậm đà màu sắc khiến người đọc
có thể hình dung môt dung nhan rực rỡ và có hồn.
Qua giờ văn học, người giáo viên còn cần giúp các em cảm nhận được tác
dụng của các thành ngữ được sử dụng trong tác phẩm.
7


Trong “ Truyện Kiều”, Nguyễn Du sử dụng thành ngữ “ kiến bò miệng
chén” rất nhuần nhụy – bởi đưa nó vào thành thơ lục bát :
“ Lo gì việc ấy mà lo
Kiến trong miệng chén còn bò đi đâu”
Người đọc thấy thật tự nhiên mà cảm nhận ý của câu thơ vẫn thật hàm
súc, gợi cảm.
Trong đoạn trích “ Kiểu ở lầu Ngưng Bích”, để khắc họa tâm trạng Thúy

thành và sâu sắc về giá trị các bình diện nào đó của tác phẩm hoặc tác giả. Ngọn
nguồn của lời bình bao giờ cũng là sự đồng cảm. Tiếng nói của người bình là
tiếng nói tri ân. Chính vì vậy, bình giúp học sinh cảm thụ văn bản bằng lời lẽ
nghệ thuật. Từ đó học sinh trực tiếp cảm thụ và rung cảm đến mức sâu sắc.
Khi dạy tiết 32 và 33 “ Kiều ở lầu Ngưng Bích”, tôi đã chuẩn bị lời bình
về tám câu thơ cuối của đọan trích. Tôi nhận thấy học sinh trong lớp lắng nghe
một cách chăm chú và mê say. Phải mất vài giây sau khi kết thúc lời bình thầy
8


trò mới chuyển sang được nội dung khác của tiết dạy. Lời bình đó là : “ Tám
câu thơ dựng lên bốn bức tranh buồn được bắt đầu bằng hai tiếng “ buồn
trông”. Đây là một trong những đoạn tả cảnh ngụ tình thành công nhất trong
“ Truyện Kiều”. Nhưng cái hay của đoạn thơ là ở bút lực của thiên tài Nguyễn
Du tạo nên nhiều tầng ý nghĩa phong phú. Cánh buồn thấp thoáng nơi cửa bể
chiều hôm gợi lên một cảnh đời lưu lạc, một nỗi nhớ nhà, cô đơn. Cánh “ hoa
trôi man mác” giữa “ ngọn nước mới sa” cũng là tâm trạng và số phận vô định
của Thúy Kiều. “ Nội cỏ dầu dầu” giữa “ chân mây mặt đất” vô cùng rộng lớn
xa xăm hay chính là tâm trạng bi thương, tương lai mờ mịt của nàng Kiều. Và
thiên nhiên dữ dội “ gió cuốn mặt duềnh”, “ ầm ầm tiếng sóng” như nói lên
tâm trạng hãi hùng và cuộc sống đầy đe dọa bao quanh nàng…Phải chăng đó
cũng là lời dự báo về quãng đời tủi nhục, cơ cực mà nàng sẽ phải trải qua trong
mười lăm năm lưu lạc”.
2.4.3. Bài giảng minh họa :
Tiết 28 : Chị em Thúy Kiều
(Trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du).
Đây là một giáo án mẫu mà tôi đã soạn và thực hiện việc đổi mới theo
cách khai thác nghệ thuật ngôn từ nhằm tạo nên sự hứng thú trong việc Đọc –
Hiểu – Cảm văn của học sinh.
Trọng tâm của tiết dạy : Ngoài việc giúp học sinh cảm nhận được bức



TIẾT 28: CHỊ EM THÚY KIỀU
(Trích “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du)
A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT:
Thấy được tài năng, tấm lòng của thi hào dân tộc Nguyễn Du qua một đoạn
trích trong “ Truyện Kiều”.
*Trọng tâm :
1. Kiến thức :
- Bút pháp nghệ thuật tượng trưng, ước lệ của Nguyễn Du trong miêu tả nhân
vật.
- Cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du : ngợi ca vẻ đẹp, tài năng của con người
qua một đoạn trích cụ thể.
2. Kĩ năng :
- Đọc – hiểu một văn bản truyện thơ trong văn học trung đại.
- Theo dõi diến biến sự việc trong tác phẩm truyện.
- Phân tích được một số chi tiết nghệ thuật tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật cổ
điển của Nguyễn Du trong văn bản.
3. Thái độ: Học sinh có ý thức biết cách khai thác nghệ thuật ngôn từ trong
đoạn trích.
B. CHUẨN BỊ:
Giáo viên:
- Soạn giáo án.
- Văn bản “ Truyện Kiều”.
- Tài liệu về nghệ thuật “ Truyện Kiều”.
- Máy Projector.
Học sinh :
- Nắm kỹ phần giá trị “ Truyện Kiều”, đặc biệt là giá trị nghệ thuật.
- Soạn bài “ Chị em Thúy Kiều”.
- Tài liệu tham khảo về tác phẩm.

tiếp.
Nhận xét cách đọc.
Giáo viên chọn 1 hoặc 2
chú thích để giải nghĩa.
( ?) Theo em, đoạn trích có
thể chia bố cục như thế
này ?
Ý chính của từng phần
trong bố cục đó ?
Còn cách chia nào khác ? →Giáo viên thống nhất bố
cục.

(?) Để tả (kể) về hai chị
em, tác giả đã dùng những
hình ảnh nào?
(?) Vậy em hiểu “ả tố nga”
là gì?

+ Học sinh đọc
văn bản

2.Đọc, giải thích từ khó.
*Cách đọc:
Giọng vui tươi, trân
trọng, trong sáng.
*Giải thích từ khó
(Sách giáo khoa).

+ Học sinh trả
lời theo sựchuẩn bị bài ở

nghĩ, phân tích
*Giáo viên gợi mở và giải và trả lời
thích
“Ước”: Quy ước.
“Lệ”: đẹp
“Ước lệ”: Quy ước chung
cái đẹp.
Vậy ước lệ bằng cách nào?
Học sinh giải
(Tìm hiểu “Mai cốt cách, thích theo chú
tuyết tinh thần” như thế giải SGK.
nào?)
(Vóc
dáng
thanh cao, tâm
hồn
trong
* Giáo viên giải thích: trắng).
“Mai”: một trong bốn loài

Ước lệ, tượng trưng (Đặc
điểm nổi bật của văn thơ
trung đại).

Dùng ẩn dụ, nhân hóa (Lấy
vẻ đẹp của thiên nhiên làm
chuẩn mực).
11



được vẻ đẹp của Thúy Vân
không?
*Giáo viên:
Tại sao Nguyễn Du
dùng từ “thốt” mà không
dùng từ “nói”? đây là tín
hiệu nghệ thuật mà tác giả
đã lựa chọn kỹ phù hợp với
vẻ đẹp của Thúy Vân cho ta

+ Học sinh
thảo luận
nhóm nhỏ (hai học sinh) rồi phát biểu.
- Thành ngữ: “Mười phân vẹn
mười”
→ Khẳng định vẻ đẹp tao
nhã, gợi cảm và hoàn mĩ
của Thúy Vân, Thúy Kiều.
2. Vẻ đẹp riêng của Thúy
Vân – Thúy Kiều
a. Chân dung Thúy Vân:

+Học
sinh
phát hiện từ
ngữ
(Trangtrọng, khuôntrăng đầy đặn,nét ngài nở
nang,
cười,thua,
thốt,- - Từ ngữ: “Trang trọng khác

Trăng, hoa,
cười, tiếng

12


cảm nhận cử chỉ e lệ, duyên
dáng của nàng. Khi nàng
cất tiếng nói thì mọi người
xung quanh đều muốn lắng
nghe bởi nàng nói đấy mà
như “ngọc nói”. Đó chính
là tài của ông khi sử dụng
từ.

(?) Cảm nhận của em về
chân dung Thúy Vân? Qua
đó gợi cho em nhớ tới
những tiêu chuẩn nào của
xã hội phong kiến khi đánh
giá về vẻ đẹp của người
phụ nữ chuẩn mức? Dự
cảm của em về cuộc đời
của Thúy Vân sau này?

trắng
tuyết).

hơn


Thúy Vân như vậy, còn
Thúy Kiều thì sao? Chúng
ta cùng tìm hiểu.

?) Miêu tả Thúy Kiều, tác
giả miêu tả những nét nào?
Từ ngữ nào trong hai câu
thơ đầu của phần này đã
cho ta cảm nhận được vẻ
đẹp của Thúy Kiều khác
hẳn Thúy Vân?

ngọc, mây,
tuyết
+ Nhân
hóa: Thua,
nhường
→ Ước lệ
theo hướng
cụ thể, chi
tiết.

Học sinh nêu
cảm nhận
riêng: người
phụ nữ chuẩn
mực trong xã
hội phong
kiến:
Công – dung –

lại là phần
hơn”.

*Nhan sắc:

* Giáo viên bình nâng cao:
Bút pháp ước lệ, tượng
Ở đây, Nguyễn Du tả
trưng:
chấm phá theo kiểu điểm
- “ Làn thu thuỷ, nét xuân
nhấn cốt để nêu bật cái
sơn”
“thần” của vẻ đẹp Thúy + Học sinh
( Đôi mắt trong như nước
Kiều. Bởi đôi mắt là cửa sổ thảo luận
mùa thu, nét lông mày tựa
tâm hồn. Đôi mắt của Kiều nhóm(2hs) và
dáng núi mùa xuân): một
là đôi mắt biết nói.
trả lời:
đôi mắt có hồn, một đôi
Qua đôi mắt ta có thể thấy “Làn thu thủy, mắt đa sầu, đa cảm.
vẻ đẹp tâm hồn của nàng. nét xuân sơn
Hoa ghen thua
Tất cả những tinh anh đều
Kiêu sa.
thắm, liễu hờn Vẻ đẹp
gửi vào đôi mắt.
kém xanh”.

một lần thì làm nghiêng
* Tài hoa:
+Học
sinh
thành người. Ngoảnh lại
- Trí tuệ: Trời phú
phân
tích,
nêu
nhìn một lần nữa thì làm
- Sự kết hợp đa tài qua phép
nhận
xét.
nghiêng nước người. Nó
liệt kê và hệ thống từ ngữ
gợi cho ta liên tưởng đến
chỉ mức độ tuyệt đối.
cái liếc mắt của Điêu
Tài:
Mức độ:
Thuyền; một chút nũng nịu
+ Thi-họa- +Pha nghề+
Học
sinh
trả
của Dương Quí Phi.....
ca-ngâm.
đủ mùi-lầulời.
Những người đã làm đổ
(Thơ-vẽnghề riêng14

(?) Cảm nhận của em về
bức chân dung của Thúy
Kiều? Qua đó, em có dự cảm
gì về cuộc đời của nàng?
* Giáo viên liên hệ:
Ca dao xưa có câu:

+ Học sinh tự
cảm nhận.
+ Học sinh trả
lời.
+Học sinh nêu
nhận xét

hát-đánh
ăn đứt.
đàn).
+Soạn nhạc +Tự tay
“Thiên bạc “lựa”.
mênh”.
→ Tài hoa tuyệt đỉnh.
(Tự tay lựa một khúc nhạc
sầu thương, bi thảm→ Như
một định mệnh).

+ Học sinh tự
cảm thụ.
+ Học sinh
thảo
luận

em:
- Gia phong, nền nếp.
- Êm đềm, bình lặng.
→ Có đức hạnh.
15


(?) Qua việc tìm hiểu, phân
tích trên, em có nhận xét gì
về nghệ thuật tả người của
Nguyễn Du?
(?) Qua đoạn trích, em thấy
thái độ của tác giả thể hiện
như thế nào?
* Giáo viên có thể giải
thích và so sánh:
- Cảm hứng “nhân văn”:
Biểu hiện cái đẹp (sự trân
trọng, nâng niu).
- Cảm hứng “nhân đạo”:
lòng yêu thương con người.
- Giá trị “nhân bản”: mang
đậm tính dân tộc.
* Bài tập 1.
Ta thấy thúy Kiều là nhân
vật chính của tác phẩm lại
là chị của Thúy Vân, tại sao
tác giả tả Vân trước?
Có ý kiến cho rằng đó là
nghệ thuật đòn bẩy. Em có

bật Kiều) - điều này đúng.
Song có lẽ coi việc tả theo
thứ tự ấy là một sự chuyển
tiếp nghệ thuật thì hợp lí
hơn chăng? Như thế sẽ cảm
thấy Vân không bị “xúc
phạm” vì mình chỉ là “nền”
làm Kiều nổi bật.
* Bài tập 2.
Mục đích để so sánh điểm
giống và khác nhau về cách
xây dựng nhân vật của
Nguyễn Du với Thanh Tâm
Tài Nhân.
Định hướng:
- Giống: Về nội dung (Xây
dựng chân dung hai chị em
Thúy Kiều).
- Khác:
Nguyễn Du
Thanh Tâm
Tài Nhân
+ Thơ trữ +Văn xuôi.
tình.
16


+ Phương
thức: Tả....


đã phần nào hé mở phẩm cách của Thúy Vân. Nàng là con nhà “phong lưu”
nên luôn chứa ẩn nét e dè, duyên dáng, mỗi lời Thúy Vân nói ra ta cảm giác như
là đều đã được suy nghĩ, cân nhắc cẩn thận nên nó không chỉ đúng, không chỉ
hay mà còn quí giá như ngọc như ngà. Thế mới thấy cái tinh tế, kỹ càng của
Nguyễn Du trong việc dùng từ. Quả không hổ danh bậc thầy ngôn ngữ [3].
Hay như em Lê Thị Lan Anh lớp 9A cũng đã có những cảm nhận khá
sâu sắc về vẻ đẹp của Thúy Kiều:
“Chị em Thúy Kiều” là đoạn trích nằm trong phần mở đầu Truyền Kiều
của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Qua đoạn trích, người đọc cảm nhận được
vẻ đẹp tài hoa của nang Kiều. Bút lực của ông đã dành cho nhân vật Thúy
Kiều một sự ưu ái. Nếu qua những câu thơ trước, ta đã tưởng rằng Vân là
“tuyệt thế giai nhân” thì đến với Thúy Kiều, nhan sắc tuyệt mỹ ấy bỗng trở nên
17


mờ nhạt, chỉ với phông nền làm nổi bật vẻ đẹp lộng lẫy nhất từ trước tới nay.
Và việc miêu tả Vân trước, Kiều sau cũng là cả một dụng ý nghệ thuật, nhà thơ
muốn vận dụng thủ pháp “đòn bẩy” để làm nổi bật lên tấm chân dung nàng
Kiều muôn phần rực rỡ:
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Nếu tả ThúyVân nhà thơ tập trung vào gợi hình để cho độc giả có thể
hình dung ra nàng rõ nét nhất thì đến Kiều chỉ còn là gợi vẻ. Nguyễn Du muốn
gợi tả, muốn khơi gợi hết tất cả những thần thái ẩn sâu dưới nhan sắc của
người con gái tuyệt trần kia và nét đẹp ông đã chọn để gửi gắm tất cả những
“lời vàng ý ngọc” của mình chính là đôi mắt: “Làn thu thủy, nét xuân sơn” kiều diễm vô cùng!
Chắc hẳn mỗi chúng ta không ai có thể bắt con tim của mình ngừng xao
xuyến nếu một lần nhìn sâu vào đôi mắt ấy, nó trong sáng như làn nước mùa thu

9B (28học
sinh)

Điểm dưới
TB
SL
%
6

16.2

Điểm TB

Điểm khá

SL

%

SL

%

21

56.8

8

21.6

12

37.5

12

37.5

7

21.9

2

7.1

14

50.0

8

28.
6

4

14.3

Kết quả chưa

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác

Bùi Văn Trung

19


M ỤC L ỤC
Trang
1. Mở đầu ……………………………………………….....................1
1.1.Lý do chọn đề tài ………………………….……………………..1
1.2.Mục đích nghiên cứu…………………………….…………….....1
1.3.Đối tượng nghiên cứu - khảo sát, thực nghiệm…………………..1
1.4..Phương pháp nghiên cứu………………………………………...2
1.5..Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu…………………………….…..2
2. Nội dung………………………………………………….................2
2.1.Cơ sở lý luận…………………………………………………… ..2
2.2.Cơ sở thực tiễn................................................................................2
2.3.Thực trạng vấn đề nghiên cứu………………………………….....3
2.3.1.Chương trình học……………………………………………......3
2.3.2.Đối tượng môn học …………………………………………......3
2.3.3.Đặc điểm tình hình địa phương …………………………….......3
2.4.Biện pháp thực hiện ………………………………………..............3
2.4.1.Trau dồi vốn hiểu biết cho học sinh ………………………........4
2.4.2.Bối dưỡng năng lực cảm thụ giá trị từ ngữ nghệ thuật cho
học sinh ……………………...........................................................8
2.4.3.Bài giảng minh hoạ ………………………………………..........9
2.5.Kết quả thực hiện …………………………………………............17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status